0234 3828125 | Tphue@nso.gov.vn
Phát triển y học cổ truyền Việt Nam gắn với chăm sóc sức khỏe Nhân dân và phát triển đất nước
  •   10/08/2026 10:59

Y học cổ truyền không chỉ liên quan đến công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe Nhân dân mà còn gắn trực tiếp với giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, phát triển công nghiệp dược liệu, kinh tế sức khỏe và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia. Vì vậy, cần bảo tồn, phát huy và nâng tầm y học cổ truyền dân tộc, biến những giá trị, di sản quý báu của cha ông thành nguồn lực quan trọng phục vụ chăm sóc sức khỏe Nhân dân và phát triển đất nước trong thời kỳ mới.Ngày 20/5/2026, tại Trụ sở Trung ương Đảng, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã có buổi làm việc với Đảng ủy Bộ Y tế, các ban, bộ, ngành Trung ương về phát triển ngành y học cổ truyền Việt Nam. Kết luận buổi làm việc được Văn phòng Trung ương Đảng thông báo tại Thông báo số 68-TB/VPTW ngày 26/5/2026.Thông báo khẳng định Việt Nam có nền y học cổ truyền đặc sắc, được kết tinh từ tri thức, văn hóa và kinh nghiệm của dân tộc qua hàng nghìn năm lịch sử. Từ tư tưởng “Nam dược trị nam nhân” của Đại danh y Tuệ Tĩnh đến di sản y học của Hải Thượng Lãn Ông, cha ông ta đã để lại một kho tàng y học cổ truyền quý giá. Y học cổ truyền không chỉ có vai trò chữa bệnh mà còn coi trọng dưỡng sinh, điều hòa khí huyết, cân bằng âm dương và nâng cao khả năng tự phục hồi của cơ thể.Thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách về chăm sóc sức khỏe Nhân dân, trong đó đề cao việc kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại. Hệ thống khám, chữa bệnh y học cổ truyền tiếp tục được củng cố; nhiều bài thuốc, phương pháp điều trị được phát huy; công tác phát triển dược liệu, đào tạo nhân lực và kết hợp Đông - Tây y có bước tiến bộ. Tuy nhiên, tiềm năng của y học cổ truyền vẫn chưa được khai thác đầy đủ, chưa tạo được hệ sinh thái phát triển, thương hiệu và năng lực cạnh tranh quốc gia tương xứng.Thông báo nhấn mạnh, y học cổ truyền không chỉ liên quan đến bảo vệ, chăm sóc sức khỏe Nhân dân mà còn gắn với giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, phát triển công nghiệp dược liệu, kinh tế sức khỏe và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia. Vì vậy, cần bảo tồn, phát huy và nâng tầm y học cổ truyền dân tộc, biến những giá trị, di sản quý báu của cha ông thành nguồn lực phục vụ chăm sóc sức khỏe Nhân dân và phát triển đất nước trong thời kỳ mới.Để thực hiện mục tiêu trên, cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp được yêu cầu tập trung thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm:Một là, đặt phát triển y học cổ truyền trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước giai đoạn mới. Chuyển mạnh tư duy từ “quản lý chuyên môn y tế” sang “phát triển hệ sinh thái y học cổ truyền quốc gia”, gắn với phát triển kinh tế sức khỏe và sức mạnh mềm quốc gia. Phát huy lợi thế về đa dạng sinh học, nguồn dược liệu, tri thức dân gian và văn hóa dưỡng sinh; nghiên cứu phát triển các trung tâm du lịch chăm sóc sức khỏe, khu dưỡng sinh, làng và vùng dược liệu gắn với sinh kế, giảm nghèo bền vững, du lịch sinh thái và bảo tồn văn hóa.Hai là, chuyển mạnh từ tư duy “chữa bệnh” sang “chăm sóc sức khỏe toàn diện”. Phát huy thế mạnh của y học cổ truyền trong phòng bệnh, dưỡng sinh, nâng cao thể trạng, phục hồi chức năng, chăm sóc người cao tuổi, điều trị bệnh mạn tính và chăm sóc sức khỏe tinh thần. Chuẩn hóa các mô hình chăm sóc sức khỏe không dùng thuốc như châm cứu, xoa bóp, bấm huyệt tại xã, phường và khuyến khích lan tỏa những biện pháp chăm sóc sức khỏe hiệu quả không dùng thuốc.Ba là, đẩy mạnh khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và bảo hộ sở hữu trí tuệ. Khẩn trương số hóa kho tàng bài thuốc gia truyền, tri thức y học dân tộc; xây dựng và hoàn thiện Cơ sở dữ liệu quốc gia về y học cổ truyền; tăng cường nghiên cứu, thử nghiệm lâm sàng, chuẩn hóa bài thuốc, vị thuốc và phương pháp điều trị. Đồng thời, hỗ trợ bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, xây dựng thương hiệu quốc gia cho các bài thuốc, sản phẩm có giá trị và củng cố các trung tâm y học cổ truyền mạnh tầm quốc gia, khu vực.Bốn là, phát triển công nghiệp dược liệu trở thành ngành kinh tế chiến lược quốc gia. Xây dựng đồng bộ chuỗi giá trị từ giống, vùng trồng, tiêu chuẩn, truy xuất nguồn gốc đến chiết xuất, bào chế, sản xuất, xây dựng thương hiệu và xuất khẩu. Quy hoạch vùng trồng dược liệu trọng điểm theo tiêu chuẩn GAP, đẩy mạnh chế biến sâu theo tiêu chuẩn GMP quốc tế, kiểm soát chất lượng, khắc phục tình trạng dược liệu giả, kém chất lượng và phụ thuộc nhập khẩu.Năm là, tạo đột phá trong phát triển mô hình y học tích hợp Đông - Tây y theo hướng y học thực chứng. Xây dựng các phác đồ điều trị tích hợp được chuẩn hóa trên cơ sở khoa học và thực tiễn lâm sàng; tăng cường nghiên cứu, kiểm chứng hiệu quả điều trị bằng bằng chứng khoa học và xây dựng đội ngũ thầy thuốc có khả năng kết hợp hài hòa y lý cổ truyền với thành tựu y học hiện đại.Sáu là, phát triển đồng bộ hệ sinh thái y dược cổ truyền và nguồn nhân lực chất lượng cao, đồng thời giữ gìn y đức. Nhà nước giữ vai trò định hướng, hoàn thiện thể chế và kiểm soát chất lượng; đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa, huy động nguồn lực của doanh nghiệp và khu vực tư nhân. Tăng cường quản lý hoạt động hành nghề, chất lượng dược liệu, thuốc và quảng cáo; xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, trục lợi trên sức khỏe Nhân dân. Nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ thầy thuốc vừa giỏi chuyên môn, am hiểu y học hiện đại, vừa giữ vững y đức, thực hiện lời dạy của Bác Hồ: “Lương y phải như từ mẫu”.Bảy là, đẩy mạnh xây dựng thương hiệu quốc gia về y học cổ truyền Việt Nam, gắn với kinh tế sức khỏe, du lịch chữa bệnh, xuất khẩu sản phẩm và phát huy sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam.Tám là, tiếp tục hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách về y học cổ truyền. Đảng ủy Bộ Y tế được giao chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan tham mưu trình Chính phủ, Quốc hội; đồng thời xây dựng, trình Chính phủ ban hành Chiến lược phát triển y học cổ truyền Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, hoàn thành trong năm 2026; rà soát, nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các văn bản chỉ đạo của Ban Bí thư về lĩnh vực y học cổ truyền.Việc triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp trên nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị quý báu của y học cổ truyền, đồng thời đưa y học cổ truyền Việt Nam phát triển theo hướng hiện đại, khoa học, hội nhập, trở thành nguồn lực quan trọng trong chăm sóc sức khỏe Nhân dân, phát triển kinh tế và quảng bá giá trị văn hóa Việt Nam.                                Nguồn: Tổ Truyền thông và Thư viện, Văn phòng Cục Thống kê

Kinh tế xã hội 6 tháng đầu năm 2026 trên địa bàn thành phố Huế
  •   02/07/2026 15:07

Kinh tế - xã hội thành phố Huế trong sáu tháng đầu năm 2026 diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục tăng trưởng nhưng còn nhiều yếu tố bất ổn. Hoạt động sản xuất, thương mại và đầu tư toàn cầu phục hồi chậm, không đồng đều giữa các khu vực; lạm phát tại nhiều nền kinh tế lớn tuy đã hạ nhiệt nhưng vẫn ở mức cao, trong khi căng thẳng địa chính trị, biến động giá năng lượng và  xu hướng gia tăng các biện pháp bảo hộ thương mại tiếp tục ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng và hoạt động thương mại quốc tế. Trong nước, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát, các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm; sản xuất công nghiệp, thương mại, dịch vụ, xuất khẩu, du lịch và thu hút đầu tư nước ngoài tiếp tục tăng trưởng tích cực. Tuy nhiên, hoạt động sản xuất, kinh doanh vẫn gặp một số khó khăn do chi phí đầu vào tăng, sức ép cạnh tranh ngày càng lớn và những biến động khó lường của kinh tế thế giới. Trong bối cảnh đó, với sự chỉ đạo quyết liệt của Thành ủy, HĐND, UBND thành phố cùng sự nỗ lực của các cấp, các ngành, cộng đồng doanh nghiệp và người dân, kinh tế thành phố Huế tiếp tục duy trì đà tăng trưởng khá; các ngành dịch vụ, du lịch phát triển tích cực, sản xuất công nghiệp, thương mại, đầu tư xây dựng và thu hút đầu tư có nhiều chuyển biến, các cân đối lớn của nền kinh tế cơ bản được bảo đảm. Thực hiện nghị quyết và quyết định của Thành ủy, HĐND, UBND thành phố về nhiệm vụ, kế hoạch và triển khai thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026. Kết quả đạt được trên các ngành, lĩnh vực trong sáu tháng đầu năm 2026 như sau: 1. Tăng trưởng kinh tế         Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) trong 6 tháng đầu năm 2026 theo giá so sánh năm 2020 ước tăng 8,33% so với cùng kỳ năm trước. Đây là mức tăng khá, xét trên phạm vi cả nước Huế xếp thứ 20 trong tổng số 34 địa phương, trong khu vực Bắc Trung Bộ Thành phố xếp thứ 3 trên 5 địa phương, đối với các thành phố trực thuộc Trung ương xếp thứ 4 trong số 6 thành phố. Trong đó: khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,20%, đóng góp 0,40 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,56%, đóng góp 3,06 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 8,40%, đóng góp 4,18 điểm phần trăm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 7,87%, đóng góp 0,69 điểm phần trăm trong tăng trưởng kinh tế toàn thành phố.         Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản duy trì mức tăng trưởng ổn định. Sản xuất nông nghiệp diễn ra thuận lợi, năng suất và sản lượng lúa vụ Đông Xuân tăng; chăn nuôi phát triển ổn định, dịch bệnh được kiểm soát hiệu quả. Hoạt động lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục duy trì đà tăng trưởng nhờ nhu cầu thị trường ổn định và điều kiện sản xuất thuận lợi. Trong đó, ngành nông nghiệp tăng 4,33%, đóng góp 0,24 điểm phần trăm; ngành lâm nghiệp tăng 5,18%, đóng góp 0,06 điểm phần trăm; và ngành thủy sản tăng 3,50%, đóng góp 0,09 điểm phần trăm. Tốc độ tăng trưởng này góp phần giữ vững ổn định sản xuất nông nghiệp, bảo đảm nguồn cung lương thực, thực phẩm và tạo nền tảng cho phát triển kinh tế nông thôn.         Khu vực công nghiệp và xây dựng tiếp tục là động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế, với giá trị tăng thêm ước tăng 9,56% so với cùng kỳ, trong đó ngành công nghiệp tăng 10,20%. Sản xuất công nghiệp khởi sắc nhờ nhiều ngành chủ lực duy trì tăng trưởng khá và một số dự án mới đi vào hoạt động, mở rộng sản xuất. Hoạt động xây dựng tăng 7,00%, chủ yếu nhờ tiến độ triển khai các công trình trọng điểm và dự án hạ tầng được đẩy nhanh. Tuy nhiên, khu vực vẫn chịu tác động của giá nguyên vật liệu, chi phí năng lượng ở mức cao; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 10,28% do lưu lượng nước về các hồ thủy điện thấp.         