0234 3828125 | Tphue@nso.gov.vn

Tình hình kinh tế xã hội tháng 9 và 9 tháng đầu năm 2025

07/10/2025 16:07

Kinh tế - xã hội trên địa bàn thành phố 9 tháng đầu năm diễn ra trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới và khu vực diễn biến phức tạp, khó lường; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt; căng thẳng thương mại, xung đột quân sự và bất ổn chính trị tại nhiều quốc gia, khu vực tiếp tục kéo dài. Thị trường tài chính, tiền tệ biến động mạnh, ảnh hưởng đến triển vọng tăng trưởng toàn cầu; thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu diễn ra trên diện rộng, gây hậu quả nặng nề. Dù tiềm ẩn nhiều rủi ro, song sự phục hồi của dịch vụ, du lịch cùng xu hướng đầu tư vào công nghệ mới vẫn tạo điểm sáng cho tăng trưởng. Trong nước, bộ máy quản lý được kiện toàn theo hướng tinh gọn, hiệu quả, chính quyền địa phương hai cấp triển khai từ ngày 01/7/2025 đã góp phần nâng cao chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp. Nhờ đó, kinh tế duy trì đà tăng trưởng, với đóng góp chủ lực từ công nghiệp, xây dựng và dịch vụ; xuất nhập khẩu và đầu tư nước ngoài tiếp tục khởi sắc, lạm phát được kiểm soát, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định. Tuy vậy, những biến động bên ngoài, đặc biệt là chính sách thuế quan mới của các đối tác lớn, giá nguyên vật liệu và bất ổn địa chính trị khu vực có thể tác động đến chuỗi cung ứng và sản xuất trong nước. Trên địa bàn thành phố, dưới sự chỉ đạo kịp thời của Thành ủy, HĐND, UBND cùng sự phối hợp đồng bộ của các cơ quan và đơn vị, kinh tế thành phố tiếp tục ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực, tạo nền tảng quan trọng để hoàn thành các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2025. Kết quả đạt được trên các ngành, lĩnh vực trong 9 tháng đầu năm 2025 như sau: 

1. Tăng trưởng kinh tế

Trong 9 tháng đầu năm 2025, kinh tế thành phố Huế duy trì đà tăng trưởng tích cực với tốc độ tăng GRDP ước đạt 9,06% so với cùng kỳ, nằm trong nhóm địa phương có mức tăng trưởng khá. Trong đó: Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,31%, đóng góp 0,15 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 13,49%, đóng góp 4,18 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 8,43%, đóng góp 4,13 điểm phần trăm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 7,07% so với cùng kỳ năm 2024, đóng góp 0,60 điểm phần trăm trong tăng trưởng kinh tế toàn thành phố.

Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản có mức tăng trưởng thấp 1,31%, đang giữ vai trò nền tảng bảo đảm an ninh lương thực, tạo việc làm cho một bộ phận dân cư nông thôn và duy trì sự cân bằng cho nền kinh tế, trong đó ngành nông nghiệp giảm 0,03% so với cùng kỳ, làm giảm 0,06 điểm phần trăm cho nền kinh tế; ngành lâm nghiệp tăng trưởng khá tăng 6,21%, đóng góp 0,08 điểm phần trăm; ngành thủy sản duy trì phát triển ổn định tăng 3,81%, đóng góp 0,13 điểm phần trăm trong tăng trưởng kinh tế toàn thành phố.

Khu vực công nghiệp - xây dựng tiếp tục khẳng định là động lực tăng trưởng GRDP trong 9 tháng đầu năm của thành phố. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có sự bứt phá mạnh mẽ với mức tăng 10,59%, %, đóng góp 1,91 điểm phần trăm với nhiều sản phẩm đạt mức tăng trưởng ấn tượng như ô tô gấp 6,5 lần, găng tay y tế tăng 15 lần. Kết quả này phản ánh sự mở rộng quy mô sản xuất cũng như khả năng đáp ứng nhu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu. Bên cạnh đó, ngành sản xuất truyền tải và phân phối điện tăng trưởng cao 39,59%, chủ yếu nhờ thời tiết mưa nhiều, lượng nước về các hồ chứa dồi dào, giúp các nhà máy thủy điện vận hành tối đa công suất; Ngành xây dựng cũng duy trì nhịp tăng trưởng cao 13,40%, %, đóng góp 1,11 điểm phần trăm, nhờ nhiều công trình, dự án hạ tầng và đô thị được triển khai, góp phần thay đổi diện mạo đô thị và tạo điều kiện thu hút đầu tư. 

Khu vực dịch vụ tiếp tục tăng trưởng ấn tượng, đặc biệt ở lĩnh vực du lịch, với lượng khách tại các cơ sở lưu trú tăng cao. Đây không chỉ là động lực trực tiếp cho ngành dịch vụ mà còn tạo hiệu ứng lan tỏa tích cực tới nhiều lĩnh vực khác như vận tải, thương mại. Một số ngành dịch vụ trong 9 tháng đầu năm có mức tăng trưởng khá: bán buôn, bán lẻ hàng hoá tăng 9,46% cùng kỳ, đóng góp 0,61 điểm phần trăm; dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng 12,14%, đóng góp 0,78 điểm phần trăm; vận tải kho bãi tăng 12,85%, đóng góp 0,44 điểm phần trăm; nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 8,47%, đóng góp 0,06 điểm phần trăm...  

2. Tài chính, ngân hàng, bảo hiểm

2.1. Tài chính

Lũy kế 9 tháng, tổng thu ngân sách nhà nước ước đạt 10.649 tỷ đồng, bằng 83,5% dự toán, tăng 37,3% so với cùng kỳ; trong đó: Thu nội địa ước đạt 9.452 tỷ đồng, bằng 80,8% dự toán và tăng 34,8% so với cùng kỳ; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu 1.082 tỷ đồng, bằng 103% dự toán, tăng 47,3% so với cùng kỳ; thu viện trợ, huy động đóng góp 115,5 tỷ đồng, gấp 16,8 lần dự toán, tăng 12,2 lần so với cùng kỳ.

Chi ngân sách nhà nước ước đạt 11.950 tỷ đồng, bằng 75,9% dự toán; trong đó: Chi đầu tư phát triển 2.492 tỷ đồng, bằng 57,8% dự toán; chi thường xuyên đạt 9.332 tỷ đồng, bằng 86,7% dự toán.                                 

2.2. Ngân hàng

Thành phố thực hiện tín dụng an toàn, hiệu quả, ưu tiên vốn cho sản xuất kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên và động lực tăng trưởng theo chủ trương của Chính phủ. Chương trình kết nối Ngân hàng - Doanh nghiệp được đẩy mạnh theo Công văn 4315/NHNN-TD ngày 21/5/2024. Đồng thời triển khai gói tín dụng 120 nghìn tỷ đồng theo Nghị quyết 33/NQ-CP nhằm tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển. Tín dụng cho nông nghiệp, nông thôn được triển khai theo đúng Văn bản 3321/NHNN-TD ngày 29/4/2025 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Tổng nguồn vốn huy động đến cuối tháng 9 năm 2025 ước đạt 86,1 nghìn tỷ đồng, tăng 11,46% so với cuối năm 2024; tổng dư nợ tín dụng ước đạt 88,1 nghìn tỷ đồng, tăng 5,85%.

Các tổ chức tín dụng trên địa bàn thành phố tiếp tục tập trung nguồn vốn cho vay vào các lĩnh vực ưu tiên theo định hướng của Chính phủ: tín dụng đối với nông nghiệp nông thôn ước đạt 18.000 tỷ đồng, tăng 7,85% so với cuối năm 2024; tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa ước đạt 14.500 tỷ đồng, tăng 13,87% so với cuối năm 2024; tín dụng đối với xuất khẩu ước đạt 5.900 tỷ đồng, tăng 16,42% so với cuối năm 2024; cho vay công nghiệp hỗ trợ ước đạt 1.900 tỷ đồng, tăng 27,6% so với cuối năm 2024. Trên địa bàn chưa phát sinh có dư nợ cho vay doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao.

2.3. Bảo hiểm

Nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, các doanh nghiệp bảo hiểm tập trung thúc đẩy tăng trưởng toàn diện trên tất cả các kênh bán hàng theo tiêu chí chất lượng, lấy khác biệt trong quản trị và đa dạng hóa kênh phân phối làm lợi thế cạnh tranh. Doanh nghiệp cũng mở rộng các kênh thu phí trực tuyến, linh hoạt gia hạn thời gian đóng phí để hỗ trợ khách hàng ở giai đoạn khó khăn. Ngoài ra, công tác kiểm soát nội bộ và quản trị rủi ro được tăng cường, bảo đảm tuân thủ quy định pháp luật, trong khi chất lượng dịch vụ và quyền lợi khách hàng luôn được đặt lên hàng đầu. 

Với sự quyết tâm của doanh nghiệp, sự đồng hành của cơ quan quản lý và nền tảng vĩ mô ổn định, thị trường bảo hiểm nhân thọ được kỳ vọng tăng trưởng cả về quy mô lẫn chất lượng. Doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường 9 tháng năm 2025 dự kiến đạt mức khá so cùng kỳ, khoản từ 5,0%-6,5% so cùng kỳ.

3. Hoạt động xuất nhập khẩu

Trong 9 tháng đầu năm 2025, doanh nghiệp trên địa bàn thành phố tận dụng tốt các ưu đãi từ các hiệp định thương mại tự do (FTA) và đẩy mạnh cải thiện nội lực để mở rộng xuất khẩu. Đồng thời chủ động khai thác thị trường mới ngoài vùng truyền thống, hoạt động xuất nhập khẩu vẫn giữ được đà ổn định và tăng trưởng tốt. Ước tính tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 2.037 triệu USD, tăng 21,8% so với cùng kỳ.

3.1. Xuất khẩu

Kim ngạch xuất khẩu (KNXK) hàng hóa trong 9 tháng đầu năm 2025 ước đạt 1.130 triệu USD tăng 25,6% so với cùng kỳ năm 2024. Các nhóm hàng xuất khẩu chủ lực của thành phố trong 9 tháng đầu năm 2025:

- Nhóm hàng nông, thuỷ sản: KNXK ước đạt 77,0 triệu USD, tăng 95,8% so với cùng kỳ và chiếm tỷ trọng 6,8%.

- Nhóm hàng công nghiệp chế biến: KNXK ước đạt 820,9 triệu USD, tăng 16,6% so với cùng kỳ và chiếm tỷ trọng 72,7%.

- Nhóm các hàng hóa khác như hương và bột hương, bia, rượu sa kê, hàng thủ công mỹ nghệ, bao bì xi măng,…: KNXK ước đạt 232,1 triệu USD, tăng 48,3% so với cùng kỳ và chiếm tỷ trọng 20,5%.

Thị trường xuất khẩu: Trong 9 tháng đầu năm 2025, doanh nghiệp đã xuất khẩu đến hơn 60 quốc gia và vùng lãnh thổ như Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, ASEAN, các nước Châu Âu,… 

3.2. Nhập khẩu

Dự ước kim ngạch nhập khẩu (KNNK) hàng hóa trong 9 tháng đầu năm 2025 ước đạt 906,9 triệu USD tăng 17,4% so với cùng kỳ năm 2024. Các mặt hàng nhập khẩu tiếp tục phục vụ cho hoạt động sản xuất, xuất khẩu của các doanh nghiệp:

- Nhóm hàng cần nhập khẩu: KNNK ước đạt 461,3 triệu USD, giảm 10,1% so với cùng kỳ và chiếm tỷ trọng 50,9%.

- Nhóm hàng cần kiểm soát nhập khẩu: linh kiện phụ tùng ô tô ước đạt 228,0 triệu USD tăng 100,8% so với cùng kỳ và chiếm tỷ trọng 25,1%.

- Nhóm hàng hóa khác như thạch cao, thép, hóa chất, linh kiện điện tử, nguyên phụ liệu sản xuất bia,...: KNNK ước đạt 217,6 triệu USD, tăng 48,9% so với cùng kỳ và chiếm tỷ trọng 24,0%.

4. Giá cả, lạm phát

- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)

Nhu cầu tiêu dùng hàng ăn và dịch vụ ăn uống của người dân tăng, cùng với đó một số trường cao đẳng, đại học trên địa bàn thực hiện tăng học phí năm học 2025-2026 là nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng của thành phố Huế tháng 9/2025 tăng 0,32% so với tháng trước, tăng 2,34% so với tháng 12 năm 2024, tăng 3,34% so với cùng kỳ năm trước, bình quân 9 tháng năm 2025 so với cùng kỳ năm trước tăng 2,95%.

So với tháng trước, CPI tháng 9/2025 tăng 0,32%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 8 nhóm hàng tăng giá so với tháng trước như: giáo dục tăng 2,82%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,15%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,31%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,43%; bưu chính viễn thông tăng 0,46%; hàng hoá và dịch vụ khác tăng 0,21%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,06%; giao thông tăng 0,48%. Có 01 nhóm có chỉ số giảm là nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,21%. Có 02 nhóm: thuốc và dịch vụ y tế; đồ uống và thuốc lá có chỉ số ổn định so với tháng trước.

Chỉ số giá tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ 9 tháng đầu năm 2025 so với cùng kỳ tăng 2,95%. Các nhóm hàng hóa dịch vụ có chỉ số giá bình quân 9 tháng đầu năm 2025 tăng so cùng kỳ năm trước gồm: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,47%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 7,03%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 14,20%; giáo dục tăng 2,65%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,43%. Riêng nhóm giao thông giảm 2,84%. Các nhóm còn lại có chỉ số giá biến động nhẹ và ổn định so với cùng kỳ.

- Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ 

Chỉ số giá vàng tháng 9/2025 tăng 7,07% so với tháng trước, tăng 39,96% so với tháng 12 năm trước và tăng 49,19% so với cùng kỳ. Bình quân 9 tháng đầu năm 2025 tăng 42,57% so với bình quân cùng kỳ. 

Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 9/2025 tăng 0,19% so với tháng trước, tăng 3,88% so với tháng 12 năm trước và tăng 6,70% so với cùng kỳ. Bình quân 9 tháng đầu năm 2025 tăng 3,89% so với bình quân cùng kỳ.

- Chỉ số giá sản xuất

Chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng nông, lâm nghiệp và thủy sản quý III/2025 tăng 1,71% so với cùng kỳ, trong đó chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng nông nghiệp tăng 0,52%; hàng lâm nghiệp tăng 4,51%; hàng thủy sản tăng 5,22%. Chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng công nghiệp quý III/2025 giảm 2,95% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất sản phẩm khai khoáng tăng 3,89%; sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 3,75%; điện và phân phối điện tăng 2,87%; nước sạch, nước thải tăng 2,79%. Tính chung chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng nông, lâm nghiệp và thủy sản 9 tháng đầu năm nay tăng 3,33% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng nông nghiệp tăng 3,01%; hàng lâm nghiệp tăng 5,30%; hàng thủy sản tăng 3,70%. Chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng công nghiệp 9 tháng 2025 giảm 5,00% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất sản phẩm khai khoáng tăng 2,36%; sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 6,03%; điện và phân phối điện tăng 3,22%; nước sạch, nước thải, xử lý nước thải, rác thải tăng 1,99%.

Chỉ số giá cước vận tải kho bãi quý III/2025 tăng 34,46% so với cùng kỳ. Tính chung chỉ số giá cước vận tải kho bãi 9 tháng năm 2025 tăng 25,31% so với cùng kỳ, chia theo ngành đường: Giá cước vận tải đường bộ và xe buýt tăng 1,41%; đường thủy tăng 3,13%; dịch vụ kho bãi và các dịch vụ hỗ trợ vận tải tăng 1,50%.

Chỉ số giá dịch vụ quý III/2025 tăng 12,15% so với cùng kỳ. Tính chung chỉ số giá dịch vụ 9 tháng năm 2025 tăng 10,77% so với cùng kỳ, trong đó chỉ số giá dịch vụ của một số ngành như sau: Ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 4,70%; thông tin và truyền thông tăng 0,18%; giáo dục và đào tạo tăng 0,96%; y tế và trợ giúp xã hội tăng 21,18%.

- Chỉ số giá xuất, nhập khẩu hàng hóa

Chỉ số giá xuất khẩu hàng hoá quý III/2025 tăng 0,31% so với cùng kỳ. Tính chung chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa 9 tháng năm 2025 tăng 4,46% so với cùng kỳ, trong đó chỉ số giá của một số mặt hàng tăng/giảm so với cùng kỳ như sau: Hàng thủy sản tăng 5,44%; rau quả tăng 20,98%; gạo giảm 8,36%; cà phê tăng 37,83%; hạt tiêu tăng 39,88%; cao su tăng 17,60%; xăng dầu các loại giảm 12,70%; sắt thép giảm 10,00%.