Khu vực dịch vụ tăng 8,40% so với cùng kỳ, đóng góp quan trọng vào mức tăng GRDP chung. Hoạt động thương mại, dịch vụ diễn ra sôi động nhờ sức mua của người dân cải thiện và du lịch tiếp tục phục hồi tích cực. Một số ngành đạt mức tăng trưởng khá như: bán buôn, bán lẻ hàng hóa tăng 9,69%, đóng góp 0,75 điểm phần trăm; dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng 12,90%, đóng góp 0,91 điểm phần trăm; vận tải, kho bãi tăng 13,31%, đóng góp 0,41 điểm phần trăm. Bên cạnh đó, các ngành thông tin và truyền thông, tài chính - ngân hàng, khoa học và công nghệ cùng các dịch vụ khác tiếp tục duy trì tăng trưởng ổn định, góp phần thúc đẩy khu vực dịch vụ phát triển.         Cơ cấu kinh tế 6 tháng đầu năm 2026, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 9,02%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 29,81%; khu vực dịch vụ chiếm 52,42%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 8,75% (cơ cấu tương ứng của cùng kỳ năm 2025 là: 9,79%; 29,68%; 51,74% và 8,79%). 2. Tài chính, ngân hàng, bảo hiểm 2.1. Tài chính Tổng thu ngân sách trên địa bàn sáu tháng năm 2026 ước đạt 8.068 tỷ đồng, bằng 50,4% dự toán năm, tăng 8,6% so cùng kỳ. Trong đó: Thu nội địa ước đạt 7.238 tỷ đồng, bằng 49,8% dự toán, tăng 8,8% so với cùng kỳ, khẳng định vai trò trụ cột trong việc tạo nguồn thu bền vững cho ngân sách; thu thuế từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 813 tỷ đồng, bằng 56,1% dự toán, tăng 19,4% so với cùng kỳ. Thu viện trợ, huy động đóng góp 16,7 tỷ đồng, bằng 60,7% dự toán, giảm 87,9% so với cùng kỳ. Song song với nhiệm vụ thu, việc điều hành chi ngân sách địa phương cũng được triển khai chặt chẽ , bảo đảm các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và an sinh xã hội trên địa bàn. Tổng chi ngân sách địa phương sáu tháng năm 2026 ước đạt 6.429 tỷ đồng, bằng 34,8% dự toán. Trong cơ cấu chi, chi thường xuyên chiếm tỷ trọng chủ đạo với 4.910 tỷ đồng, bằng 42,2% dự toán nhằm đảm bảo vận hành bộ máy và các hoạt động an sinh xã hội; chi đầu tư phát triển 896 tỷ đồng, bằng 19,5% dự toán, còn chậm so với yêu cầu thúc đẩy tăng trưởng. 2.2. Ngân hàng Triển khai Chương trình tín dụng 140.000 tỷ đồng theo Nghị quyết 33/NQ-CP ngày 11/3/2023 của Chính phủ về một số giải pháp tháo gỡ và thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển an toàn, lành mạnh, bền vững. Thực hiện Thông tư 02/2023/TT-NHNN và Chỉ thị số 02/CT-NHNN ngày 23/5/2023 của NHNN VN về việc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng gặp khó khăn Tổng nguồn vốn huy động đến cuối tháng 6 năm 2026 ước đạt 94,7 nghìn tỷ đồng, tăng 5,8% so với cuối năm 2025; tổng dư nợ tín dụng ước đạt 98,9 nghìn tỷ đồng, tăng 3,2%. Các TCTD trên địa bàn thành phố Huế tiếp tục chú trọng cho vay các lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ. Tính đến cuối tháng 06/2026: Tín dụng đối với nông nghiệp nông thôn ước đạt 19.700 tỷ đồng, tăng 9,7% so với cuối năm 2025; Tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa ước đạt 18.000 tỷ đồng, tăng 4,5% so với cuối năm 2025; Tín dụng đối với xuất khẩu ước đạt 6.000 tỷ đồng, tăng 4,1% so với cuối năm 2025; Cho vay công nghiệp hỗ trợ ước đạt 7.200 tỷ đồng, tăng 358,9% so với cuối năm 2025. Trên địa bàn chưa phát sinh có dư nợ cho vay doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao. 2.3. Bảo hiểm Thị trường bảo hiểm trong sáu tháng đầu 2026 tiếp tục có nhiều tín hiệu tích cực, tạo điều kiện để các doanh nghiệp bảo hiểm đẩy mạnh hoạt động kinh doanh sau thời gian tập trung đầu tư nâng cao chất lượng nhân sự và hệ thống. Doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường dự kiến tăng khoảng 6,5%–7,5% so với cùng kỳ. Để nâng cao hiệu quả hoạt động, các doanh nghiệp bảo hiểm tập trung thúc đẩy tăng trưởng trên các kênh bán hàng gắn với nâng cao chất lượng dịch vụ, đa dạng hóa kênh thu phí trực tuyến, tăng cường chuyển đổi số và nâng cao năng lực quản trị. Đồng thời, các doanh nghiệp chú trọng kiểm soát nội bộ, quản lý rủi ro, bảo đảm tuân thủ quy định của cơ quan quản lý nhà nước, lấy chất lượng sản phẩm, dịch vụ và quyền lợi khách hàng làm trọng tâm nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh. 3. Giá cả, lạm phát - Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) Chỉ số giá tiêu dùng trên địa bàn thành phố 6 tháng đầu năm 2026 tăng 5,31% so với cùng kỳ, nguyên nhân chủ yếu là do giá thực phẩm tăng cao làm cho chỉ số giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng cao; nhóm nhà ở, nhóm điện và chất đốt cũng tăng cao. Chỉ số giá tiêu dùng thành phố tháng 6/2026 giảm 0,60% so với tháng trước, tăng 3,91% so với tháng 12 năm trước, tăng 5,58% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân giảm so với tháng trước chủ yếu do giá xăng dầu trong nước biến động giảm, giá gạo và thịt lợn giảm. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 05 nhóm hàng tăng giá so với tháng trước: Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,17%; Nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,11%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,10%; Thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,05%; Giáo dục tăng 0,01% so với tháng trước. Có 06 nhóm có chỉ số giảm so với tháng trước như: Giao thông giảm 4,71%; Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,37%; Thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,36%; May mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,34%; Thông tin và truyền thông giảm 0,13%; Đồ uống và thuốc lá giảm 0,05% so với tháng trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 6 tháng đầu năm 2026 tăng 5,31% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chính tăng giá do nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng cao (5,43%) khi giá thực phẩm, lương thực và ăn uống ngoài gia đình tăng cao; nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng cũng tăng cao (9,90%) khi nhóm nhà ở, nhóm ga và các loại chất đốt, nhóm điện và dịch vụ điện tăng cao do nhu cầu tiêu dùng tăng. Các nhóm hàng hóa dịch vụ còn lại có chỉ số giá bình quân 6 tháng đầu năm 2026 tăng khá so cùng kỳ năm trước: Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 6,15%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,50%; Giao thông tăng 4,35%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 3,87%; Giáo dục tăng 3,76%. - Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ Chỉ số giá vàng tháng 6/2026 giảm 8,11% so với tháng trước, giảm 2,52% so với tháng 12 năm trước và tăng 27,90% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 6 tháng đầu năm 2026 tăng 59,46% so với bình quân cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 6/2026 tăng 0,15% so với tháng trước, tăng 0,03% so với tháng 12 năm trước và tăng 0,72% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 6 tháng đầu năm 2026 tăng 1,85% so với bình quân cùng kỳ năm trước. 4. Hoạt động xuất nhập khẩu          Trong sáu tháng đầu năm 2026, hoạt động xuất nhập khẩu trên địa bàn thành phố Huế tiếp tục duy trì đà tăng trưởng. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước đạt 1.453,1 triệu USD, tăng 13,8%; trong đó kim ngạch xuất khẩu tăng 18,2%, cao hơn mức tăng của kim ngạch nhập khẩu (8,4%), đưa giá trị xuất siêu đạt 214,7 triệu USD. Nhóm hàng công nghiệp chế biến tiếp tục giữ vai trò chủ lực trong cơ cấu xuất khẩu, còn nhập khẩu chủ yếu phục vụ sản xuất và xuất khẩu của doanh nghiệp. 4.1. Xuất khẩu Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa sáu tháng đầu năm 2026 ước đạt 833,9 triệu USD, tăng 18,2% so với cùng kỳ và đạt 52,1% kế hoạch năm. Hầu hết các nhóm hàng xuất khẩu chủ lực đều tăng so với cùng kỳ. Trong đó, nhóm hàng công nghiệp chế biến tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn nhất với 587,6 triệu USD, tăng 14,1% và chiếm 70,5% tổng kim ngạch xuất khẩu; nhóm hàng nông, thủy sản đạt 93,8 triệu USD, tăng 70,0% và chiếm 11,2%; nhóm hàng khác đạt 152,5 triệu USD, tăng 13,0% và chiếm 18,3%. Một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu duy trì tăng trưởng khá như hàng may mặc, xơ sợi dệt, gỗ và sản phẩm gỗ. Hàng hóa của thành phố đã được xuất khẩu đến hơn 50 quốc gia và vùng lãnh thổ, tập trung ở các thị trường như Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, ASEAN, châu Âu… 4.2. Nhập khẩu Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa sáu tháng đầu năm 2026 ước đạt 619,2 triệu USD, tăng 8,4% so với cùng kỳ. Cơ cấu nhập khẩu chủ yếu phục vụ hoạt động sản xuất và xuất khẩu của doanh nghiệp. Trong đó, nhóm hàng cần nhập khẩu đạt 325,4 triệu USD, tăng 4,1% và chiếm 52,6% tổng kim ngạch nhập khẩu; nhóm hàng cần kiểm soát nhập khẩu đạt 90,5 triệu USD, tăng 6,3% và chiếm 14,6%; nhóm hàng hóa khác đạt 203,3 triệu USD, tăng 33,4% và chiếm 32,8%. Một số mặt hàng nhập khẩu có mức tăng cao gồm máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng; thủy sản; thép, hóa chất, chất dẻo nguyên liệu và cao su. Trong khi đó, nguyên phụ liệu dệt may giảm so với cùng kỳ. 5. Vốn đầu tư và xây dựng 5.1. Vốn đầu tư Thực hiện chỉ đạo của Trung ương, Thành ủy và HĐND thành phố, UBND thành phố Huế đã chủ động phân bổ kế hoạch vốn đầu tư công ngay từ đầu năm, đồng thời tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc nhằm đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án. Bên cạnh đó, hoạt động đầu tư phát triển trên địa bàn được triển khai tích cực với sự tham gia của cả khu vực ngoài nhà nước và khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Các dự án hạ tầng giao thông, đô thị, công nghiệp và dịch vụ trọng điểm tiếp tục được thực hiện, góp phần hoàn thiện kết cấu hạ tầng và tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế. Dự ước vốn đầu tư phát triển trong quý II/2026 dự ước đạt 9.708 tỷ đồng, đạt 24,2% so với kế hoạch năm, tăng 16,7% so với cùng kỳ. Tính chung 6 tháng đầu năm, tổng vốn đầu tư phát triển ước đạt 17.368 tỷ đồng, đạt 43,3% kế hoạch năm và tăng 13,2% so với cùng kỳ. Vốn đầu tư nhà nước trong quý II ước đạt 2.6034 tỷ đồng, chiếm 26,8% tổng nguồn vốn, tăng 17,6% so với cùng kỳ. Đưa tổng nguồn vốn nhà nước 6 tháng ước đạt 4.194 tỷ đồng, tăng 20,1% so cùng kỳ Trong đó : Vốn đầu tư do trung ương quản lý 6 tháng ước đạt 971 tỷ đồng, tăng 23,7% so cùng kỳ, chủ yếu nhờ việc tiếp tục triển khai đồng loạt nhiều dự án trọng điểm trên địa bàn như: Sửa chữa đập Thảo Long; Dự án mở rộng cao tốc Bắc Nam đoạn La Sơn - Hòa Liên đoạn đi qua thành phố Huế; Dự án mở rộng cao tốc Cam Lộ-La Sơn. Các đơn vị thi công đã huy động mọi nguồn lực tối đa để hoàn thành theo đúng tiến độ dự kiến đề ra. Vốn đầu tư do địa phương quản lý quý II/2026 ước đạt 2.075 tỷ đồng, tăng 29,3% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm, nguồn vốn này ước đạt 3.223 tỷ đồng, tăng 19,1% so với cùng kỳ. Nguồn vốn này tiếp tục tập trung cho các dự án trọng điểm như: đường Nguyễn Hoàng, đường Vành đai 3, Dự án Cải thiện môi trường nước thành phố Huế, các khu tái định cư và nghĩa trang phục vụ giải phóng mặt bằng tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam, cùng các dự án bảo tồn, tu bổ và phát huy giá trị Quần thể di tích Kinh thành Huế. Bên cạnh đó, UBND thành phố đang chỉ đạo quyết liệt tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ đối với một số dự án còn chậm như tuyến đường Tố Hữu đi sân bay Phú Bài, cầu