Chỉ số giá nhập khẩu hàng hoá quý III/2025 tăng 0,17% so với cùng kỳ. Tính chung chỉ số giá nhập khẩu hàng hoá 9 tháng năm 2025 tăng 1,02% so với cùng kỳ, trong đó chỉ số giá của một số mặt hàng tăng/giảm so với cùng kỳ như sau: hàng rau quả tăng 17,05%; dầu mỡ động thực vật tăng 12,98%; nguyên phụ liệu dược phẩm tăng 8,60%; cao su nguyên liệu tăng 12,07%; hóa chất tăng 7,81%; lúa mì giảm 6,21%; than đá giảm 18,37%; thức ăn gia súc & nguyên liệu giảm 11,32%; sắt, thép giảm 5,80%.

5. Vốn đầu tư và xây dựng

5.1. Vốn đầu tư

Năm 2025 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là năm cuối thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025. Ngay từ đầu năm, HĐND thành phố Huế đã ban hành Nghị quyết số 121/NQ-HĐND ngày 10/12/2024 và UBND thành phố triển khai phân bổ nhiệm vụ, chương trình, dự án theo Quyết định số 3355/QĐ-UBND ngày 26/12/2024. Trên cơ sở đó, nhiều chương trình, dự án trọng điểm được tập trung chỉ đạo và đạt những kết quả nhất định. Đặc biệt, nhân dịp chào mừng 80 năm Quốc khánh (02/9/1945 - 02/9/2025), thành phố đã khởi công và khánh thành đưa vào sử dụng nhiều công trình quan trọng trên các lĩnh vực kinh tế- xã hội.

Trong quý III/2025, vốn đầu tư thực hiện toàn thành phố ước đạt 11.641 tỷ đồng, tăng 28,3% so với cùng kỳ, đưa tổng vốn đầu tư phát triển toàn thành phố 9 tháng ước đạt 28.118 tỷ đồng, bằng 72,1% kế hoạch năm, tăng 21,4% so với cùng kỳ. Bao gồm:

Vốn nhà nước ước đạt 6.174 tỷ đồng, chiếm 21,9% tổng nguồn vốn, giảm 11,0% so với cùng kỳ. Chia ra:

- Vốn nhà nước do trung ương quản lý 1.631 tỷ đồng, tăng 41,6%. Tiếp tục thực hiện các dự án trụ sở tòa án nhân dân thành phố, Doanh trại Bộ CHQS thành phố và các đơn vị trực thuộc, Bệnh viện Quốc tế giai đoạn 2 thuộc Bệnh viện Trung ương Huế, xây dựng cải tạo Ký túc xá tập trung của sinh viên Đại học Huế, Dự án mới khởi công mở rộng cao tốc Bắc Nam đoạn La Sơn - Hòa Liên chỉnh rộng mặt đường lên 22 m, với tổng mức đầu tư đoạn đi qua thành phố Huế 1.500 tỷ đồng. 

- Vốn nhà nước do địa phương quản lý 4.543 tỷ đồng, giảm 21,5% so với cùng kỳ, nguồn vốn này giảm nhưng vẫn được ưu tiên cho các dự án trọng điểm, tập trung vào những lĩnh vực then chốt như: xây dựng trụ sở làm việc và cơ quan hành chính, phát triển đô thị thông minh, bảo tồn di tích Kinh thành Huế, chỉnh trang hạ tầng đô thị, y tế, giáo dục, an sinh xã hội và cấp nước sạch cho người dân. Trong quý, nhiều dự án đã được khởi công: dự án đường vành đai 3 (giai đoạn 1 với số vốn đầu tư 500 tỷ đồng); khu tái định cư phục vụ công tác giải phóng mặt bằng dự án 3 Tuyến đường sắt cao tốc Bắc - Nam đoạn qua thành phố Huế. Bên cạnh đó, một số công trình tiêu biểu được khánh thành hoặc sắp hoàn thành: công trình quảng trường văn hóa thể thao thành phố; các dự án đầu tư phát triển hạ tầng khu kinh tế, khu công nghiệp như dự án đê chắn sóng cảng Chân Mây giai đoạn 2 (dự kiến hoàn thành trong tháng 10/2025), các đường trục chính tại các khu công nghiệp sẽ được đầu tư hoàn chỉnh trong năm 2025. Việc hoàn thành, bàn giao đưa vào sử dụng các công trình đầu tư công góp phần hoàn thiện kết cấu hạ tầng đô thị, giao thông của thành phố theo hướng hiện đại. 

Vốn ngoài nhà nước Quý III/2025 ước đạt 7.481 tỉ đồng, tăng 55,6% so với cùng kỳ, đưa tổng vốn ngoài nhà nước 9 tháng ước đạt 18.888 tỉ đồng, bằng 67,6% kế hoạch, tăng 49,5% so cùng kỳ. Đây chủ yếu là nguồn vốn từ doanh nghiệp ngoài nhà nước và người dân, cho thấy niềm tin mạnh mẽ vào môi trường đầu tư của thành phố. Nhiều dự án trọng điểm đang được triển khai như: Dự án Đầu tư xây dựng bến tổng hợp - container số 4 và số 5 cảng Vsico Chân Mây; dự án Khu liên hợp sản xuất, lắp ráp Kim Long Motors Huế; Trung tâm Logistics Chân Mây; Các dự án chung cư, nhà ở thương mại (chung cư Thương mại, dịch vụ B1-A, nhà Shop House An Cựu city; Dự án căn hộ Huế - Hue Heritage; Dự án Osaka Park house…). Trong 9 tháng đầu năm 2025 có 27 dự án đăng ký mới với tổng số vốn 8.233,4 tỷ đồng. Đáng chú ý là dự án Khu đô thị sinh thái tại xã Thủy Thanh của Công ty Cổ phần Tập đoàn Neragroup với số vốn đăng ký 4.452,6 tỷ đồng.

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài quý III/2025 ước đạt 1.114 tỷ đồng, giảm 8,4% so với cùng kỳ. Đưa tổng nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 9 tháng ước đạt 3.056 tỷ đồng, bằng 69,5% kế hoạch năm, giảm 14,9% so với cùng kỳ năm 2024. Các dự án chuyển tiếp tiếp tục được triển khai và đưa vào sử dụng như: Nhà máy Sản xuất Mũ bảo hiểm EON Industry Việt Nam; Mở rộng nhà máy bia Carlsberg Việt Nam; Nhà máy sản xuất cụm rotor, stato của công ty thiết bị điện Thượng Hải CI;... Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn thành phố có 9 dự án FDI đăng ký mới với tổng số vốn đăng ký 32,7 triệu USD. 

5.2. Hoạt động xây dựng

Quý III/2025, giá trị sản xuất ngành xây dựng theo giá hiện hành ước đạt 7.115 tỷ đồng, đưa giá trị sản xuất xây dựng 9 tháng đầu năm 2025 đạt 17.070 tỷ đồng. Theo giá so sánh năm 2010, giá trị sản xuất ngành xây dựng quý III/2025 ước đạt 3.956 tỷ đồng, tăng 10,9% so với cùng kỳ, giá trị sản xuất ngành xây dựng 9 tháng đầu năm 2025 ước đạt 9.657 tỷ đồng, tăng 11,5% so với cùng kỳ.

Trong 9 tháng đầu năm 2025, nhờ thời tiết thuận lợi, hoạt động xây dựng tại Huế diễn ra sôi động, nhiều dự án được đẩy nhanh tiến độ như: khu nhà ở - dịch vụ thương mại Phạm Văn Đồng; shophouse An Cựu Galleria; tòa nhà làm việc các cơ quan thành phố; trụ sở Công an thành phố; khách sạn Đông Dương... Đặc biệt, nhiều công trình hoàn thành đúng dịp Quốc khánh 2/9, tiêu biểu: nhà máy bia Carlsberg Việt Nam (mở rộng); nhà máy mũ bảo hiểm EON Industry Việt Nam; công ty Premium Silica Huế; tổ hợp giáo dục FPT tại KĐT An Vân Dương; quảng trường văn hóa – thể thao thành phố và chuỗi dịch vụ Viettral. Bên cạnh đó, một số dự án lớn cũng được tái khởi động sau thời gian gián đoạn, như: tòa nhà VNPT và bệnh viện Đa khoa Quốc tế, hứa hẹn sớm đưa vào khai thác, góp phần hoàn thiện diện mạo đô thị Huế.

6. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp

Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp 9 tháng đầu năm 2025 trên địa bàn có nhiều dấu hiệu tích cực, có hơn 80% DN đánh giá tình hình SXKD khả quan hơn và giữ ổn định so với quý trước. Tính đến ngày 30/9/2025, thành phố Huế có 823 DN thành lập mới với vốn đăng ký 8.999 tỷ đồng. Theo nhận định xu hướng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong quý tiếp theo, có 85,2% DN dự báo tình hình SXKD tốt hơn và giữ ổn định so với quý III/2025.