Vỹ Dạ, cầu qua sông Như Ý và tuyến đường 100m thuộc Khu đô thị An Vân Dương. Đối với các công trình trường học tại khu vực A Lưới, thành phố đã huy động nhiều lực lượng hỗ trợ thi công nhằm bảo đảm hoàn thành trước năm học mới. Vốn ngoài nhà nước quý II/2026 ước đạt 6.296 tỷ đồng, bằng 23,7% kế hoạch năm, chiếm 64,8% tổng nguồn vốn và tăng 23,8% so với cùng kỳ. Tính chung 6 tháng đầu năm, nguồn vốn này ước đạt 11.604 tỷ đồng, bằng 43,7% kế hoạch năm, chiếm 66,8% tổng vốn đầu tư và tăng 16,8% so với cùng kỳ. Động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ việc triển khai nhiều dự án quy mô lớn trong và ngoài các khu kinh tế, khu công nghiệp như: bến tổng hợp - container số 4 và số 5 cảng Vsico Chân Mây; khu liên hợp sản xuất, lắp ráp Kim Long Motors Huế; nhà ở xã hội Chân Mây; nhà máy sản xuất kính hoa siêu trắng Đạt Phương; cùng nhiều dự án đô thị, nhà ở và thương mại như Khu đô thị phía đông đường Thủy Dương - Thuận An, tổ hợp nhà ở - thương mại - dịch vụ An Đông, Đào Tấn Diamond City, Eco Garden. Bên cạnh đó, hoạt động đầu tư trong dân tiếp tục duy trì tích cực, góp phần đưa vốn ngoài nhà nước chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài quý II/2026 ước đạt 809 tỷ đồng, chiếm 8,3% tổng nguồn vốn, đạt 18,6% kế hoạch năm, giảm 18,3% so với cùng kỳ năm. Tính chung 6 tháng đầu năm, nguồn vốn này ước đạt 1.570 tỷ đồng, giảm 18,3% so với cùng kỳ. Các dự án FDI chuyển tiếp tiếp tục thực hiện và hoàn thành đưa vào sử dụng như: nhà máy sản xuất mũ bảo hiểm EON Industry Việt Nam giai đoạn 2; nhà máy sản xuất Silicon Carbide độ tinh khiết cao của công ty Heyeu VN; nhà máy sản xuất cao su chịu lực của công ty Tayo Rubex VN; …Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn có 4 dự án FDI đăng ký mới với tổng số vốn đăng ký 125,6 triệu USD, đầu tư vào kết cấu hạ tầng công nghiệp; sản xuất linh kiện điện tử; tư vấn, thiết kế kiến trúc; dịch vụ. Nhìn chung, tình hình thực hiện vốn đầu tư trên địa bàn thành phố Huế trong sáu tháng đầu năm 2026 có nhiều chuyển biến tích cực. Thành phố tiếp tục ưu tiên nguồn lực cho các dự án hạ tầng giao thông trọng điểm, kết nối đô thị với sân bay, khu kinh tế và khu công nghiệp; đồng thời đầu tư hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật đô thị, hạ tầng khu kinh tế, khu công nghiệp và chỉnh trang không gian công cộng nhằm tạo động lực phát triển và thu hút đầu tư. 5.2. Hoạt động xây dựng Hoạt động xây dựng trên địa bàn thành phố Huế trong 6 tháng đầu năm 2026 duy trì đà tăng trưởng tích cực nhờ đầu tư công được đẩy mạnh, hạ tầng đô thị và du lịch tiếp tục được đầu tư, tạo nền tảng cho ngành xây dựng phát triển trong thời gian tới. Ngay từ đầu năm, thành phố đã điều chỉnh Chương trình phát triển đô thị loại II (đô thị xanh) và phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch thành phố Huế thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050, làm cơ sở triển khai các dự án hạ tầng, chỉnh trang đô thị và phát triển không gian phục vụ du lịch, hướng tới mục tiêu xây dựng Huế trở thành đô thị di sản, văn hóa, sinh thái và thông minh. Giá trị sản xuất ngành xây dựng quý II/2026 tiếp tục tăng khá so với cùng kỳ năm trước. Theo giá hiện hành, ước đạt 6.982 tỷ đồng, tăng 19,51%; theo giá so sánh năm 2020 đạt 5.149 tỷ đồng, tăng 7,52%. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, giá trị sản xuất ngành xây dựng theo giá hiện hành ước đạt 11.608 tỷ đồng, tăng 16,60%; theo giá so sánh năm 2020 đạt 8.803 tỷ đồng, tăng 7,35% so với cùng kỳ năm trước. Tăng trưởng của ngành chủ yếu được thúc đẩy bởi hai nhóm công trình là nhà ở và công trình kỹ thuật dân dụng. Đối với công trình nhà ở, nhiều dự án khu đô thị, nhà ở thương mại và nhà ở xã hội được đẩy nhanh tiến độ thi công, cùng với các dự án nhà máy sản xuấtvà công trình giáo dục, đã góp phần làm tăng giá trị sản xuất của ngành trong những tháng đầu năm. Đối với công trình kỹ thuật dân dụng, mức tăng trưởng chủ yếu đến từ việc triển khai và đẩy nhanh tiến độ các dự án hạ tầng trọng điểm, nhất là các công trình giao thông và khu công nghiệp quy mô lớn như giải phóng mặt bằng, tái định cư phục vụ đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam, mở rộng cao tốc Hòa Liên - La Sơn và La Sơn - Cam Lộ, đường Tố Hữu nối sân bay cùng nhiều dự án hạ tầng khác. Các dự án này có quy mô vốn lớn, khối lượng thi công cao, không chỉ tạo động lực tăng trưởng cho ngành xây dựng mà còn thúc đẩy các ngành vật liệu xây dựng, vận tải và lao động, đồng thời góp phần hoàn thiện kết cấu hạ tầng, tạo nền tảng cho phát triển kinh tế - xã hội trong dài hạn. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, ngành xây dựng vẫn chịu áp lực từ giá vật liệu xây dựng, chi phí nhân công và vận chuyển tăng, làm gia tăng chi phí đầu tư và ảnh hưởng đến tiến độ thi công của một số công trình. Vì vậy, mặc dù giá trị sản xuất theo giá hiện hành tăng cao nhưng tốc độ tăng trưởng theo giá so sánh năm 2020 chỉ đạt 7,35%, phản ánh chi phí đầu vào tăng đã làm giảm mức tăng trưởng thực của ngành. 6. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp Hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Huế sáu tháng đầu năm 2026 tiếp tục duy trì xu hướng tích cực. Tính đến thời điểm báo cáo, toàn thành phố có 600 doanh nghiệp thành lập mới với tổng vốn đăng ký đạt 9.109 tỷ đồng. Theo nhận định về xu hướng có 84,6% doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất, kinh doanh khả quan hơn và giữ ổn định so với quý trước và có 92,3% doanh nghiệp dự báo tình hình sản xuất, kinh doanh trong quý tiếp theo sẽ tốt hơn và tiếp tục duy trì ổn định so với quý II năm 2026. Tính đến thời điểm báo cáo, thành phố Huế có 600 DN thành lập mới với tổng số vốn đăng ký 317 tỷ đồng, tăng 75,0% so với cùng kỳ. Trong đó: Công ty cổ phần 37 DN; Công ty TNHH hai thành viên trở lên 172 DN; Công ty TNHH một thành viên 378; Doanh nghiệp tư nhân 13 DN; với số vốn đăng ký đạt 9.109 tỷ đồng. Số doanh nghiệp hoạt động trở lại 238 DN, số doanh nghiệp đã giải thể 164 DN, số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động 599 DN. Đánh giá tổng quan về tình hình SXKD, có 84,6% số DN đánh giá SXKD quý II/2026 của họ khả quan hơn và giữ ổn định so với quý I/2026 (trong đó 38,5% đánh giá thuận lợi và 46,1% đánh giá không thay đổi); 15,4% số DN đánh giá là khó khăn hơn. Các DN nhận định SXKD của quý III/2026 tốt hơn và giữ ổn định so với quý II/2026 chiếm 92,3% (trong đó 50,8% dự báo tốt lên và 41,5% dự báo giữ ổn định), có 7,7% số DN dự báo khó khăn hơn.          Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong quý II/2026, có 66,2% cho rằng tính cạnh tranh của hàng trong nước cao đã ảnh hưởng đến hoạt động sxkd của DN. Tiếp theo đó là các yếu tố: Nhu cầu thị trường trong nước thấp (58,5%), nhu cầu thị trường quốc tế thấp (55,4%), thiếu nguyên, nhiên, vật liệu (46,2%), thiết bị công nghệ lạc hậu (32,3%), tính cạnh tranh của hàng nhập khẩu cao và Không tuyển dụng được lao động theo yêu cầu (30,8%), lãi suất vay vốn cao (24,6%), khó khăn về tài chính (23,1%), lý do khác (15,4%), chính sách pháp luật của Nhà nước (13,9%), ... 7. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Trong sáu tháng đầu năm 2026, sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn thành phố Huế tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ổn định. Mặc dù chịu ảnh hưởng cục bộ của nắng nóng và xâm nhập mặn tại một số khu vực, nhưng nhìn chung điều kiện sản xuất cơ bản thuận lợi, dịch bệnh trên cây trồng và vật nuôi được kiểm soát tốt. Các địa phương chủ động triển khai giải pháp ứng phó thời tiết cực đoan, đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp điều kiện từng vùng, góp phần bảo đảm tiến độ sản xuất. Trong đó, trồng trọt đạt kết quả tích cực, lúa vụ Đông Xuân được mùa, vụ Hè Thu gieo cấy đúng khung thời vụ, năng suất và sản lượng nhiều loại cây trồng tăng so với cùng kỳ; chăn nuôi phục hồi nhờ giá bán sản phẩm duy trì ở mức thuận lợi, tạo điều kiện tái đàn; lâm nghiệp tăng khá do nhu cầu gỗ nguyên liệu tiếp tục gia tăng; thủy sản duy trì hoạt động ổn định. 7.1. Nông nghiệp * Cây hằng năm Tính đến ngày 20/6/2026, diện tích gieo cấy lúa vụ Hè Thu đạt 25.008 ha, giảm 1,0% so với cùng kỳ. Trong vụ này, nắng nóng cục bộ xảy ra trong tháng đã ảnh hưởng đến tiến độ gieo trồng một số loại cây, nhiều khu vực thiếu nước phải chuyển đổi sang cây trồng phù hợp hơn. Diện tích gieo trồng một số cây trồng hằng năm như sau: ngô đạt 1.004 ha, tăng 10,6%; khoai lang 438 ha, tăng 12,3%; lạc 1.775 ha, giảm 13,3%; rau các loại 3.153 ha, tăng 0,4%; đậu các loại 517 ha, tăng 0,8% so với cùng kỳ. Vụ Đông Xuân năm 2026 diễn ra trong điều kiện thời tiết khá thuận lợi, không xảy ra rét đậm, rét hại và không có mưa trái mùa. Diện tích gieo trồng cây lúa thành phố đạt 27.587 ha, giảm 1,1% so với vụ Đông Xuân năm 2025. Cơ cấu giống lúa vụ Đông Xuân tập trung giống ngắn ngày và cực ngắn chiếm 97%, giống dài và trung ngày (4B, Nếp,…) chiếm 3%. Các giống lúa thuộc nhóm chất lượng cao như HT1, HN6, J02, HG12, HG244,... có diện tích khoảng 15.994 ha. Tỷ lệ giống xác nhận trên 94%. Nhờ thời tiết thuận lợi cùng việc đẩy mạnh ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, công tác phòng trừ sâu bệnh được thực hiện hiệu quả, năng suất lúa vụ Đông Xuân năm 2026 tăng khá so với cùng kỳ. Năng suất lúa ước đạt 67,0 tạ/ha, tăng 4,7 tạ/ha, tương ứng tăng 7,6% so với vụ Đông Xuân năm 2025; sản lượng ước đạt 184.916 tấn, tăng 6,3%.         