Tính đến 30/9/2025, thành phố Huế có 823 DN thành lập, trong đó: Công ty cổ phần 60 DN; Công ty TNHH hai thành viên trở lên 243 DN; Công ty TNHH một thành viên 506 DN; Doanh nghiệp tư nhân 14 DN; với số vốn đăng ký đạt 8.999 tỷ đồng. Số doanh nghiệp hoạt động trở lại 277 DN, số doanh nghiệp đã giải thể 133 DN, số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động 750 DN.

Tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong quý III và dự báo xu hướng sản xuất kinh doanh (sxkd) quý IV năm 2025:

Đánh giá tổng quan về tình hình sxkd, có 80,3% số DN đánh giá sxkd quý III/2025 của họ khả quan hơn và giữ ổn định so với quý II/2025 (trong đó 37,7% khẳng định tốt lên và 42,6% khẳng định giữ ổn định); 19,7% số DN đánh giá là khó khăn hơn. Các DN nhận định sxkd của quý IV/2025 tốt hơn và giữ ổn định so với quý III/2025 chiếm 85,2% (trong đó 44,3% dự báo tốt lên và 41,0% dự báo giữ ổn định), có 14,8% số DN dự báo khó khăn hơn.

Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong quý III/2025, có 59,0% cho rằng nhu cầu của thị trường trong nước thấp đã ảnh hưởng đến hoạt động sxkd của DN. Tiếp theo đó là các yếu tố: Tính cạnh tranh của hàng trong nước cao (55,7%); nhu cầu thị trường quốc tế thấp (44,3%); thiếu nguyên, nhiên, vật liệu, thiết bị công nghệ lạc hậu và khó khăn về tài chính (29,5%); lãi suất vay vốn cao (26,2%); tính cạnh tranh của hàng nhập khẩu cao (24,6%); không tuyển dụng được lao động theo yêu cầu (19,7%); chính sách pháp luật của Nhà nước (16,4%).

7. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Sản xuất nông nghiệp 9 tháng đầu năm trên địa bàn thành phố gặp bất lợi do thời tiết và dịch bệnh. Diện tích gieo cấy lúa cả năm đạt 53.145 ha, giảm nhẹ so với cùng kỳ, năng suất bình quân ước đạt 60,9 tạ/ha, giảm 5,6%. Tuy nhiên, các cây trồng hằng năm khác như ngô, khoai lang, lạc và rau màu đều có năng suất tăng nhờ điều kiện thuận lợi. Chăn nuôi chịu ảnh hưởng của dịch tả lợn châu Phi và bệnh liên cầu lợn, song tổng đàn trâu, bò, lợn và gia cầm tiếp tục tăng, đặc biệt đàn gia cầm đạt 5.287 nghìn con, tăng 6,0%. Sản xuất lâm nghiệp tiếp tục phát triển với 5.216 ha rừng trồng mới, sản lượng gỗ khai thác ước tăng 7,3%. Sản xuất thủy sản phát triển ổn định, sản lượng thủy sản nuôi trồng ước tăng 3,6% so cùng kỳ.

7.1. Nông nghiệp

* Trồng trọt

 Tháng 9 năm 2025 sản xuất nông nghiệp tập trung chăm sóc cây lúa vụ mùa và cây hàng năm khác. Diện tích gieo cấy lúa vụ Mùa chủ yếu là lúa nương rẫy tại các xã miền núi cao, ước đạt 186 ha, giảm 4,8% so với vụ Mùa năm 2024. Diện tích gieo trồng một số cây hằng năm chủ yếu tính đến cuối tháng 9 năm 2025 như sau: Ngô ước đạt 1.304 ha, giảm 5,0%; Khoai lang 813 ha, tăng 38,0%; Lạc 2.160 ha, giảm 3,7%; Rau các loại 4.624 ha, tăng 4,0%; Đậu các loại ước đạt 915 ha, giảm 0,3% so với cùng kỳ.

Trong 9 tháng đầu năm 2025, sản xuất nông nghiệp trên địa bàn thành phố gặp nhiều khó khăn do thời tiết diễn biến bất thường đã ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất lúa. Vụ Đông Xuân, đầu vụ xuất hiện mưa lớn trên diện rộng gây ngập úng một số diện tích, mặc dù bà con đã chủ động tiêu úng kịp thời nhưng cây lúa sinh trưởng chậm; lúa trà đầu trổ vào thời điểm thời tiết không thuận lợi nên tỷ lệ hạt lép cao. Từ ngày 12–13/4, mưa to kèm gió lớn làm đổ ngã nhiều diện tích lúa đang giai đoạn trỗ - chín, làm ảnh hưởng đến năng suất. Bước sang vụ Hè Thu, tình hình càng khó khăn hơn do ảnh hưởng cơn bão số 1 (12–14/6) gây mưa lớn, nước lũ dâng cao kết hợp triều cường, làm ngập úng trên diện rộng ở các vùng thấp trũng, ven biển và đầm phá. Toàn thành phố có 22.418/25.126 ha lúa bị ngập úng, trong đó hơn 5.790 ha phải gieo sạ lại. Tuy nhiên, nhờ sự chỉ đạo quyết liệt của các cấp chính quyền và sự hỗ trợ kịp thời cho nông dân, nhìn chung thiệt hại đã được giảm thiểu đáng kể.

Tính đến thời điểm hiện nay, diện tích gieo cấy lúa toàn thành phố ước đạt 53.145 ha, giảm 0,2% so với cùng kỳ năm 2024. Trong đó: Diện tích gieo cấy lúa vụ Đông Xuân đạt 27.884 ha, giảm 0,1%; Diện tích gieo cấy lúa vụ Hè Thu đạt 25.261 ha, giảm 0,3%. Ước tính năng suất lúa bình quân cả năm 2025 đạt 60,9 tạ/ha, giảm 5,6%. Trong đó: Năng suất lúa Đông Xuân 62,3 ta/ha, giảm 7,6%; năng suất lúa Hè Thu 59,4 tạ/ha, giảm 3,3% so với cùng kỳ năm 2024.

Năm nay, điều kiện khí hậu tuy không thuận lợi cho cây lúa nhưng lại khá thuận lợi cho các cây hằng năm khác, nguồn nước đảm bảo, sâu bệnh ít phát sinh, nông dân ưu tiên chọn giống có năng suất cao thay thế giống truyền thống kém hiệu quả, đồng thời công tác phòng trừ sâu bệnh được triển khai kịp thời. Nhờ đó, năng suất các loại cây hằng năm khác đều tăng so với cùng kỳ. Năng suất một số cây hằng năm khác: ngô năng suất ước đạt 46 tạ/ha tăng 10%; khoai lang 43,4 tạ/ha, tăng 4,3%; cây lạc 24 tạ /ha, tăng 6,6%; rau các loại 113 tạ/ha, tăng 9,7% so với cùng kỳ.

* Chăn nuôi

Trong 9 tháng đầu năm 2025, chăn nuôi trên địa bàn thành phố gặp nhiều khó khăn do dịch tả lợn Châu Phi và bệnh liên cầu lợn xuất hiện vào cuối tháng 7 và tháng 8 tại 20/40 xã, phường, với 4.194 con nhiễm bệnh phải tiêu hủy. Dịch bệnh khiến người dân ít tiêu thụ thịt lợn làm sản lượng lợn hơi trong quý III năm 2025 giảm mạnh. Đến nay, sau 21 ngày không phát sinh ổ dịch mới, thị trường tiêu thụ thịt lợn đã dần ổn định trở lại. Công tác kiểm dịch, kiểm soát giết mổ và kiểm tra vệ sinh thú y được tăng cường nhằm bảo đảm an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng. Cùng với đó, các chương trình tiêm phòng vắc xin cho đàn gia súc, gia cầm tiếp tục được triển khai thường xuyên. Tính đến nay, toàn thành phố đã tiêm phòng: 29.870 liều tụ huyết trùng trâu bò; 47.972 liều tam liên lợn; 9.690 liều E. coli; 617.310 liều cúm gia cầm; 464.500 liều dịch tả vịt; 284.700 liều Newcastle; 12.310 liều tụ huyết trùng gia cầm; 57.770 liều đậu gà; 139.740 liều Gumboro; 58.000 liều vắc xin dại (đạt 95%); 5.000 liều viêm da nổi cục trâu bò và 38.240 liều lở mồm long móng.