Năng suất và sản lượng hầu hết cây trồng hằng năm vụ Đông Xuân 2026 tăng so với cùng kỳ. Cụ thể, năng suất ngô đạt 44,9 tạ/ha, tăng 2,5%; khoai lang đạt 64,1 tạ/ha, tăng 6,5%; lạc đạt 26,0 tạ/ha, tăng 3,6%; rau các loại đạt 129,9 tạ/ha, tăng 2,9%. Về sản lượng, ngô đạt 4.134,4 tấn, tăng 6,0%; khoai lang 2.181 tấn, tăng 7,0%; sắn 21.820 tấn, tăng 4.162,3 tấn, tăng 23,6%. Ở chiều ngược lại, sản lượng một số cây giảm, gồm lạc đạt 4.195,9 tấn, giảm 12,6%; rau các loại 23.750,1 tấn, giảm 0,1% so với cùng kỳ. Nhìn chung, các loại cây trồng được gieo trồng, chăm sóc đúng khung thời vụ, sinh trưởng tốt; năng suất và sản lượng nhiều loại cây trồng đạt khá. Thị trường tiêu thụ nông sản tương đối ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất. * Cây lâu năm Ước tính đến ngày 30/6/2026, diện tích cây lâu năm trên địa bàn thành phố đạt 9.288 ha, giảm 120,4 ha, tương ứng giảm 1,3% so với cùng kỳ. Mặ dù tổng diện tích giảm nhưng cơ cấu cây lâu năm tiếp tục chuyển dịch theo hướng nâng cao hiệu quả kinh tế. Một số loại cây ăn quả có giá trị kinh tế cao vẫn duy trì xu hướng tăng, như chuối đạt 839 ha, tăng 1,2%; cam đạt 374 ha, tăng 0,9%; bưởi, thanh trà đạt 1.508 ha, tăng 1,0% so với cùng kỳ. Riêng, diện tích cây cao su giảm 3,2%, còn 4.755 ha, giảm tập trung chủ yếu tại các xã A Lưới 4 giảm 21 ha, A Lưới 5 giảm 35 ha và Bình Điền giảm 78 ha. Trong sáu tháng đầu năm 2026, sản lượng thu hoạch cây lâu năm tăng so với cùng kỳ nhờ điều kiện thời tiết thuận lợi và công tác chăm sóc được duy trì tốt. Sản lượng chuối ước đạt 8.628 tấn, tăng 1,8%; cam đạt 947 tấn, tăng 1,4%; bưởi, thanh trà đạt 3.545 tấn, tăng 1,9%. Trong khi đó, sản lượng mủ cao su đạt 2.105 tấn, giảm 3,0% do diện tích khai thác thu hẹp và năng suất vườn cây giảm. Cơ cấu diện tích cây lâu năm tiếp tục chuyển dịch theo hướng giảm diện tích các loại cây hiệu quả thấp, mở rộng các loại cây ăn quả có giá trị kinh tế và thị trường tiêu thụ thuận lợi, góp phần nâng cao giá trị sản xuất ngành trồng trọt. * Chăn nuôi Trong sáu tháng đầu năm 2026, hoạt động chăn nuôi trên địa bàn thành phố Huế tiếp tục phát triển ổn định; dịch bệnh trên đàn vật nuôi được kiểm soát tốt, công tác tiêm phòng, tiêu độc khử trùng và kiểm soát giết mổ được triển khai đồng bộ, góp phần bảo đảm an toàn dịch bệnh và duy trì tăng trưởng của ngành chăn nuôi. Ước tính đến ngày 30/6/2026, đàn trâu đạt 15.023 con, tăng 0,8% so với cùng kỳ; đàn bò đạt 31.030 con, tăng 5,3%; đàn lợn (không bao gồm lợn con chưa tách mẹ) đạt 129.613 con, giảm 0,8%; đàn gia cầm đạt 5.077 nghìn con, tăng 1,2%. Quy mô đàn vật nuôi trên địa bàn được duy trì ổn định. Đàn bò tăng khá nhờ hiệu quả kinh tế từ chăn nuôi bò thịt và việc mở rộng quy mô sản xuất của một số doanh nghiệp; đàn gia cầm tiếp tục tăng nhờ thị trường tiêu thụ thuận lợi. Riêng đàn lợn giảm nhẹ so với cùng kỳ, nhưng với giá lợn hơi duy trì ở mức cao, tạo điều kiện cho các cơ sở chăn nuôi tái đàn và mở rộng sản xuất trong thời gian đến, góp phần bảo đảm nguồn cung thực phẩm cho thị trường trong những tháng cuối năm. Sản lượng thịt gia súc, gia cầm xuất chuồng trong sáu tháng đầu năm 2026 trên địa bàn đạt mức tăng trưởng khá nhờ hoạt động chăn nuôi ổn định, giá bán sản phẩm thuận lợi và nhu cầu tiêu dùng thực phẩm tăng. Sản lượng thịt trâu hơi ước đạt 476 tấn, tăng 1,3% so với cùng kỳ; thịt bò 673 tấn, tăng 4,3% so với cùng kỳ; thịt lợn 9.828 tấn, tăng 4,1%; thịt gia cầm 9.474 tấn, tăng 3,7%, trong đó thịt gà 5.776 tấn, tăng 4,4%; thịt vịt đạt 3.208 tấn, tăng 3,0% so với cùng kỳ. Công tác phòng chống dịch bệnh cho đàn vật nuôi: tính đến 20/6/2026, thành phố đã tiêm được 20.284 liều vắc xin Tụ huyết trùng trâu bò (63% kế hoạch), 24.728 liều vắc xin tam liên lợn (96%), 5.800 liều E.coli (96%), 450.000 liều cúm gia cầm (90%), 363.800 liều dịch tả vịt (76%), 627.595 liều vắc-xin gia cầm, 50.750 liều LMLM (82%). 7.2. Lâm nghiệp Tình hình sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn thành phố Huế sáu tháng đầu năm 2026 cơ bản ổn định. Công tác quản lý, bảo vệ rừng được tăng cường, góp phần nâng cao độ che phủ rừng, bảo vệ môi trường sinh thái và bảo đảm nguồn nguyên liệu cho chế biến lâm sản. Diện tích rừng trồng mới tập trung trong tháng ước đạt 652 ha, tăng 1,2% so với cùng kỳ. Lũy kế 6 tháng đầu năm trồng được 4.427 ha, tăng 68 ha, tương ứng tăng 1,6%, chủ yếu là rừng sản xuất (chiếm 98,6%) với các loại cây trồng chính như keo, tràm. Phần lớn diện tích được trồng gối sau khai thác; đồng thời tiếp tục thực hiện chuyển đổi từ rừng gỗ nhỏ sang rừng gỗ lớn nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế rừng trồng. Sản lượng gỗ khai thác: ước thực hiện trong tháng sản lượng gỗ khai thác đạt 98,9 nghìn m3, tăng 6,6 nghìn m3, tương ứng tăng 7,2% so với cùng kỳ. Luỹ kế 6 tháng đầu năm sản lượng khai thác gỗ đạt 436,9 nghìn m3, tăng 30,9 nghìn m3, tương ứng tăng 7,6%, là yếu tố chính đóng góp vào tăng trưởng ngành lâm nghiệp. Sản lượng tăng do nhu cầu nguyên liệu cho chế biến dăm gỗ, viên nén và bột giấy duy trì ở mức cao, thị trường tiêu thụ và giá thu mua ổn định. Trong tháng 6 không ghi nhận vụ cháy rừng. Có 7 vụ phá rừng xảy ra với diện tích thiệt hại 0,62 ha, đều là rừng tự nhiên; nguyên nhân chủ yếu do người dân chuyển đổi đất rừng sang sản xuất. Tính chung 6 tháng đầu năm, toàn thành phố xảy ra 35 vụ phá rừng, diện tích thiệt hại 4,4 ha, tăng 21 vụ và tăng 2,8 ha so với cùng kỳ. Diễn biến phá rừng vẫn còn phức tạp tại một số địa phương, đòi hỏi tiếp tục tăng cường các biện pháp quản lý, bảo vệ rừng trong thời gian tới. 7.3. Thủy sản Hoạt động thủy sản trên địa bàn thành phố Huế tháng 6 năm 2026 duy trì ổn định, không xảy ra dịch bệnh và thiệt hại lớn.Ước tính tổng sản lượng thủy sản trong tháng đạt 10.133 tấn, tăng 4,0% so với cùng kỳ. Lũy kế tổng sản lượng thủy sản 6 tháng đầu năm ước đạt 35.003 tấn, tăng 4,2% so với cùng kỳ, trong đó: sản lượng thủy sản khai thác đạt 25.744 tấn, tăng 4,2%; sản lượng nuôi trồng thủy sản đạt 9.259 tấn, tăng 4,3%. Nuôi trồng thủy sản: hoạt động nuôi trồng được kiểm soát chặt chẽ, công tác phòng, chống dịch bệnh được triển khai hiệu quả, không để xảy ra dịch bệnh lớn. Diện tích nuôi thâm canh tôm sú và tôm thẻ chân trắng trong tháng ước đạt 52 ha, tăng 3,0% so với cùng kỳ. Lũy kế 6 tháng đầu năm ước đạt 482 ha, tăng 1,7%. Sản lượng nuôi trồng thủy sản trong tháng ước đạt 3.913 tấn, tăng 3,8% so với cùng kỳ. Lũy kế 6 tháng đầu năm ước đạt 9.259 tấn, tăng 4,3%, trong đó cá 5.655 tấn, tăng 4,0%; tôm 3.167 tấn, tăng 4,9%; thủy sản khác 437 tấn, tăng 3,6% so với cùng kỳ. Khai thác thủy sản: hoạt động khai thác diễn ra trong điều kiện thời tiết thuận lợi, tập trung chủ yếu ở khai thác biển. Hiện nay, sản lượng thủy sản biển dồi dào, ngư dân tích cực vươn khơi khai thác các loài chủ yếu như cá ngừ, cá thu, cá nục, cá trích, cá hố… Tổng số tàu thuyền khai thác biển có động cơ và tàu dịch vụ hậu cần tại thời điểm 01/6/2026 là 2.197 chiếc, giảm 2,0% so với cùng kỳ, trong đó tàu có công suất từ 90CV trở lên đạt 430 chiếc, chiếm 19,6%. Nhiều tàu cá đã được đầu tư nâng cấp trang thiết bị, ngư cụ nhằm nâng cao hiệu quả khai thác và phát triển nghề cá bền vững. Sản lượng thủy sản khai thác trong tháng đạt 6.220 tấn, tăng 4,2% so với cùng kỳ; trong đó sản lượng khai thác biển trong tháng ước đạt 5.654 tấn, tăng 4,4%. Lũy kế 6 tháng đầu năm sản lượng thủy sản khai thác ước đạt 25.744 tấn, tăng 4,2% so với cùng kỳ; trong đó khai thác biển đạt 23.849 tấn, tăng 4,3%, gồm cá 20.950 tấn, tăng 4,4%; tôm 556 tấn, tăng 4,1%; thủy sản khác 2.343 tấn, tăng 3,9%. Trong kỳ, không ghi nhận trường hợp tàu cá vi phạm quy định khai thác bất hợp pháp (IUU), cho thấy hiệu quả công tác quản lý nghề cá và ý thức chấp hành của ngư dân tiếp tục được nâng cao. 8. Sản xuất công nghiệp Trong sáu tháng đầu năm 2026, hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn thành phố Huế chịu tác động của việc chi phí năng lượng tăng cao, làm gia tăng chi phí đầu vào và tạo áp lực đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp. Tuy nhiên, với sự phục hồi và tăng trưởng tích cực của một số ngành công nghiệp chủ lực như sản xuất ô tô, bia và sợi, ngành công nghiệp của thành phố vẫn duy trì được đà tăng trưởng khá. Bên cạnh đó, năng lực sản xuất tiếp tục được mở rộng khi một số dự án mới đi vào hoạt động, tiêu biểu như Nhà máy sản xuất mũ bảo hiểm Eon Industry Việt Nam, dự án sản xuất thạch anh bán dẫn của Công ty TNHH America Quartz Technology và dự án mở rộng Nhà máy sản xuất đồ chơi Billionmax Việt Nam. Các dự án này đã góp phần nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp, tạo thêm việc làm và thúc đẩy tăng trưởng của toàn ngành. Ước tính chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 6 năm 2026 tăng 10,3% so với tháng cùng kỳ; tính chung 6 tháng đầu năm 2026, chỉ số IIP tăng 10,2% so với cùng kỳ. Chỉ số IIP tháng 6 năm 2026 tăng 10,3% so với cùng kỳ, trong đó: ngành công nghiệp khai khoáng giảm 7,3%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 17,1%; sản xuất và phân phối điện giảm 7,0%; cấp nước và thu gom rác thải tăng 3,8%. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026 chỉ số IIP tăng 10,2% so với cùng kỳ, trong đó: ngành công nghiệp khai khoáng tăng 9,3%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13,4%; cấp nước và thu gom rác thải tăng 6,8%. Riêng sản xuất và phân phối điện giảm 13,2%. Các ngành công nghiệp cấp 4 trong sáu tháng đầu năm 2026 có chỉ số sản xuất tăng so với cùng kỳ: khai thác quặng kim loại (+12,0%); sản xuất đồ uống có cồn (+22,6%); sản xuất sợi (+9,3%); may trang phục (+5,1%); Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (+10,3%); sản xuất sản phẩm khác từ cao su (+16,3%); sản xuất sản phẩm từ plastic (+119,4%); sản xuất xi măng, vôi, thạch cao (+8,8%); sản xuất ô tô (+25,4%); sản xuất linh kiện điện tử (+4,9 lần); sản xuất đồ chơi (+29,3%); sản xuất khác chưa được phân vào đâu (+7,3 lần)...          Bên cạnh những dấu hiệu tích cực, hiện nay một số ngành sản xuất công nghiệp vẫn đang gặp không ít khó khăn, dự ước các ngành công nghiệp cấp 4 trong sáu tháng đầu năm 2026 có chỉ số sản xuất giảm so với cùng kỳ như: sản xuất vật liệu xây dựng từ đất sét (-9,1%); sản xuất giường, tủ, bàn ghế gỗ (-11,6%); sản xuất, truyền tải và phân phối điện (-13,2%)...         Các sản phẩm công nghiệp ước sáu tháng đầu năm 2026 tăng so với cùng kỳ: quặng inmenit và tinh quặng inmenit 11,8 nghìn tấn (+12,0%); đồ uống có cồn 172,2 triệu lít (+18,4%); sợi 64,6 nghìn tấn (+14,5%); quần áo lót cho người lớn không dệt kim hoặc đan móc 186,4 triệu cái (+5,1%); vỏ bào, dăm gỗ 464,4 nghìn tấn (+19,5%); găng tay, găng hở ngón và găng bao tay bằng cao su lưu hoá 8,3 nghìn tấn (+17,1%); hàng may mặc và đồ phụ trợ may mặc bằng plastic 8,5 nghìn tấn (+47,3%); ô tô 2.599 chiếc (+23,0%)... Các sản phẩm công nghiệp sáu tháng đầu năm 2026 giảm so với cùng kỳ: cát trắng chế biến 36,8 triệu m3 (-11,1%); giấy và bìa nhăn 2.551 tấn (-12,6%); tấm lát đường và vật liệu lát, gạch ốp tường 4.675 nghìn m2 (-23,3%); đôlômít đã nung hoặc nung kết, hỗn hợp đôlômít dạng nén 107,6 nghìn tấn (-6,2%); các sản phẩm bằng đá hoặc bằng các chất liệu khoáng khác chưa được phân vào đâu 19,3 nghìn tấn (-48,3%); điện sản xuất 857 triệu Kwh (-20,9%)… 9. Thương mại, dịch vụ Trong sáu tháng đầu năm 2026, hoạt động thương mại, dịch vụ trên địa bàn thành phố Huế duy trì đà tăng trưởng khá, nhờ nhu cầu tiêu dùng dân cư tăng, cùng sự phát triển mạnh của ngành du lịch và tác động lan tỏa từ chuỗi sự kiện văn hóa, lễ hội diễn ra liên tục trong nửa đầu năm. Nổi bật là các hoạt động thuộc khuôn khổ Festival Huế 2026 như tuần lễ Festival nghệ thuật quốc tế Huế, hội chợ Festival Huế 2026, ngày hội Sen Huế, Festival mùa Hạ, cùng các sự kiện văn hóa - du lịch đặc sắc như Tuần lễ Phật đản, lễ hội Ẩm thực chay, ngày hội làng Dương Nỗ, chương trình quảng bá “Lăng Cô - Vịnh đẹp thế giới”, ngày hội văn hóa, thể thao và du lịch các dân tộc miền núi. Bên cạnh đó, các kỳ nghỉ lễ kéo dài như Tết Nguyên đán, giỗ tổ Hùng Vương và lễ 30/4 - 01/5 đã thu hút lượng lớn du khách trong và ngoài nước đến tham quan, nghỉ dưỡng và mua sắm, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng thương mại, lưu trú, ăn uống, lữ hành và vận tải trên địa bàn thành phố. 9.1. Bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng sáu tháng đầu năm 2026 duy trì mức tăng trưởng khá, phản ánh sức mua trên thị trường được cải thiện và sự phát triển tích cực của các hoạt động dịch vụ. Đặc biệt, nhóm dịch vụ lưu trú, ăn uống và lữ hành đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn mức tăng chung, cho thấy du lịch tiếp tục là động lực quan trọng thúc đẩy khu vực thương mại, dịch vụ của thành phố. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 6/2026 ước đạt 6.603 tỷ đồng, tăng 4,0% so với tháng trước và tăng 19,8% so với cùng kỳ. Chia theo ngành kinh tế: Doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 4.512 tỷ đồng, chiếm 68,3% tổng số, tăng 1,5% so với tháng trước và tăng 14,8% so với cùng kỳ, nguyên nhân tăng so với tháng trước là do giá bán lẻ xăng dầu được điều chỉnh tăng và nhu cầu đi lại của người dân, du khách tăng trong mùa hè; thời tiết thuận lợi cho hoạt động xây dựng dân sinh và sửa chữa nhà ở; nhu cầu mua sắm phục vụ du lịch và mùa hè; các cơ sở kinh doanh vật phẩm giáo dục chuẩn bị nguồn hàng cho năm học mới. Doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống tháng 6/2026 ước đạt 1.590 tỷ đồng, chiếm 24,1%, tăng 11,9% so với tháng trước và tăng 35,9% so với cùng kỳ. Doanh thu dịch vụ lữ hành ước đạt 42 tỷ đồng, chiếm 0,6%, tăng 16,7% và tăng 35,4%. Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 459 tỷ đồng, chiếm 7,0%, tăng 3,4% và tăng 20,5%. Dự ước tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng quý II/2026 đạt 18.289 tỷ đồng, tăng 18,1% so với cùng kỳ, trong đó, doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 13.068 tỷ đồng, tăng 15,4%; dịch vụ lưu trú và ăn uống đạt 3.732 tỷ đồng, tăng 23,6%; du lịch lữ hành 109 tỷ đồng, tăng 18,0%; dịch vụ khác đạt 1.379 tỷ đồng, tăng 30,6%. Đưa tổng mức bán lẻ hàng hóa doanh thu dịch vụ tiêu dùng 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 37.456 tỷ đồng, tăng 17,9% so với cùng kỳ. Trong đó: doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 26.425 tỷ đồng, chiếm 70,5% tổng số và tăng 15,1%; dịch vụ lưu trú và ăn uống 8.082 tỷ đồng, chiếm 21,6% và tăng 26,5%; du lịch lữ hành 218 tỷ đồng, chiếm 0,6% và tăng 21,0%; dịch vụ khác 2.731 tỷ đồng, chiếm 7,3% và tăng 22,6%. 9.2. Vận tải hành khách và hàng hóa Trong sáu tháng đầu năm 2026, các hoạt động văn hóa, du lịch, lễ hội diễn ra sôi động cùng với sự gia tăng lượng khách du lịch đến Huế đã tác động tích cực đến hoạt động vận tải hành khách. Đồng thời, nhiều dự án đầu tư xây dựng được triển khai trên địa bàn đã làm gia tăng nhu cầu vận chuyển nguyên vật liệu, thiết bị phục vụ thi công, góp phần thúc đẩy vận tải hàng hóa tăng trưởng khá. Dự ước hành khách vận chuyển tháng 6/2026 đạt 4,5 triệu hành khách, tăng 3,5% so với tháng trước và tăng 23,0% so với cùng kỳ; hành khách luân chuyển đạt 222,9 triệu hành khách.km, tăng 3,3% so với tháng trước và tăng 23,8% so với cùng kỳ. Dự ước vận tải hành khách quý II/2026 đạt 13,2 triệu hành khách, tăng 20,5% so với cùng kỳ và 531,8 triệu hành khách.km, tăng 21,6%. Đưa vận tải hành khách 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 25,5 triệu hành khách, tăng 20,9% so với cùng kỳ và luân chuyển ước đạt 1.250,9 triệu hành khách.km, tăng 21,4%. Dự ước hàng hóa vận chuyển tháng 6/2026 ước đạt 2,4 triệu tấn, tăng 2,0% so với tháng trước và tăng 13,8% so với cùng kỳ; hàng hóa luân chuyển đạt 202,5 triệu tấn.km, tăng 2,2% so với tháng trước và tăng 13,3% so với cùng kỳ. Dự ước vận tải hàng hóa quý II/2026 đạt 7,2 triệu tấn, tăng 14,3% và 595,5 triệu tấn.km, tăng 13,8% so với cùng kỳ. Đưa hàng hóa vận chuyển 6 tháng năm 2026 ước đạt 14,2 triệu tấn, tăng 15,1% và luân chuyển hàng hóa đạt 1.176,4 triệu tấn.km, tăng 14,6% so với cùng kỳ. Dự ước doanh thu vận tải và bốc xếp tháng 6 năm 2026 đạt 626,7 tỷ đồng, tăng 2,5% so với tháng trước và tăng 19,8% so với cùng kỳ. Doanh thu vận tải, bốc xếp quý II/2026 ước đạt 1.834,7 tỷ đồng, tăng 19,2% so với cùng kỳ. Đưa doanh thu vận tải, bốc xếp 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 3.588,3 tỷ đồng, tăng 19,7% so với cùng kỳ. Chia theo loại hình dịch vụ: doanh thu vận tải hành khách ước đạt 798,5 tỷ đồng, tăng 23,4%; vận tải hàng hóa ước đạt 2.437,1 tỷ đồng, tăng 16,3%; dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 352,7 tỷ đồng, tăng 38,2%. Trong đó doanh thu vận tải bao gồm: đường bộ đạt 3.232,2 tỷ đồng, tăng 18,0%; đường sông đạt 3,4 tỷ đồng, tăng 25,0%. 9.3. Lượt khách các cơ sở lưu trú phục vụ và du lịch lữ hành Hoạt động du lịch trên địa bàn thành phố trong sáu tháng đầu năm 2026 diễn ra khá sôi động nhờ hiệu ứng tích cực từ các kỳ nghỉ lễ, Festival bốn mùa và nhiều chương trình kích cầu du lịch được tổ chức đồng bộ. Các cơ sở lưu trú, lữ hành và dịch vụ du lịch tiếp tục nâng cao chất lượng phục vụ, đa dạng hóa sản phẩm du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của du khách. Dự ước lượt khách do cơ sở lưu trú phục vụ tháng 6/2026 đạt 267,7 nghìn lượt khách, tăng 4,6% so với tháng trước và tăng 25,1% so với cùng kỳ. Trong đó, lượt khách ngủ qua đêm tháng 6/2026 ước đạt 223 nghìn lượt khách, tăng 3,4% so với tháng trước và tăng 27,5% so với cùng kỳ; lượt khách trong ngày đạt 44,7 nghìn lượt khách, tăng 11,2% và tăng 14,4%. Lượt khách lưu trú quý II/2026 đạt 784,6 nghìn lượt khách, tăng 22,2%; lượt khách qua đêm quý II/2026 đạt 660,5 nghìn lượt khách, tăng 24,3%; lượt khách trong ngày đạt 124,1 nghìn lượt khách, tăng 11,9%. Đưa lượt khách do các cơ sở lưu trú phục vụ sáu tháng đầu năm 2026 đạt 1.512,1 nghìn lượt, tăng 21,1% so với cùng kỳ. Trong đó, lượt khách ngủ qua đêm sáu tháng đầu năm đạt 1.275,4 nghìn lượt, tăng 23,4% so cùng kỳ. Trong lượt khách ngủ qua đêm, khách quốc tế 457,8 nghìn lượt, tăng 19,4%; khách trong nước 817,6 nghìn lượt, tăng 25,8% so với cùng kỳ. Lượt khách trong ngày sáu tháng đầu năm 2026 đạt 236,7 nghìn lượt, tăng 10,1% so với cùng kỳ. Ngày khách dự ước tháng 6/2026 đạt 386,3 nghìn ngày, tăng 3,8% so với tháng trước và tăng 31,9% so với cùng kỳ. Trong đó: Ngày khách quốc tế đạt 79,8 nghìn ngày, giảm 16,8% so với tháng trước và tăng 18,6% so với cùng kỳ; ngày khách trong nước đạt 306,5 nghìn ngày, tăng 11,0% so với tháng trước và tăng 35,8% so với cùng kỳ. Ngày khách dự ước quý II đạt 1.097,4 nghìn ngày, tăng 23,5%; chia ra: ngày khách quốc tế quý II/2026 ước đạt 301,3 nghìn ngày, tăng 11,7%; ngày khách trong nước quý II đạt 796,1 nghìn ngày, tăng 28,6%. Đưa ngày khách dự ước sáu tháng đầu năm đạt 2.164,7 nghìn ngày, tăng 25,1% so với cùng kỳ. Trong đó: Ngày khách quốc tế đạt 808,5 nghìn ngày, tăng 20,6%; ngày khách trong nước đạt 1.356,2 nghìn ngày, tăng 28,1%.Lượt khách phục vụ của các cơ sở lữ hành thực hiện tháng 6/2026 ước đạt 22,4 nghìn lượt, tăng 9,8% với tháng trước và tăng 31,8% so với cùng kỳ; lượt khách lữ hành quý II ước đạt 64,6 nghìn lượt, tăng 24,7%; đưa lượt khách sáu tháng đầu năm ước đạt 127,7 nghìn lượt, tăng 21,4% so với cùng kỳ. Ngày khách theo tour ước thực hiện tháng 6/2026 là 51,3 nghìn ngày, tăng 7,1% so với tháng trước và tăng 31,8% so với cùng kỳ; ngày khách theo tour quý II/2026 ước đạt 149,5 nghìn ngày, tăng 30,3%; đưa ngày khách theo tour sáu tháng đầu năm ước đạt 279,7 nghìn ngày khách, tăng 24,4% so với cùng kỳ.10. Các vấn đề xã hội10.1. Lao động việc làm Trong sáu tháng đầu năm 2026, thành phố đã giải quyết việc làm cho 10.985 lao động (đạt 61,03% Kế hoạch), trong đó đưa 1.320 người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (đạt 55% kế hoạch). Bên cạnh đó, sự khởi sắc của các hoạt động dịch vụ và du lịch, đã thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước, góp phần gia tăng nhu cầu lao động trong các ngành dịch vụ, lưu trú, ăn uống và vận tải, qua đó tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động và thúc đẩy phát triển thị trường lao động trên địa bàn.10.2. Đời sống dân cưTrong sáu tháng đầu năm 2026, tình hình kinh tế xã hội trên địa bàn thành phố tiếp tục duy trì đà tăng trưởng và phát triển tích cực, tạo nền tảng thuận lợi cho việc nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân. Sự phát triển của các ngành kinh tế đã góp phần tạo thêm việc làm, nâng cao thu nhập và cải thiện điều kiện sống của người dân. Bên cạnh đó, các chính sách an sinh xã hội và hỗ trợ giải quyết việc làm được triển khai kịp thời, đầy đủ và đúng đối tượng. Tổng hợp kết quả khảo sát mức sống dân cư 6 tháng năm 2026, thu nhập bình quân đầu người của toàn thành phố tăng 11,2% so với cùng kỳ. 10.3. Chính sách xã hội Chính sách người có công: Công tác chăm lo người có công với cách mạng tiếp tục được thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng đối tượng và đúng quy định. Sáu tháng đầu năm 2026, toàn thành phố chi trả trợ cấp hàng tháng và hỗ trợ đột xuất với tổng số tiền 252,1 tỷ đồng. Trong đó, dịp tết Nguyên đán đã trao tặng 60.231 suất quà, tổng kinh phí 17,7 tỷ đồng. Chương trình “Hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát cho con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học” trên địa bàn thành phố được triển khai hiệu quả. Thành phố đã phê duyệt danh sách 83 hộ cần hỗ trợ, với tổng kinh phí 3,7 tỷ đồng; trong đó có 40 hộ xây mới và 43 hộ sửa chữa nhà ở. Đây là hoạt động có ý nghĩa nhân văn sâu sắc, thể hiện trách nhiệm, tình cảm và đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa”.Bảo trợ xã hội: Các chính sách đối với những đối tượng bảo trợ xã hội trên địa bàn thành phố tiếp tục được triển khai và thực hiện có hiệu quả. Hỗ trợ cho các đối tượng bảo trợ xã hội theo Nghị định 20/2021/NĐ-CP trong 6 tháng đầu năm, thành phố đã chi trả với tổng số tiền là 338,4 tỷ đồng. Việc chi trả được thực hiện kịp thời, đầy đủ, đúng đối tượng, đảm bảo mức hỗ trợ theo quy định, góp phần ổn định và nâng cao đời sống người dân. Đến nay trên địa bàn thành phố có 79.631 đối tượng bảo trợ xã hội đang hưởng trợ cấp xã hội, trợ cấp hưu trí xã hội tại cộng đồng, với tổng kinh phí chi trả 52,1 tỷ đồng/tháng.Công tác giảm nghèo: thành phố triển khai nhiều chính sách hỗ trợ đối với hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn và các hộ chính sách xã hội khác không trùng với các đối tượng tại Nghị định 20/2021/NĐ-CP. Các chính sách tập trung vào những lĩnh vực thiết yếu như hỗ trợ giáo dục, tín dụng ưu đãi, đào tạo nghề, giải quyết việc làm, phát triển sản xuất, hỗ trợ về nhà ở. Sáu tháng đầu năm đã hỗ trợ 20,7 tỷ đồng, giảm 16,5% so với cùng kỳ năm 2025; qua đó khẳng định nỗ lực của thành phố trong việc duy trì chính sách giảm nghèo bền vững và bảo đảm mọi đối tượng khó khăn đều được quan tâm, hỗ trợ kịp thời.10.4. Giáo dục và đào tạoNăm học 2025-2026, thành phố có 566 trường mầm non và phổ thông (trường Mầm non: 206; trường Tiểu học: 191; trường THCS: 129 (trong đó TH&THCS: 19, trường THCS: 110); trường THPT: 40 (trong đó trường THCS&THPT:2; trường TH&THCS&THPT: 2); có 4 trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên khu vực 1, 2, 3, 4 và 1 trung tâm Giáo dục thường xuyên thành phố. Hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học được quan tâm đầu tư. Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia đạt 78,48%, trong đó: cấp MN 70,5%, cấp TH 89,5%, cấp THCS 82,2% và cấp THPT 55%.Năm học 2025-2026, thành phố Huế tiếp tục khẳng định vị thế là địa phương có chất lượng giáo dục mũi nhọn hàng đầu cả nước. Tại Kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia THPT, có 90/108 học sinh đạt giải, đạt tỷ lệ 83,3% (tỷ lệ chung toàn quốc 59%), tăng 4,6% so với năm học 2024–2025 (78,7%). Kết quả gồm 04 giải Nhất, 20 giải Nhì, 34 giải Ba và 32 giải Khuyến khích; 100% môn thi có học sinh đạt giải. Trường THPT Chuyên Khoa học Huế có 37 học sinh dự thi, trong đó có 04 học sinh đạt giải. Có 05 học sinh được lựa chọn vào vòng 2 để tiếp tục bồi dưỡng, tuyển chọn tham gia các đội tuyển dự thi Olympic quốc tế, gồm: Tin học (01), Vật lí (02), Sinh học (01), Hóa học (01). Trong đó có 01 em được chọn tham gia Kỳ thi Olympic Tin học Châu Á – Thái Bình Dương. Có 01 học sinh đạt giải Nhì cuộc thi Quý chương trình Đường lên đỉnh Olympia năm thứ 26 (học sinh Trường THPT Nguyễn Huệ).Chiều ngày 12/6, diễn ra Vòng Bán kết cuộc thi “Giải pháp đổi mới sáng tạo Đại học Huế lần thứ 2, năm 2026”. Quy tụ 20 đội thi tiêu biểu được tuyển chọn từ cấp cơ sở, đại diện cho tinh thần đổi mới sáng tạo của đội ngũ viên chức, người lao động, sinh viên toàn Đại học Huế. Nhiều dự án được đánh giá cao nhờ tính sáng tạo, khả năng ứng dụng thực tiễn, tiềm năng phát triển và tác động tích cực đối với cộng đồng. 10.5. Tình hình y tế, dịch bệnh Sở Y tế đã ban hành Kế hoạch 1249/KH-SYT ngày 16/03/2026 về kế hoạch phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2026 trên địa bàn thành phố Huế. Đồng thời, để chủ động triển khai các hoạt động phòng, chống dịch, không để dịch bệnh bùng phát và lây lan diện rộng, Sở Y tế đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo triển khai các biện pháp phòng, chống dịch bệnh, đảm bảo tất cả ca bệnh được phát hiện từ sớm.Hoạt động khám chữa bệnh BHYT trên toàn thành phố 6 tháng đầu năm 2026: Tổng số lượt khám chữa bệnh BHYT là 1.028.297 lượt, trong đó 896.788 lượt khám chữa bệnh ngoại trú và 131.509 lượt khám chữa bệnh nội trú.Tháng 6/2026, trên địa bàn có 62 ca sốt xuất huyết, tăng 44 ca so cùng kỳ; có 14 ca mắc tay chân miệng, giảm 7 ca so với cùng kỳ. Sáu tháng đầu năm, trên địa bàn có 137 ca sốt xuất huyết, tăng 8 ca so cùng kỳ; có 186 ca mắc tay chân miệng, tăng 57 ca so với cùng kỳ; 4 ca liên cầu lợn, tăng 4 ca so với cùng kỳ. Tháng 5/2026, trên địa bàn đã phát hiện 5 ca nhiễm mới HIV, giảm 7 ca so cùng kỳ; 1 ca chuyển qua AIDS, giảm 1 ca so với cùng kỳ; không có ca tử vong, bằng cùng kỳ. Năm tháng đầu năm, trên địa bàn có 28 ca nhiễm mới HIV, giảm 17 ca so cùng kỳ; 5 ca chuyển qua AIDS, giảm 6 ca so với cùng kỳ; 1 ca tử vong, giảm 1 ca so với cùng kỳ. Hiện tại, trên địa bàn có 605 bệnh nhân đang được quản lý và điều trị tại các cơ sở y tế, trong đó có 600 bệnh nhân điều trị ARV.Tháng 6/2026, trên địa bàn xảy ra 1 vụ ngộ độc thực phẩm, tăng 1 vụ so với cùng kỳ, làm 4 người bị ngộ độc và không có người chết. Sáu tháng đầu năm, trên địa bàn xảy ra 3 vụ ngộ độc thực phẩm, tăng 3 vụ so với cùng kỳ, làm 29 người bị ngộ độc và không có người chết.10.6. Hoạt động văn hóa, thể thao Trong 6 tháng đầu năm 2026, tổ chức thành công các lễ hội, sự kiện văn hóa: Lễ hội Đền Huyền Trân năm 2026 với chủ đề “Ngưỡng vọng tiền nhân - Dấu thiêng mở cõi”; Lễ hội Điện Huệ Nam tháng 3 Âm lịch. Ngày hội Văn hóa, Thể thao và Du lịch các dân tộc miền núi thành phố Huế từ ngày 29/5/2026 đến ngày 31/5/2026 tại các xã A Lưới 1, A Lưới 2, A Lưới 3 với nhiều hoạt động phong phú, sôi động, thu hút hơn 20.000 du khách và Nhân dân tham gia.Tổ chức và phối hợp tổ chức nhiều giải thể thao quốc gia trên địa bàn thành phố, tiêu biểu như: Giải Cờ vua - Cờ tướng trẻ miền Trung lần thứ XXII và Giải Bơi, Lặn vô địch quốc gia (bể 25m) năm 2026; Giải vô địch Đá cầu xuất sắc quốc gia; Giải vô địch các Câu lạc bộ Vật cổ điển, Vật tự do quốc gia, Giải vô địch Bóng rổ 3x3 U20, U23 quốc gia. Kết quả thi đấu đạt nhiều thành tích nổi bật với 250 huy chương các loại, gồm 74 HCV, 67 HCB và 109 HCĐ. Bên cạnh đó, tổ chức nhiều hoạt động thể thao quần chúng nổi bật như các hoạt động mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ; Tháng hoạt động thể dục thể thao cho mọi người và Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân; Giải Việt dã truyền thống thành phố Huế lần thứ XXXIV; Giải Marathon VNExpress Huế 2026 với hơn 8.000 người tham dự. Đồng thời, phối hợp tổ chức nhiều giải thể thao phong trào, giải truyền thống và giải học sinh như Giải Pickleball Huế mở rộng, Giải chạy “Chinh phục đỉnh Bạch Mã”, Giải bóng đá truyền thống học sinh THPT thành phố Huế lần thứ VI năm 2026. Phong trào TDTT cho người cao tuổi, người khuyết tật và gia đình thể thao tiếp tục được quan tâm; Chương trình bơi an toàn, phòng chống đuối nước trẻ em giai đoạn 2021 - 2030 được duy trì triển khai hiệu quả. Các hoạt động thể thao quần chúng góp phần nâng cao đời sống tinh thần, tăng cường sức khỏe nhân dân, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh và quảng bá hình ảnh thành phố Huế.10.7. Tai nạn giao thôngTheo báo cáo của Công an thành phố, từ 15/5/2026 đến 14/6/2026, trên địa bàn đã xảy ra 24 vụ tai nạn giao thông, tăng 2 vụ so với cùng kỳ; làm 9 người chết, giảm 9 người so với cùng kỳ; làm bị thương 20 người, tăng 6 người so cùng kỳ. Sáu tháng đầu năm, trên địa bàn xảy ra 90 vụ tai nạn giao thông, giảm 25 vụ so với cùng kỳ; làm chết 53 người, giảm 4 người và làm bị thương 58 người, giảm 26 người so với cùng kỳ.10.8. Tình hình cháy nổ và bảo vệ môi trườngTrong tháng 6/2026 trên địa bàn xảy ra 4 vụ cháy; tăng 3 vụ so cùng kỳ, bằng tháng trước. Các vụ cháy xảy ra tại nhà dân, xe tải và rừng thông; không có thiệt hại về người, thiệt hại ước khoảng 89 triệu đồng. Sáu tháng đầu năm, trên địa bàn xảy ra 16 vụ cháy, tăng 10 vụ so với cùng kỳ, làm 1 người chết, tổng giá trị thiệt hại 808,6 triệu đồng.Trong tháng 6/2026 trên địa bàn xảy ra 3 vụ vi phạm môi trường, giảm 3 vụ so với cùng kỳ, tăng 1 vụ so với tháng trước. Các hình thức vi phạm: 1 vụ xả nước thải vượt quy chuẩn kỹ thuật, 2 vụ khai thác khoáng sản trái phép. Sáu tháng đầu năm, trên địa bàn xảy ra 24 vụ, giảm 47 vụ; tiến hành xử lý 23 vụ với số tiền xử phạt 3339,1 triệu đồng.10.9. Thiệt hại do thiên taiTháng 6/2026 trên địa bàn xảy ra 1 vụ thiên tai, bằng cùng kỳ, tăng 1 vụ so với tháng trước. Cụ thể, vào ngày 18/6 trên địa bàn đã xảy ra mưa dông kèm sét và gió mạnh. Tình hình thiệt hại, về người: có 1 người bị thương, về nhà ở: 18 nhà bị tốc mái, về nông nghiệp: 112 cây xanh và 30 ha cây ăn quả bị thiệt hại, gãy đổ. Tổng giá trị thiệt hại ước tính khoảng 1,45 tỷ đồng. Chính quyền địa phương đã tổ chức, huy động lực lượng hỗ trợ người dân khắc phục hậu quả do thiên tai gây ra, sớm ổn định cuộc sống. Sáu tháng đầu năm, trên địa bàn xảy ra 1 vụ thiên tai, giảm 3 vụ so với cùng kỳ.

Kinh Tế xã hội tháng 5 và 5 tháng đầu năm trên địa bàn thành phố Huế
  •   02/06/2026 08:47

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sảnTháng 5/2026, hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn thành phố Huế được duy trì ổn định và đạt kết quả tích cực. Điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi cho sản xuất; dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi được kiểm soát tốt; công tác chỉ đạo, điều hành của chính quyền địa phương và ngành chuyên môn được triển khai kịp thời, hiệu quả. Sản xuất cây hằng năm vụ Xuân cơ bản đã hoàn thành, năng suất, sản lượng các loại cây trồng đạt cao hơn so với vụ sản xuất năm 2025, sản lượng lúa vụ Đông Xuân ước tăng 6,3%. Chăn nuôi duy trì đà phục hồi tích cực, giá bán nhiều sản phẩm chăn nuôi ở mức cao, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tái đàn và mở rộng sản xuất. Sản xuất lâm nghiệp tăng trưởng khá, trong đó sản lượng gỗ khai thác tăng 7,5% nhờ nhu cầu thu mua gỗ nguyên liệu giấy của các nhà máy chế biến dăm gỗ, viên nén và bột giấy trên địa bàn tăng cao. Hoạt động nuôi trồng và khai thác thủy sản tiếp tục được duy trì, sản lượng thủy sản ước tăng 4,2%.1.1. Nông nghiệpTrồng trọtTính đến ngày 20/5/2026, toàn bộ diện tích lúa vụ Đông Xuân trên địa bàn thành phố đã thu hoạch xong. Diện tích gieo cấy lúa vụ Đông Xuân năm 2026 trên toàn thành phố đạt 27.587 ha, giảm 1,1% so với vụ Đông Xuân năm 2025; năng suất bình quân ước đạt 67,03 tạ/ha, tăng 7,5% so với cùng kỳ; sản lượng ước đạt 184.916 tấn, tăng 6,3%. Hiện nay người dân đang khẩn trương làm đất và triển khai gieo cấy vụ Hè Thu theo đúng khung thời vụ. Thời tiết trong tháng thuận lợi cho sinh trưởng và phát triển của các loại cây trồng, đặc biệt là rau màu và các sản phẩm nông nghiệp đang vào kỳ thu hoạch. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của thời tiết chuyển mùa và nắng nóng cục bộ, một số diện tích cây sắn xuất hiện bệnh khảm lá, cây hành bị dòi đục thân gây hại; đồng thời các loại cây trồng khác cũng tiềm ẩn nguy cơ phát sinh sâu bệnh. Lũy kế đến tháng 5, diện tích gieo trồng một số cây hằng năm khác ước đạt: Ngô: 1.004 ha, tăng 10,6% so với cùng kỳ năm 2025; khoai lang: 397 ha, tăng 4,7%; lạc: 1.775 ha, giảm 13,3%; rau các loại: 2.975 ha, tăng 1,2%; đậu các loại: 517 ha, tăng 0,8%. Nhìn chung, hoạt động sản xuất trồng trọt trên địa bàn được triển khai đúng kế hoạch, bảo đảm khung thời vụ đề ra. Nhờ điều kiện thời tiết thuận lợi cùng với việc tăng cường chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh kịp thời nên năng suất, sản lượng nhiều loại cây trồng đạt khá và tăng so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, diện tích gieo trồng một số cây trồng có xu hướng giảm do hiệu quả kinh tế chưa cao và nhu cầu chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Đối với cây lúa, từ cuối năm 2025 đến nay đã có 286,6 ha đất trồng lúa được chuyển đổi sang các mục đích khác, trong đó: 224,5 ha chuyển sang trồng cây hằng năm như rau màu, sen; 5 ha chuyển sang trồng cây lâu năm; 57,1 ha chuyển sang nuôi trồng thủy sản. Ngoài ra, một phần diện tích do hiệu quả canh tác thấp nên người dân không tiếp tục sản xuất và để đất hoang hóa. Đối với cây lạc, do khả năng chịu hạn kém, năng suất và hiệu quả kinh tế thấp nên người dân đã chuyển sang sản xuất các loại cây trồng khác có hiệu quả kinh tế cao hơn.1.2. Chăn nuôiTrong tháng 5/2026, hoạt động chăn nuôi trên địa bàn tiếp tục duy trì ổn định, dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm cơ bản được kiểm soát tốt. Giá bán các sản phẩm chăn nuôi như bò hơi, lợn hơi và gia cầm duy trì ở mức cao so với cùng kỳ năm trước, tạo điều kiện thuận lợi để người chăn nuôi tái đàn và mở rộng quy mô sản xuất. Dự ước thời điểm 31/5/2026, tổng đàn gia súc, gia cầm có xu hướng tăng: đàn trâu: 15.054 con, tăng 0,2% so với cùng kỳ năm 2025; đàn bò: 30.732 con, tăng 4,1%; đàn lợn (không tính lợn sữa) 126.560 con, tăng 1,0%; đàn gia cầm: 5.100 nghìn con, tăng 1,8%.Công tác phòng, chống dịch bệnh cho đàn vật nuôi tiếp tục được các địa phương và ngành chuyên môn quan tâm triển khai, góp phần hạn chế nguy cơ phát sinh và lây lan dịch bệnh, bảo đảm an toàn cho hoạt động chăn nuôi trên địa bàn. Tính đến 20/5/2026, toàn thành phố đã tiêm được 19.804 liều vắc xin Tụ huyết trùng trâu bò (đạt 60% kế hoạch), 20.924 liều vắc xin tam liên lợn (86%), 4.800 liều E.coli (83%), 400.200 liều cúm gia cầm (83%), 327.800 liều dịch tả vịt (71%), 264.855 liều Newcastle (81%), 186.650 liều Gumboro (91%), 90.050 liều đậu gà (82%), 27.390 liều THT gia cầm (86%) và 31.895 liều LMLM (52%), dại 55.747 (94%).2. Lâm nghiệp Hoạt động sản xuất lâm nghiệp trong tháng tiếp tục ổn định. Đề án phát triển rừng trồng sản xuất gỗ lớn giai đoạn 2026-2030 tại thành phố Huế đang được đẩy mạnh triển khai, hiện toàn thành phố có hơn 14.000 ha rừng trồng gỗ lớn và trên 15.000 ha rừng đạt chứng chỉ quản lý bền vững FSC.  