Đàn đại gia súc duy trì ổn định và phát triển khỏe mạnh, thời điểm 30/9/2025 tổng đàn trâu toàn thành phố ước có 15.390 con, tăng 1,0%. Đàn bò 29.820 con, tăng 2,6%; Chăn nuôi lợn còn gặp khó khăn, do nhu cầu tiêu thụ thấp, số lợn chưa xuất chuồng tăng. Tổng đàn lợn ước đạt 159.530 con, tăng 2,5%. Đàn gia cầm tăng khá nhờ không xảy ra dịch bệnh, công tác tiêm phòng và vệ sinh được chú trọng, chăn nuôi chuyển dần theo hướng chuyên nghiệp, hữu cơ và quy mô lớn. Tổng đàn gia cầm ước đạt 5.287 nghìn con, tăng 6,0%; trong đó đàn gà 3.900 nghìn con, tăng 6,0%.

Trong 9 tháng đầu năm 2025, sản lượng thịt hơi xuất chuồng và các sản phẩm trong chăn nuôi có diễn biến trái chiều: Sản lượng thịt trâu 606 tấn, tăng 6,9% so với cùng kỳ. sản lượng thịt bò 973 tấn, tăng 3,7%; sản lượng thịt lợn hơi 11.601 tấn, giảm 5,2%; sản lượng thịt gia cầm 11.881 tấn, tăng 7,5%; sản lượng trứng gia cầm 41.933 nghìn quả, tăng 8,9% so với cùng kỳ.

7.2. Lâm nghiệp

Ước diện tích trồng rừng mới tập trung tháng 9/2025 đạt 250 ha, tăng 4,2% so cùng kỳ. Lũy kế diện tích rừng trồng mới tập trung 9 tháng đầu năm 2025 ước đạt 5.216 ha, tăng 4,1%. 

Sản lượng gỗ khai thác từ rừng trồng trong tháng 9/2025 ước đạt 53,3 nghìn m3, tăng 8,1%. Lũy kế sản lượng gỗ khai thác từ rừng trồng 9 tháng đầu năm 2025 ước đạt 595,9 nghìn m3, tăng 7,3% so với cùng kỳ. Nguyên nhân sản lượng gỗ khai thác tăng do các nhà máy chế biến dăm gỗ tăng thu mua, kết hợp giá bán gỗ nguyên liệu ổn định.

Trong tháng 9 năm 2025 xảy ra 8 vụ phá rừng trái pháp luật với diện tích rừng bị phá là 0,7 ha và 1 vụ cháy rừng với diện tích bị cháy là 1 ha. Tính chung từ đầu năm đến nay đã xảy ra 29 vụ phá rừng với mục đích lấy đất sản xuất với diện tích bị thiệt hại là 3,6 ha và 6 vụ cháy rừng diện tích thiệt hại 11,5 ha.

7.3. Thủy sản

* Tình hình nuôi trồng thủy sản

Diện tích nuôi trồng thủy sản thâm canh tháng 9/2025 ước đạt 130 ha, tăng 2,4% so với cùng kỳ; chia ra diện tích nuôi tôm sú 72 ha, tăng 1,4%, tôm thẻ chân trắng 58 ha, tăng 3,6%. Lũy kế diện tích nuôi trồng thủy sản thâm canh 9 tháng đầu năm 2025 ước đạt 1.100 ha, tăng 2,1% so với cùng kỳ; chia ra diện tích thả nuôi tôm sú 528 ha, tăng 1,3%, tôm thẻ chân trắng 572 ha, tăng 2,9% so với cùng kỳ. 

Sản lượng thủy sản nuôi trồng thu hoạch tháng 9/2025 ước đạt 2.230 tấn, tăng 5,2% so với cùng kỳ. Chia ra cá 1.650 tấn, tăng 5,1%; tôm các loại 472 tấn, tăng 5,8%; thủy sản khác 108 tấn, tăng 3,8% so với cùng kỳ. Lũy kế sản lượng thủy sản nuôi trồng thu hoạch 9 tháng đầu năm 2025 ước đạt 17.521 tấn, tăng 4,7% so với cùng kỳ. Chia ra cá 10.065 tấn, tăng 4,6%; tôm các loại 6.358 tấn, tăng 4,9%; thủy sản khác 1.098 tấn, tăng 3,7% so với cùng kỳ.

* Tình hình khai thác thủy sản

Sản lượng thủy sản khai thác trong tháng 9/2025 ước đạt 3.959 tấn, tăng 5% so với cùng kỳ, bao gồm khai thác biển 3.553 tấn, tăng 4,8%; khai thác nội địa 406 tấn tăng 6,6%. Lũy kế sản lượng thủy sản khai thác 9 tháng đầu năm 2025 ước đạt 37.505 tấn, tăng 3,2% so với cùng kỳ. Bao gồm khai thác biển đạt 34.615 tấn, tăng 3,4%; khai thác nội địa 2.890 tấn, tăng 0,3% so với cùng kỳ. 

Tính chung sản lượng thủy sản nuôi trồng và khai thác 9 tháng đầu năm 2025 ước đạt 55.026 tấn, tăng 3,6% so cùng kỳ.

8. Sản xuất công nghiệp

Trong 9 tháng đầu năm 2025, sản xuất công nghiệp trên địa bàn thành phố tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực, ước tăng 17,5% so với cùng kỳ năm 2024. Đạt kết quả này chủ yếu nhờ vào việc đưa vào vận hành các dự án có quy mô lớn được bổ sung từ năm trước. Nổi bật là các dự án như: Nhà máy sản xuất ô tô Kim Long Motor và nhà máy sản xuất găng tay Kanglongda. Bên cạnh đó, ngành sản xuất và phân phối điện cũng ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng, nhờ điều kiện thủy văn thuận lợi với lượng nước dồi dào tại các hồ chứa, góp phần đáng kể vào mức tăng trưởng chung của toàn ngành công nghiệp.

Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 9 năm 2025 ước tăng 20,0% so với cùng kỳ, trong đó: ngành công nghiệp khai khoáng tăng 3,1%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 19,6%; sản xuất và phân phối điện tăng 29,7%; cấp nước và thu gom rác thải tăng 6,7%. Tính chung 9 tháng đầu năm 2025, chỉ số IIP ước tăng 17,5% so với cùng kỳ, trong đó: công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 15,9%; sản xuất và phân phối điện tăng 42,3%; cấp nước và thu gom rác thải tăng 1,1%; riêng ngành công nghiệp khai khoáng giảm 6,1%.

Các ngành công nghiệp cấp 4 trong 9 tháng đầu năm 2025 có chỉ số sản xuất tăng so với cùng kỳ: sản xuất các loại bánh từ bột (+8,9%); cưa, xẻ, bào gỗ và bảo quản gỗ (+8,2%); sản xuất plastic và cao su tổng hợp dạng nguyên sinh (+9,0%); sản xuất sản phẩm khác từ cao su (+15,3 lần); sản xuất sản phẩm từ plastic (+48,3%); sản xuất xe có động cơ (+5,2 lần); sản xuất, truyền tải và phân phối điện (+42,3%)...

Bên cạnh những dấu hiệu tích cực, một số ngành sản xuất công nghiệp đang gặp không ít khó khăn, dự ước các ngành công nghiệp cấp 4 trong 9 tháng đầu năm 2025 có chỉ số sản xuất giảm so với cùng kỳ: khai thác đá, cát, sỏi, đất sét (-6,4%); chế biến, bảo quản thuỷ sản và các sản phẩm từ thuỷ sản (-25,6%); sản xuất bia và mạch nha ủ men bia (-11,0%); may trang phục (-4,7%); sản xuất vật liệu từ đất sét (-0,2%); sản xuất sản phẩm từ chất khoáng phi kim loại khác chưa được phân vào đâu (-17,6%); sản xuất máy vi tính và thiết bị ngoại vi (-27,1%)...

Các sản phẩm công nghiệp ước 9 tháng đầu năm 2025 tăng so với cùng kỳ năm trước: dăm gỗ 569,3 nghìn tấn (+8,2%); sợi 90,1 nghìn tấn (+0,2%); thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng viên 58,7 triệu viên (+4,3%); găng tay, găng hở ngón và găng bao tay bằng cao su lưu hoá 11,1 nghìn tấn (+33,4 lần); xe có động cơ đốt trong 3.170 chiếc (+5,5 lần); điện sản xuất 1.696,0 triệu KWh (+60,0%); điện thương phẩm 1.783,1 triệu KWh (+6,9%)...

Các sản phẩm công nghiệp ước 9 tháng đầu năm 2025 giảm so với cùng kỳ: tôm đông lạnh 2,9 nghìn tấn (-25,6%); bia 235,1 triệu lít (-11,0%); quần áo lót cho người lớn không dệt kim hoặc đan móc 267,8 triệu cái (-4,6%); gạch men 8,6 triệu m2 (-0,2%); men frit 183,6 nghìn tấn (-2,9%).

Chỉ số sử dụng lao động tháng 9 năm 2025 tăng 0,6% so với tháng trước và tăng 6,6% so với cùng kỳ. Tính chung chỉ số sử dụng lao động 9 tháng đầu năm tăng 7,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó tập trung vào một số ngành: chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre nứa (+5,9%); sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic (+97,6%); sản xuất xe có động cơ (+217,8%); sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí (+3,1%). Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số sử dụng lao động giảm đó là: sản xuất chế biến thực phẩm (-6,5%); dệt (-1,8%); in, sao chép bản ghi các loại (-12,3%); sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy (-9,8%); sản xuất giường tủ, bàn, ghế (-10,7%); ...

9. Thương mại, dịch vụ

Trong tháng 9/2025, trên địa bàn thành phố diễn ra nhiều sự kiện văn hóa, chính trị, du lịch quan trọng, đặc biệt là các hoạt động kỷ niệm 80 năm Quốc khánh 2/9 như: màn bắn pháo hoa tầm cao tại quảng trường Ngọ Môn; triển lãm thành tựu đất nước giới thiệu thành quả kinh tế, văn hóa và tầm nhìn phát triển xanh… Các sự kiện này đã tạo không khí sôi động, thu hút đông đảo người dân và du khách, góp phần quảng bá hình ảnh văn hóa Huế, thúc đẩy tiêu dùng, lưu thông hàng hóa và gia tăng nhu cầu dịch vụ. Song song với đó, các chương trình khuyến mãi tại hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại (AEON Mall, Big C, CoopMart, Mini Go…) đã mở rộng kênh tiêu thụ, tạo động lực cho hoạt động mua sắm. Nhờ các yếu tố trên, hoạt động thương mại, dịch vụ và vận tải tháng 9 cũng như 9 tháng đầu năm 2025 tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm trước.

Kết quả hoạt động thương mại, dịch vụ và vận tải trên địa bàn thành phố tháng 9 và 9 tháng năm 2025 ước đạt như sau:

9.1. Bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Tháng 9, nhiều sự kiện chào mừng Quốc khánh 2/9, các chương trình khuyến mãi tiêu dùng và hoạt động kích cầu du lịch được tổ chức sôi động. Bên cạnh đó, trong dịp này học sinh bước vào năm học mới nên nhu cầu mua sắm văn phòng phẩm, áo quần và đồ dùng tăng lên. Nhờ vậy, tháng 9 hoạt động thương mại, dịch vụ tiếp tục tăng trưởng khá. Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 9 tháng đạt 48.850 tỷ đồng, tăng 14,7% so với cùng kỳ.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 9/2025 ước đạt 5.649 tỷ đồng, giảm 0,5% so với tháng trước và tăng 14,4% so với cùng kỳ. Chia theo ngành kinh tế, doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 9/2025 ước đạt 3.987 tỷ đồng, chiếm 70,6%, tăng 0,3% so với tháng trước và tăng 14,8% so với cùng kỳ. Doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống ước đạt 1.190 tỷ đồng, chiếm 21,1%, giảm 1,3% so với tháng trước và tăng 18,5% so với cùng kỳ; hoạt động du lịch lữ hành đạt 39 tỷ đồng, chiếm 0,7%, giảm 4,1% và tăng 20%; doanh thu dịch vụ khác đạt 433 tỷ đồng, chiếm 7,7%, giảm 4,7% và tăng 1,1%. Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng quý III năm 2025 đạt 16.921 tỷ đồng, tăng 13,6% so với cùng kỳ, chia ra: tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 11.869 tỷ đồng, tăng 14,9% so với cùng kỳ; dịch vụ lưu trú và ăn uống đạt 3.567 tỷ đồng, tăng 14,1%; hoạt động du lịch lữ hành đạt 133 tỷ đồng, tăng 29,6%; dịch vụ khác đạt 1.352 tỷ đồng, tăng 0,9%.

Tính chung 9 tháng tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 48.850 tỷ đồng, tăng 14,7% so với cùng kỳ, chia ra: tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 34.453 tỷ đồng, chiếm 70,5% tổng số và tăng 14,2% so với cùng kỳ; dịch vụ lưu trú và ăn uống đạt 10.070 tỷ đồng, chiếm 20,6% và tăng 17,6%; hoạt động du lịch lữ hành đạt 329 tỷ đồng, chiếm 0,7% và tăng 26,8%; dịch vụ khác đạt 3.998 tỷ đồng, chiếm 8,2% và tăng 10,9%. 

9.2. Vận tải hành khách và hàng hóa

Bên cạnh chuỗi các hoạt động lễ hội trải dài trong năm, trong tháng này nhu cầu vận tải hàng hóa tăng lên nhằm cung cấp nguyên vật liệu cho các công trình xây dựng đẩy nhanh tiến độ nhằm hoàn thành trước mùa mưa bão. Qua đó hoạt động vận tải vận khách và vận tải hàng hóa đều đạt kết quả cao.

Dự ước hành khách vận chuyển tháng 9 năm 2025 đạt 3.948,8 nghìn hành khách, tăng 3,4% so với tháng trước và tăng 22,5% so với cùng kỳ; hành khách luân chuyển đạt 192,1 triệu hành khách.km, tăng 3% so với tháng trước và tăng 21,9% so với cùng kỳ. Dự ước vận tải hành khách quý III/2025 đạt 11.481,8 nghìn hành khách và 560 triệu lượt khách.km, tương ứng tăng 21,7% và tăng 21,6% so với cùng kỳ. Tính chung 9 tháng đầu năm 2025, vận tải hành khách ước đạt 32.545,7 nghìn hành khách, tăng 19,3% so với cùng kỳ và luân chuyển ước đạt 1.590,4 triệu lượt khách.km, tăng 18,6%.

Dự ước hàng hóa vận chuyển tháng 9 năm 2025 ước đạt 2.296,9 nghìn tấn, tăng 2,4% so với tháng trước và tăng 14% so với cùng kỳ; hàng hóa luân chuyển đạt 190,8 triệu tấn.km, tăng 2,5% so với tháng trước và tăng 14,2% so với cùng kỳ. Dự ước vận tải hàng hóa quý III/2025 đạt 6.723,3 nghìn tấn, tăng 13,5% và 558,3 triệu tấn.km, tăng 13,9% so với cùng kỳ. Tính chung 9 tháng đầu năm 2025, vận tải hàng hóa ước đạt 19.024,6 nghìn tấn, tăng 11,4% so với cùng kỳ và luân chuyển ước đạt 1.584,8 triệu tấn.km, tăng 12,5% so với cùng kỳ.

Dự ước doanh thu vận tải và bốc xếp tháng 9 năm 2025 đạt 557 tỷ đồng, tăng 2,5% so với tháng trước và tăng 18,8% so với cùng kỳ. Doanh thu vận tải, bốc xếp quý III/2025 ước đạt 1.628,3 tỷ đồng, tăng 18,4% so với cùng kỳ. Tính chung 9 tháng đầu năm 2025, doanh thu vận tải và bốc xếp ước đạt 4.625,4 tỷ đồng, tăng 16,6% so với cùng kỳ. 

Trong đó: đường bộ đạt 4.237 tỷ đồng, tăng 16,2%; đường sông đạt 4,3 tỷ đồng, tăng 18,9%. Chia theo loại hình dịch vụ: vận tải hành khách ước đạt 998,7 tỷ đồng, tăng 19,8%; vận tải hàng hóa ước đạt 3.242,6 tỷ đồng, tăng 15,1%; dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 384,1 tỷ đồng, tăng 20,7 so với cùng kỳ.

9.3. Lượt khách các cơ sở lưu trú phục vụ và du lịch lữ hành

Trong tháng 9, nhân dịp kỷ niệm Quốc khánh 2/9 thành phố thực hiện chương trình mở cửa miễn phí để đón người dân và du khách Việt Nam vào tham quan các điểm di tích thuộc Quần thể di tích Cố đô Huế. Tuy nhiên, đây cũng là tháng kết thúc kỳ nghỉ hè và bắt đầu năm học mới nên lượng khách nội địa có xu hướng giảm.