Diện tích rừng trồng mới tập trung trong tháng ước đạt 794 ha, tăng 2,5% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế đến cuối tháng đạt 3.755 ha, tăng 1,1%. Diện tích rừng trồng trong kỳ tăng và ổn định là nhờ vào các giải pháp phát triển đồng bộ, chuyển đổi rừng trồng gỗ nhỏ sang rừng trồng sản xuất gỗ lớn, nhằm kéo dài chu kỳ sản xuất góp phần nâng cao chất lượng rừng trồng và gia tăng giá trị kinh tế từ rừng.Sản lượng gỗ khai thác trong tháng ước đạt 86.680 m3, tăng 7,5% so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế năm tháng đạt 337.465 m3, tăng 7,3%. Sản lượng gỗ khai thác tăng do nhu cầu thu mua gỗ nguyên liệu giấy của các nhà máy chế biến dăm gỗ, viên nén và bột giấy trên địa bàn thành phố tiếp tục mở rộng; ngoài nguồn cung trong thành phố còn thu mua thêm từ các địa phương lân cận.Thiệt hại rừng: Trong tháng, trên địa bàn xảy ra 01 vụ cháy rừng trồng sản xuất tại xã Khe Tre với diện tích thiệt hại 0,46 ha, nguyên nhân do người dân đốt xử lý thực bì. Đồng thời phát sinh 11 vụ phá rừng với diện tích thiệt hại 1,357 ha, chủ yếu là rừng tự nhiên bị lấn chiếm để sản xuất. Lũy kế từ đầu năm đến nay xảy ra 28 vụ phá rừng với diện tích thiệt hại 3,786 ha, tăng 19 vụ và tăng 2,586 ha so với cùng kỳ năm trước. Trước tình trạng trên, cần tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm và đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao ý thức người dân trong bảo vệ rừng.3. Thủy sảnHoạt động nuôi trồng và khai thác thủy sản trong tháng được duy trì ổn định, nhiều diện tích nuôi trồng thủy sản đã cho thu hoạch trong tháng. Ước tính sản lượng thủy sản trong tháng đạt 8.224 tấn, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế sản lượng thuỷ sản năm tháng đạt 24.766 tấn, tăng 4,1% so với cùng kỳ, trong đó: sản lượng thủy sản khai thác đạt 19.430 tấn, tăng 4,0%; sản lượng nuôi trồng thủy sản đạt 5.336 tấn, tăng 4,5%.Nuôi trồng thủy sản: hoạt động nuôi trồng thủy sản trên địa bàn thành phố được kiểm soát chặt chẽ, công tác phòng chống dịch bệnh được chú trọng nhằm ngăn chặn dịch bệnh lây lan, hướng tới nuôi trồng an toàn và bền vững. Nhờ hiệu quả của mô hình nuôi xen ghép tôm-cua-cá, một số nơi ở các xã Phú Hồ, Phú Vang, Phú Vinh, người dân triển khai nuôi vượt lũ tại các vùng cao triều và hạ triều, thả nuôi liên tục quanh năm, một số diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng được tái sản xuất làm tăng sản lượng và nâng cao thu nhập từ nuôi trồng thủy sản. Tôm thẻ chân trắng là loại thủy sản có giá trị kinh tế cao được nuôi trồng chủ đạo ở một số xã phường như xã Quảng Điền, phường Phong Phú, Phong Quảng, Thuận An. Diện tích nuôi trồng thủy sản thâm canh của tôm sú và tôm thẻ chân trắng trong tháng ước đạt 60 ha, tăng 4,3% so với cùng kỳ năm 2025. Sản lượng nuôi trồng thủy sản trong tháng đạt 2.211 tấn, tăng 4,3% so với cùng kỳ năm 2025, trong đó: sản lượng cá với 1.677 tấn, tăng 4,2%; tôm 463 tấn, tăng 4,8%; thủy sản khác 71 tấn, tăng 4,4%. Lũy kế sản lượng nuôi trồng thủy sản năm tháng ước đạt 5.336 tấn, tăng 4,5% so với cùng kỳ năm 2025.Khai thác thủy sản: hoạt động khai thác thủy sản trong tháng duy trì ổn định nhờ điều kiện thời tiết thuận lợi. Sản lượng khai thác thủy sản chủ yếu là khai thác biển, thời điểm này là mùa vụ khai thác chính, sản lượng thủy sản biển dồi dào hơn nên các tàu thuyền tích cực vươn khơi bám biển.Sản lượng thủy sản khai thác trong tháng đạt 6.013 tấn, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm 2025; trong đó sản lượng khai thác biển trong tháng ước đạt 5.660 tấn, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm 2025 với sản lượng cá khai thác biển 4.943 tấn, tăng 4,2%; sản lượng tôm khai thác biển 160 tấn, tăng 3,9%; sản lượng thủy sản khác khai thác biển 557 tấn, tăng 4,1%. Lũy kế sản lượng thủy sản khai thác biển trong năm tháng đầu năm ước đạt 18.101 tấn, tăng 4,0% so với cùng kỳ năm 2025.2. Sản xuất công nghiệpTình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn thành phố Huế trong tháng 5 năm 2026 tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực, chủ yếu nhờ các năng lực sản xuất mới được bổ sung từ một số dự án như: Nhà máy sản xuất tấm thạch anh của Công ty TNHH America Quartz Technology, Nhà máy sản xuất mũ bảo hiểm Eon Industry Việt Nam (giai đoạn 1), và giai đoạn 5 của Nhà máy sản xuất đồ chơi Billion Max Việt Nam. Bên cạnh đó, hoạt động ổn định của các ngành công nghiệp chủ lực như sản xuất ô tô, sản xuất đồ uống… cũng góp phần quan trọng vào kết quả tăng trưởng chung. Ước tính, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 5 năm 2026 tăng 8,3% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm tháng đầu năm 2026, chỉ số IIP tăng 10,9% so với cùng kỳ năm 2025.Chỉ số IIP tháng 5 năm 2026 tăng 8,3% so với cùng kỳ, trong đó: ngành công nghiệp khai khoáng giảm 18,8%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,8%; sản xuất và phân phối điện tăng 0,6%; cấp nước và thu gom rác thải tăng 1,5%. Tính chung năm tháng đầu năm 2026 chỉ số IIP tăng 10,9% so với năm trước, trong đó: ngành công nghiệp khai khoáng tăng 2,1%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13,1%; cấp nước và thu gom rác thải tăng 6,3%. Riêng sản xuất và phân phối điện giảm 4,3%.Các ngành công nghiệp cấp 4 trong năm tháng đầu năm 2026 có chỉ số sản xuất tăng so với cùng kỳ: Khai thác quặng kim loại (+12,5%); sản xuất đồ uống có cồn (+28,7%); sản xuất sợi (+8,9%); may trang phục (+5,0%); sản xuất sản phẩm khác từ cao su (+14,4%); sản xuất sản phẩm từ plastic (+14,7%); sản xuất linh kiện điện tử (+6 lần); sản xuất đồ chơi (+29,4%); sản xuất khác chưa được phân vào đâu (+4 lần); sản xuất ô tô các loại (+26,9%)...Bên cạnh những dấu hiệu tích cực, hiện nay một số ngành sản xuất công nghiệp vẫn đang gặp không ít khó khăn, một số ngành công nghiệp cấp 4 trong năm tháng đầu năm 2026 có chỉ số sản xuất giảm so với cùng kỳ: Sản xuất vật liệu xây dựng từ đất sét (-9,6%); sản xuất sản phẩm từ chất khoáng phi kim loại khác chưa được phân vào đâu (-35,9%); sản xuất giường, tủ, bàn ghế gỗ (-12,0%); sản xuất, truyền tải và phân phối điện (-4,3%)...Các sản phẩm công nghiệp ước năm tháng đầu năm 2026 tăng so với cùng kỳ năm trước: Quặng inmenit và tinh quặng inmenit 9,7 nghìn tấn (+12,5%); tôm đông lạnh 1,6 nghìn tấn (+22,1%); bánh làm từ bột khác bảo quản được 1,8 nghìn tấn (+31,4%); đồ uống có cồn 139,6 triệu lít (+24,1%); sợi 45,8 nghìn tấn (+8,9%); quần áo lót cho người lớn không dệt kim hoặc đan móc 155,7 triệu cái (+5,0%); găng tay, găng hở ngón và găng bao tay bằng cao su lưu hoá 6,6 nghìn tấn (+14,4%); ô tô các loại 1.830 chiếc (+6,6%); điện thương phẩm 972,1 triệu kwh (+8,9%)...Các sản phẩm công nghiệp năm tháng đầu năm 2026 giảm so với cùng kỳ: Sản phẩm in 90,0 triệu trang (-5,6%); cao su tổng hợp và các chất thay thế cao su dẫn xuất từ dầu, ở dạng nguyên sinh hoặc tấm lá hoặc dải 2,7 nghìn tấn (-4,0%); tấm lát đường và vật liệu lát, gạch ốp tường 3,8 triệu m2 (-9,6%); điện sản xuất 665,9 triệu Kwh (-8,9%)…Chỉ số sử dụng lao động tháng 5/2026 ước tăng 0,7% so với tháng trước và tăng 8,8% so với cùng kỳ. Tính chung chỉ số sử dụng lao động năm tháng đầu năm 2026 tăng 8,5% so với cùng kỳ, trong đó tập trung vào một số ngành: Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (+24,1%); sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic (+19,5%); sản xuất xe có động cơ (+21,6%); công nghiệp chế biến, chế tạo khác (+1,2 lần). Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số sử dụng lao động giảm đó là: Sản xuất chế biến thực phẩm (-10,3%); sản xuất trang phục (-8,9%); sản xuất da và các sản phẩm có liên quan (-2,5%); sản xuất kim loại (-36,7%); sản xuất giường, tủ, bàn, ghế (-7,3%)… 3. Vốn đầu tư thuộc nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn thành phố Tình hình thực hiện vốn ngân sách do địa phương quản lý năm tháng đầu năm 2026 tiếp tục chuyển biến tích cực, với tiến độ thi công các công trình trọng điểm được tăng tốc. Các đơn vị chủ động phối hợp, đẩy nhanh triển khai các hạng mục chuyển tiếp, qua đó góp phần nâng cao khối lượng thực hiện vốn đầu tư. Công tác chỉ đạo, điều hành được triển khai quyết liệt ngay từ đầu năm, bảo đảm các dự án hạ tầng chiến lược bám sát quy hoạch và yêu cầu kỹ thuật, qua đó góp phần đưa vốn ngân sách thực hiện trong tháng 5 ước tăng 11,3% so với cùng kỳ.Nguồn vốn ngân sách nhà nước đầu tư trên địa bàn thành phố do địa phương quản lý thực hiện trong tháng 5/2026 đạt 587,1 tỷ đồng, đạt 7,3% kế hoạch năm, tăng 31% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn NSNN cấp thành phố ước đạt 506,5 tỷ đồng, đạt 7,6% kế hoạch, tăng 33,7% so với cùng kỳ. Tính chung năm tháng đầu năm nguồn vốn ngân sách Nhà nước trên địa bàn ước đạt 2.043,2 tỷ đồng, đạt 25,4% kế hoạch năm, tăng 11,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn NSNN cấp thành phố năm tháng đầu năm ước đạt 1.725,5 tỷ đồng, đạt 25,7% kế hoạch năm, tăng 17,6% so với cùng kỳ năm trước. Nguồn vốn đầu tư công trong tháng 5/2026 tiếp tục được ưu tiên tập trung cho các công trình, dự án trọng điểm; đồng thời tăng cường đôn đốc, đẩy nhanh tiến độ thi công nhằm sớm hoàn thành và đưa vào sử dụng các dự án như: đường Nguyễn Hoàng, đường Vành đai 3, dự án Cải thiện môi trường nước thành phố Huế, các khu tái định cư và khu nghĩa trang phục vụ giải phóng mặt bằng Dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam...Các chủ đầu tư và đơn vị thi công đang tranh thủ điều kiện thời tiết thuận lợi trong những tháng đầu năm để đẩy nhanh tiến độ thực hiện. Dự án đường Vành đai 3 hiện đang triển khai điều chỉnh quy mô đoạn tuyến phía Bắc, đồng thời tổ chức thi công tại các phường Kim Long, Thuận Hóa, Thủy Xuân và Hương An. Đối với hai công trình Trường phổ thông dân tộc nội trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở tại xã A Lưới 3 và A Lưới 4, các đơn vị thi công đang huy động nhân lực, tăng ca, đẩy nhanh tiến độ thực hiện đồng loạt các hạng mục như khối nhà hành chính, khối lớp học, nhà đa năng, khu nội trú và các công trình phụ trợ; phấn đấu hoàn thành vào ngày 30/7/2026.Bên cạnh đó, nhiều dự án quy mô lớn khác như cầu Cồn Hến, cầu qua phá Tam Giang, các dự án tạo quỹ đất tái định cư, dự án đầu tư hoàn thiện kết cấu hạ tầng Khu kinh tế Chân Mây - Lăng Cô và dự án bảo tồn Kinh thành Huế giai đoạn 2 cũng đang được triển khai thủ tục đầu tư và thi công theo kế hoạch đề ra.