Dự ước lượt khách do cơ sở lưu trú phục vụ tháng 9/2025 đạt 218,6 nghìn lượt khách, giảm 4,2% so với tháng trước và tăng 16,2% so với cùng kỳ. Trong đó, lượt khách ngủ qua đêm tháng 9/2025 ước đạt 177,7 nghìn lượt khách, giảm 4,7% so với tháng trước và tăng 44,8% so với cùng kỳ; lượt khách trong ngày đạt 40,8 nghìn lượt khách, giảm 1,9% so với tháng trước và tăng 3% so với cùng kỳ. Dự ước lượt khách do cơ sở lưu trú phục vụ quý III năm 2025 đạt 685,7 nghìn lượt khách, tăng 6,7% so với quý trước và tăng 28,3% so với cùng kỳ. Trong đó, lượt khách ngủ qua đêm 562,8 nghìn lượt khách, tăng 5,9% so với quý trước và tăng 33,3% so với cùng kỳ; lượt khách trong ngày 122,9 nghìn lượt khách, tăng 10,8% và tăng 9,6%.

Tính chung lượt khách do các cơ sở lưu trú phục vụ chín tháng đầu năm 2025 đạt 1.933,9 nghìn lượt, tăng 25,5% so với cùng kỳ. Trong đó, lượt khách ngủ qua đêm chín tháng đạt 1.596,1 nghìn lượt, tăng 29,9% so cùng kỳ. Trong lượt khách ngủ qua đêm, khách quốc tế 551,9 nghìn lượt, tăng 14,6%; khách trong nước 1.044,3 nghìn lượt, tăng 39,7% so với cùng kỳ. Lượt khách trong ngày chín tháng đạt 337,8 nghìn lượt, tăng 8% so với cùng kỳ.

Ngày khách phục vụ dự ước tháng 9/2025 đạt 293,4 nghìn ngày, giảm 3,3% so với tháng trước và tăng 39,8% so với cùng kỳ. Ngày khách do các cơ sở lưu trú phục vụ quý III năm 2025 ước đạt 918,2 nghìn ngày, tăng 3,4 % so với quý trước và tăng 26% so với cùng kỳ. Đưa ngày khách dự ước chín tháng đầu năm đạt 2.647,3 nghìn ngày, tăng 27,2% so với cùng kỳ. Trong đó: Ngày khách quốc tế đạt 963,5 nghìn ngày, tăng 12,7%; ngày khách trong nước đạt 1.683,8 nghìn ngày, tăng 37,2%.

Lượt khách phục vụ của các cơ sở lữ hành thực hiện tháng 9/2025 ước đạt 18,6 nghìn lượt, giảm 3,6% với tháng trước và tăng 18,2% so với cùng kỳ. Lượt khách phục vụ quý III năm 2025 ước đạt 54,4 nghìn lượt, tăng 6,3% với quý trước và giảm 11,8% so với cùng kỳ. Đưa lượt khách chín tháng đầu năm 2025 ước đạt 158,9 nghìn lượt, tăng 1,3% so với cùng kỳ. 

Ngày khách theo tour ước thực hiện tháng 9/2025 là 42,1 nghìn ngày, giảm 2,1% so với tháng trước và tăng 8,9% so với cùng kỳ. Ngày khách theo tour quý III năm 2025 ước đạt 131,5 nghìn ngày, tăng 5,7% so với quý trước và tăng 5,7% so với cùng kỳ. Đưa ngày khách theo tour chín tháng đầu năm 2025 ước đạt 355,9 nghìn ngày khách, tăng 11,6% so với cùng kỳ.

10. Các vấn đề xã hội

10.1. Giải quyết việc làm

Từ đầu năm 2025 đến nay, công tác giải quyết việc làm trên địa bàn thành phố tiếp tục đạt nhiều kết quả tích cực. Cụ thể, toàn thành phố đã tạo việc làm cho 15.964 lao động, đạt 90,7% kế hoạch năm. Kết quả này cho thấy sự nỗ lực của các cấp, ngành trong việc triển khai đồng bộ các chương trình, chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội, gắn với thúc đẩy thị trường lao động. Đáng chú ý, trong số đó có 2.084 lao động được đưa đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, đạt 99,24% chỉ tiêu kế hoạch. Đây là điểm sáng nổi bật, không chỉ góp phần giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động, mà còn giúp gia tăng nguồn kiều hối, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế địa phương.

10.2. Đời sống dân cư

Nhìn chung 9 tháng năm 2025, đời sống dân cư trên địa bàn thành phố cơ bản ổn định, sản xuất kinh doanh các ngành kinh tế tiếp tục phát triển khá, việc làm và thu nhập từng bước được cải thiện. Các chính sách an sinh xã hội, ưu đãi người có công, trợ giúp xã hội, giảm nghèo, hỗ trợ lao động - việc làm tiếp tục được thực hiện đầy đủ, đúng đối tượng, góp phần nâng cao mức sống cho người dân. Từ ngày 1/7/2025, chế độ trợ cấp hưu trí xã hội được áp dụng cho những người từ đủ 75 tuổi trở lên không hưởng lương hưu hoặc trợ cấp BHXH hàng tháng; người từ đủ 70 tuổi đến dưới 75 tuổi thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo không hưởng lương hưu hoặc trợ cấp BHXH hàng tháng; chính sách này đã giúp người cao tuổi có điều kiện sống tốt hơn.

Cùng với đó, nhân dịp kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, thành phố đã tổ chức tặng quà cho mỗi người dân trị giá 100.000 đồng. Hoạt động này mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, tạo không khí phấn khởi, đoàn kết trong toàn xã hội.

Kết quả khảo sát mức sống dân cư kỳ 3 năm 2025 càng khẳng định hiệu quả của những nỗ lực trên, khi thu nhập bình quân đầu người toàn thành phố tăng 11% so với cùng kỳ, cho thấy đời sống kinh tế – xã hội ngày càng được cải thiện rõ nét.

10.3. Chính sách - xã hội

Công tác người có công được quan tâm thực hiện đầy đủ, kịp thời. Hỗ trợ cho người có công và thân nhân của người có công với cách mạng quý III/2025 với số tiền 116,82 tỷ đồng, tăng 28,6% so với quý trước, tăng 28,6% so với cùng kỳ. Lũy kế 9 tháng đầu năm 2025 là 373,1 tỷ đồng, tăng 26,6% so cùng kỳ. 

Các chính sách đối với những đối tượng bảo trợ xã hội trên địa bàn thành phố tiếp tục được triển khai và thực hiện có hiệu quả. Hỗ trợ cho các đối tượng bảo trợ xã hội theo Nghị định 20/2021/NĐ-CP quý III/2025 là 154,3 tỷ đồng, tăng 13,5% so với quý trước; tăng 34,9% so với cùng kỳ. Lũy kế 9 tháng đầu năm 2025 là 442,6 tỷ đồng, tăng 35,6% so cùng kỳ. Số tiền hỗ trợ tăng so với trước là do từ 1/7/2025 mở rộng đối tượng bảo trợ xã hội cho người cao tuổi.

Hỗ trợ cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có hoàn cành khó khăn, hộ chính sách xã hội không trùng với các đối tượng còn lại tại Nghị định 20/2010/NĐ-CP quý III/2025 là 422,8 triệu đồng. Lũy kế 9 tháng đầu năm 2025 là 25,2 tỷ đồng, giảm 26% so với cùng kỳ. Thực hiện kế hoạch triển khai Phong trào thi đua “Chung tay xóa nhà tạm, nhà dột nát trên phạm vi cả nước trong năm 2025” theo Quyết định số 539/QĐ-TTg ngày 19/6/2024 của Thủ tướng Chính phú ban hành. Trong 9 tháng đầu năm 2025 đã xây mới và sửa chữa 413 nhà với kinh phí khoảng 5,59 tỷ đồng.

Cấp phát miễn phí thẻ bảo hiểm y tế tại địa phương quý III/2025 là 347.162 thẻ, giảm 93 thẻ so với quý trước. 

Hỗ trợ tình hình đột biến, bất thường tại địa phương quý III/2025 là 260 triệu đồng, giảm 97,3% so với cùng kỳ. Lũy kế 9 tháng đầu năm 2025 là 3,5 tỷ đổng, giảm 87,8% so với cùng kỳ.

10.4. Giáo dục

Sáng ngày 5/9, trong không khí rộn ràng của ngày hội “Toàn dân đưa trẻ đến trường”, hơn 294 nghìn học sinh trên địa bàn TP. Huế đã long trọng tham dự Lễ Khai giảng năm học mới 2025–2026, gắn với Kỷ niệm 80 năm thành lập Bộ Giáo dục và Đào tạo. Với niềm tin, kỳ vọng và khát vọng đổi mới, ngành giáo dục Huế bước vào năm học mới với tinh thần “Đổi mới – sáng tạo – phát triển – hội nhập”, quyết tâm đào tạo thế hệ học sinh vững tri thức, sáng đạo đức, giàu bản lĩnh, góp phần xây dựng thành phố Huế văn hiến, văn minh và hiện đại. Cùng ngày, Đại học Huế cũng tổ chức Lễ Khai giảng năm học 2025–2026, chào đón 15 nghìn tân sinh viên nhập học hệ chính quy, đánh dấu một khởi đầu mới đầy hứng khởi cho tuổi trẻ trên con đường học tập và rèn luyện.

Ngày 20/9, Đại học Huế tiếp tục sôi động với chung kết Cuộc thi Ý tưởng khởi nghiệp đổi mới sáng tạo lần thứ VIII năm 2025, sự kiện quy tụ hàng trăm sinh viên cùng nhiều dự án giàu tính ứng dụng, từ công nghệ bảo tồn di sản đến phát triển sản phẩm xanh. Mỗi ý tưởng là kết tinh của trí tuệ, niềm đam mê và sự cống hiến của tuổi trẻ Đại học Huế.

10.5. Tình hình y tế, dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm

Tháng 9/2025, trên địa bàn có 38 ca sốt xuất huyết, giảm 269 ca so cùng kỳ; có 9 ca mắc tay chân miệng, giảm 8 ca so với cùng kỳ; 1 ca liên cầu lợn, tăng 1 ca so với cùng kỳ; 3 ca sốt phát ban, giảm 12 ca so; không có ca mắc bệnh sởi, tăng 1 so với cùng kỳ. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn có 238 ca sốt xuất huyết, giảm 1.117 ca so cùng kỳ; có 158 ca mắc tay chân miệng, tăng 59 ca so với cùng kỳ; 43 ca liên cầu lợn, tăng 41 ca so với cùng kỳ, làm 4 người chết, tăng 4 người so với cùng kỳ; 1.574 ca sốt phát ban, tăng 1.528 ca và có 349 ca sởi, tăng 346 ca so với cùng kỳ.

Tháng 8/2025, trên địa bàn đã phát hiện 7 ca nhiễm mới HIV, giảm 3 ca so cùng kỳ; có 4 ca chuyển qua AIDS, tăng 1 ca so cùng kỳ; không có ca tử vong, bằng cùng kỳ. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn có 65 ca nhiễm mới HIV, tăng 2 ca so cùng kỳ; 18 ca chuyển qua AIDS, giảm 1 ca so cùng kỳ; 3 ca tử vong, bằng so với cùng kỳ. Hiện tại, trên địa bàn có 577 bệnh nhân đang được quản lý và điều trị tại các cơ sở y tế, trong đó có 571 bệnh nhân điều trị ARV.

Tháng 9/2025, trên địa bàn xảy ra 2 vụ ngộ độc thực phẩm, tăng 2 vụ so với cùng kỳ; làm 19 người bị ngộ độc và không có người chết. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn xảy ra 3 vụ ngộ độc thực phẩm, giảm 1 vụ so cùng kỳ; làm 40 người bị ngộ độc, tăng 1 người so cùng kỳ; không có người chết, bằng cùng kỳ.

10.6. Hoạt động văn hóa, thể thao 

Các hoạt động văn hóa được triển khai đồng bộ, gắn với tuyên truyền kỷ niệm những ngày lễ lớn của đất nước. Nhiều lễ hội quy mô, an toàn, thu hút đông đảo du khách như: Lễ hội Đền Huyền Trân, Lễ hội Điện Huệ Nam, Ngày hội làng Dương Nỗ, Tuần lễ Áo dài… đã góp phần quảng bá sâu rộng hình ảnh văn hóa Huế. Đặc biệt, sau hơn hai tuần diễn ra tại Hà Nội, ngày 16/9, Triển lãm thành tựu đất nước với chủ đề “80 năm hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc” đã chính thức khép lại. Không gian triển lãm của thành phố Huế với chủ đề “Huế - Di sản, bản sắc và tầm nhìn phát triển xanh” được Ban Tổ chức vinh danh, trao tặng danh hiệu “Không gian trưng bày tiêu biểu”, khẳng định dấu ấn riêng và sức lan tỏa của văn hóa Huế.

Đến nay, trên địa bàn thành phố có 1.105 khu dân cư, trong đó đã công nhận đạt chuẩn văn hóa 1.053, đạt tỷ lệ 95,3%. Có 300.457/312.943 gia đình được công nhận đạt chuẩn, đạt tỷ lệ 94,4% (so với tổng số gia đình đăng ký xây dựng gia đình văn hóa). Xây dựng cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp văn hóa, đến nay có 1.018 cơ quan, đơn vị được công nhận đạt chuẩn văn hóa, đạt tỷ lệ 92%.

Tính đến hết tháng 8 năm 2025, các VĐV tham gia các giải thể thao khu vực, quốc gia và quốc tế đạt được 672 huy chương các loại (203 HCV, 171 HCB, 298 HCĐ), trong đó có 57 huy chương quốc tế (22 HCV, 15 HCB, 20 HCĐ). Đặc biệt, tại giải vô địch và vô địch trẻ Châu Á môn Jujitsu: VĐV Nguyễn Hoài Thương đã xuất sắc đạt được 2 HCV, 1 HCB và 1 HCĐ; tại giải vô địch Đông Nam Á vật tự do 3 vận động viên: Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, Nguyễn Thị Mỹ Trang, Nguyễn Thị Mỹ Linh đạt 3 HCV.

10.7. Tai nạn giao thông, trật tự, an toàn xã hội 

Theo báo cáo của Ban ATGT thành phố, từ 15/8/2025 đến 14/9/2025, trên địa bàn đã xảy ra 15 vụ tai nạn giao thông, bằng cùng kỳ; làm 7 người chết, tăng 2 người; làm bị thương 11 người, giảm 3 người so cùng kỳ. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn xảy ra 162 vụ tai nạn giao thông, giảm 55 vụ so với cùng kỳ; làm chết 84 người, giảm 9 người và làm bị thương 112 người, giảm 48 người so với cùng kỳ.

*Tình hình trật tự an toàn giao thông 04 ngày của kỳ nghỉ lễ 02/9/2025 (Từ 30/8/2025 đến 02/9/2025)

Tai nạn giao thông đường bộ xảy ra 1 vụ, không có người chết, bị thương 1 người. So với Lễ Quốc khánh năm trước, giảm 5 vụ (-83,3%), giảm 1 người chết (-100%), giảm 3 người bị thương (-75 %). Không xảy ra tai nạn giao thông đường sắt, đường thủy.

10.8. Tình hình cháy nổ và bảo vệ môi trường

Trong tháng 9/2025 trên địa bàn xảy ra 2 vụ cháy, tăng 2 vụ so với cùng kỳ, giảm 1 vụ so với tháng trước. Cụ thể, 1 vụ cháy rừng và 1 vụ cháy xe; không gây thiệt hại về người, tổng giá trị thiệt hại ước khoảng 600 triệu đồng. Hiện nay các cơ quan chức năng đang tiến hành điều tra làm rõ nguyên nhân. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn xảy ra 13 vụ cháy, giảm 1 vụ so với cùng kỳ; không gây thiệt hại về người; tổng giá trị thiệt hại 6,7 tỷ đồng.

Trong tháng 9/2025 trên địa bàn xảy ra 8 vụ vi phạm môi trường, tăng 2 vụ so với cùng kỳ, giảm 2 vụ so với tháng trước. Các hình thức vi phạm: 1 vụ xả nước thải vượt quy chuẩn kỹ thuật, 1 vụ không đăng ký thủ tục về môi trường, 2 vụ gây tiếng ồn vượt mức cho phép, 2 vụ vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm, 1 vụ đổ chất thải rắn thông thường trái quy định, 1 vụ không có giấy phép môi trường; tiến hành xử lý 9 vụ với số tiền xử phạt hơn 780 triệu đồng. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn xảy ra 94 vụ, giảm 77 vụ so với cùng kỳ; xử lý 94 vụ với tổng số tiền 3,8 tỷ đồng.

10.9. Thiệt hại do thiên tai

Tháng 9/2025 trên địa bàn thành phố Huế không xảy ra thiên tai, bằng cùng kỳ, giảm 1 vụ so với tháng trước. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn thành phố Huế xảy ra 5 vụ thiên tai, bằng cùng kỳ; không có thiệt hại về người. Tổng giá trị thiệt hại 39,5 tỷ đồng; chính quyền các cấp đã hỗ trợ 3,2 tỷ đồng.

Nguồn Thống kê cơ sở thành phố Huế