Đối với các dự án chậm tiến độ, UBND thành phố đã chỉ đạo các sở, ngành và địa phương tập trung phối hợp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc nhằm đẩy nhanh tiến độ thực hiện và sớm đưa công trình vào khai thác, sử dụng. Cụ thể, dự án đường Tố Hữu nối sân bay Phú Bài hiện vẫn triển khai chậm do gặp khó khăn trong công tác giải phóng mặt bằng và thiếu nguồn vật liệu xây dựng. Đối với dự án nâng cấp, mở rộng cầu Vỹ Dạ, cầu qua sông Như Ý và tuyến đường 100m nối khu A với khu B đô thị An Vân Dương thuộc Chương trình phát triển đô thị loại II, do nhà thầu thi công không bảo đảm tiến độ nên đã thực hiện chấm dứt hợp đồng để tổ chức đấu thầu lại, nhằm khắc phục tình trạng kéo dài ảnh hưởng đến đời sống người dân.Nhìn chung, nguồn vốn ngân sách nhà nước tiếp tục được ưu tiên bố trí cho các dự án chuyển tiếp có quy mô lớn và các công trình trọng điểm. Công tác chỉ đạo, điều hành được triển khai quyết liệt, góp phần tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy tiến độ giải ngân và thi công các dự án. Đồng thời, nhiều dự án thuộc giai đoạn 2026-2030 đang được khẩn trương hoàn thiện hồ sơ, thủ tục đầu tư để sớm khởi công, tạo động lực phát triển hạ tầng đô thị và nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư trên địa bàn thành phố.4. Thương mại, dịch vụ và giá cảTháng 5 năm 2026, tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn thành phố tiếp tục ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực. Hoạt động thương mại, dịch vụ diễn ra sôi động, góp phần thúc đẩy tiêu dùng và lưu thông hàng hóa. Nhiều lễ hội nằm trong chuỗi các hoạt động văn hóa tiêu biểu của Festival Huế 2026 được tổ chức phong phú, đặc sắc với các không gian văn hóa truyền thống cùng nhiều hoạt động vui chơi giải trí, biểu diễn nghệ thuật mang đậm bản sắc dân gian. Đặc biệt, trong dịp nghỉ lễ Giỗ Tổ Hùng Vương và kỳ nghỉ lễ 30/4 - 01/5, lượng khách du lịch trong và ngoài nước đến Huế tham quan, trải nghiệm và mua sắm tăng cao, góp phần tích cực vào tăng trưởng chung của thành phố.Kết quả hoạt động thương mại, dịch vụ và vận tải trên địa bàn thành phố tháng 5 năm 2026 ước đạt như sau:4.1. Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùngTháng 5, hoạt động du lịch trên địa bàn thành phố tiếp tục sôi động nhờ chuỗi sự kiện đặc sắc thuộc khuôn khổ Festival Huế mùa Hạ 2026. Nhiều sự kiện văn hóa, du lịch tiêu biểu được tổ chức như: Tuần lễ Phật đản và Lễ hội Ẩm thực chay; Ngày hội làng Dương Nỗ; triển lãm “Ngày hội non sông”; Đại hội Thể dục thể thao thành phố; chương trình quảng bá “Lăng Cô - Vịnh đẹp thế giới”; Ngày hội Văn hóa, Thể thao và Du lịch các dân tộc miền núi... đã thu hút được lượng lớn khách du lịch đến Huế, kéo theo tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng.Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 5/2026 ước đạt 6.232 tỷ đồng, tăng 0,5% so với tháng trước và tăng 16,0% so với cùng kỳ. Chia theo ngành kinh tế: Bán lẻ hàng hóa ước đạt 4.409 tỷ đồng, chiếm 70,8% trong tổng số, tăng 0,3% so với tháng trước và tăng 14,1% so với cùng kỳ. Mặc dù doanh thu bán lẻ có mức tăng không cao như tháng trước, tuy nhiên sức mua trên thị trường vẫn được duy trì nhờ nhu cầu tiêu dùng thiết yếu, hoạt động xây dựng dân sinh và nhu cầu đi lại, du lịch trong mùa hè bắt đầu tăng. Doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống tháng 5 ước đạt 1.338 tỷ đồng, chiếm 21,4%, tăng 1,1% so với tháng trước và tăng 21,2% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ lữ hành đạt 31 tỷ đồng, chiếm 0,5%, giảm 6,1% so với tháng trước và tăng 20,3% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ khác đạt 454 tỷ đồng, chiếm 7,3%, tăng 1,8% so với tháng trước và tăng 20,1% so với cùng kỳ.Biểu 3. Tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Đơn vị tính: Tỷ đồngDự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm tháng đầu năm 2026 đạt 30.738 tỷ đồng, tăng 17,3% so với cùng kỳ, trong đó doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 21.875 tỷ đồng, chiếm 71,1% tổng số và tăng 14,9%; dịch vụ lưu trú và ăn uống đạt 6.409 tỷ đồng, chiếm 20,9% và tăng 23,9%; dịch vụ lữ hành đạt 172 tỷ đồng, chiếm 0,6% và tăng 18,7%; dịch vụ khác đạt 2.282 tỷ đồng, chiếm 7,4% và tăng 23,5%. 4.2. Vận tải hành khách và hàng hóaDịp nghỉ lễ 30/4 và 01/5, trong đó có 3 ngày rơi vào tháng 5, cũng là thời gian nghỉ kéo dài nhất từ đầu năm nên nhu cầu đi lại của người dân trong dịp này tăng. Tháng 5 cũng diễn ra nhiều sự kiện sôi động trong chuỗi Festival mùa Hạ, tác động tích cực đến nhiều ngành kinh tế, trong đó có vận tải hành khách. Bên cạnh đó, đây là tháng cao điểm mùa xây dựng, nhu cầu vận tải nguyên, nhiên vật liệu, thiết bị phục vụ cho các dự án, công trình tăng mạnh làm cho hoạt động vận tải hàng hóa đạt kết quả cao so với cùng kỳ năm trước.Dự ước hành khách vận chuyển tháng 5 năm 2026 đạt 4,4 triệu hành khách, tăng 2,6% so với tháng trước và tăng 21,0% so với cùng kỳ; hành khách luân chuyển đạt 213,9 triệu hành khách.km, tăng 2,5% và tăng 21,4%. Tính chung năm tháng đầu năm 2026, vận tải hành khách ước đạt 20,9 triệu hành khách, tăng 20,3% so với cùng kỳ và luân chuyển ước đạt 1.026,1 triệu hành khách.km, tăng 20,7% so với cùng kỳ.Dự ước hàng hóa vận chuyển tháng 5 năm 2026 ước đạt 2,4 triệu tấn, tăng 1,6% so với tháng trước và tăng 14,6% so với cùng kỳ; hàng hóa luân chuyển đạt 197,8 triệu tấn.km, tăng 1,5% và tăng 14,0%. Tính chung năm tháng đầu năm 2026, vận tải hàng hóa ước đạt 11,7 triệu tấn, tăng 15,3% so với cùng kỳ và luân chuyển ước đạt 973,5 triệu tấn.km, tăng 14,8%.Dự ước doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 5/2026 đạt 608,8 tỷ đồng, tăng 2,0% so với tháng trước và tăng 18,7% so với cùng kỳ. Lũy kế doanh thu vận tải, bốc xếp năm tháng đầu năm 2026 ước đạt 2.959,1 tỷ đồng, tăng 19,6% so với cùng kỳ. Chia theo loại hình dịch vụ: doanh thu vận tải hành khách ước đạt 652,6 tỷ đồng, tăng 22,2%; vận tải hàng hóa ước đạt 2.016,3 tỷ đồng, tăng 16,6%; dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 290,2 tỷ đồng, tăng 37,5% so với cùng kỳ. Trong đó doanh thu vận tải bao gồm: đường bộ đạt 2.666,1 tỷ đồng, tăng 16,6%; đường sông đạt 2,8 tỷ đồng, tăng 24,8%.4.3. Lượt khách các cơ sở lưu trú phục vụ và du lịch lữ hànhTháng 5 năm 2026, hoạt động du lịch trên địa bàn thành phố tiếp tục diễn ra sôi động nhờ hiệu ứng tích cực từ chuỗi sự kiện, lễ hội, chương trình kích cầu được tổ chức đồng bộ đặc biệt là 2 kỳ nghỉ lễ gần nhau Giỗ tổ Hùng Vương (10/3 ÂL) và 30/4 – 01/5. Các lĩnh vực lưu trú, ăn uống, lữ hành và dịch vụ hỗ trợ du lịch có sự phối hợp chặt chẽ, chủ động nâng cao chất lượng sản phẩm và đa dạng hóa trải nghiệm nhằm thu hút và giữ chân du khách. Dự ước lượt khách do cơ sở lưu trú phục vụ tháng 5/2026 đạt 254,9 nghìn lượt khách, giảm 2,4% so với tháng trước và tăng 21,7% so với cùng kỳ. Trong đó, lượt khách ngủ qua đêm tháng 5/2026 ước đạt 215,7 nghìn lượt khách, giảm 2,8% so với tháng trước và tăng 24,5% so với cùng kỳ; lượt khách trong ngày đạt 39,2 nghìn lượt khách, giảm 0,3% so với tháng trước và tăng 8,3% so với cùng kỳ. Lũy kế lượt khách do các cơ sở lưu trú phục vụ năm tháng đầu năm 2026 đạt 1.243,4 nghìn lượt, tăng 20,2% so với cùng kỳ. Trong đó, lượt khách ngủ qua đêm năm tháng đầu năm đạt 1.052,4 nghìn lượt, tăng 22,6% so với cùng kỳ; lượt khách trong ngày đạt 191,0 nghìn lượt, tăng 8,6% so với cùng kỳ. Trong lượt khách ngủ qua đêm, khách quốc tế 441,6 nghìn lượt, tăng 27,6%; khách trong nước 610,8 nghìn lượt, tăng 19,2% so với cùng kỳ.Ngày khách dự ước tháng 5/2026 đạt 351,9 nghìn ngày, giảm 2,8% so với tháng trước và tăng 20,8% so với cùng kỳ. Trong đó: Ngày khách quốc tế đạt 132,5 nghìn ngày, giảm 6,4% so với tháng trước và tăng 80,8% so với cùng kỳ; ngày khách trong nước đạt 219,4 nghìn ngày, giảm 0,5% so với tháng trước và tăng 0,7% so với cùng kỳ. Lũy kế ngày khách dự ước năm tháng đầu năm đạt 1.758,2 nghìn ngày, tăng 22,4% so với cùng kỳ. Trong đó: Ngày khách quốc tế đạt 765,2 nghìn ngày, tăng 26,8%; ngày khách trong nước đạt 993,0 nghìn ngày, tăng 19,1% so với cùng kỳ.Lượt khách phục vụ của các cơ sở lữ hành thực hiện tháng 5/2026 ước đạt 20,2 nghìn lượt, giảm 7,3% với tháng trước và tăng 22,1% so với cùng kỳ; lũy kế lượt khách năm tháng đầu năm ước đạt 105,1 nghìn lượt, tăng 19,3% so với cùng kỳ. Ngày khách theo tour ước thực hiện tháng 5/2026 là 46,8 nghìn ngày, giảm 7,0% so với tháng trước và tăng 23,6% so với cùng kỳ; lũy kế ngày khách theo tour năm tháng đầu năm ước đạt 227,2 nghìn ngày khách, tăng 22,2% so với cùng kỳ.4.4. Giá cả- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)Chỉ số giá tiêu dùng chung của thành phố tháng 5/2026 tăng 0,38% so với tháng trước, nguyên nhân tăng chủ yếu là do tác động của nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng khi giá thuê nhà và điện sinh hoạt tăng mạnh, trong khi nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm do nguồn cung lương thực, thực phẩm dồi dào. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 4 nhóm hàng tăng giá: Nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 3,18%; Giao thông tăng 0,85%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,08%; Đồ uống và thuốc lá tăng 0,03%. Có 6 nhóm hàng giảm giá: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,79%; Văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,52%; May mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,43%; Bưu chính viễn thông giảm 0,08%; Thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,07%; Thuốc và dịch vụ y tế giảm 0,06%. Riêng nhóm Giáo dục ổn định so với tháng trước.Chỉ số giá tiêu dùng chung toàn thành phố tháng 5/2026 tăng 4,54% so với tháng 12 năm trước và tăng 6,55% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm tháng đầu năm 2026 tăng 5,26% so với bình quân cùng kỳ năm trước, nguyên nhân là do một số nhóm hàng hóa và dịch vụ tăng khá như: hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 5,47%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 9,57%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 3,95%; giao thông tăng 4,37%; giáo dục tăng 3,77%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 6,10%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,42%.- Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ Chỉ số giá vàng tháng 5/2026 giảm 4,16% so với tháng trước, tăng 6,09% so với tháng 12 năm trước và tăng 38,07% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 5/2026 tăng 0,06% so với tháng trước, giảm 0,12% so với tháng 12 năm trước và tăng 0,92% so với cùng kỳ năm trước.5. Tài chính, ngân hàng5.1. Tài chínhTổng thu ngân sách trên địa bàn năm tháng năm 2026 ước đạt 6.561 tỷ đồng, bằng 41,0% dự toán năm. Trong đó: Thu nội địa ước đạt 5.915,0 tỷ đồng, bằng 40,7% dự toán; thu thuế từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 636,1 tỷ đồng, bằng 43,9% dự toán. Trong thu nội địa: Thu doanh nghiệp Nhà nước ước đạt 201 tỷ đồng, bằng 39,4% dự toán; thu doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 2.067 tỷ đồng, bằng 45,1% dự toán; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 1.173 tỷ đồng, bằng 51,0% dự toán; thuế thu nhập cá nhân 340 tỷ đồng, bằng 45,3% dự toán; thuế bảo vệ môi trường 151 tỷ đồng, bằng 37,8% dự toán.Tổng chi ngân sách địa phương năm tháng năm 2026 ước đạt 5.436 tỷ đồng, bằng 29,4% dự toán, trong đó chi đầu tư phát triển 817,3 tỷ đồng, bằng 17,8% dự toán; chi thường xuyên 4.117 tỷ đồng, bằng 35,4% dự toán.                                    5.2. Ngân hàngNgành ngân hàng trên địa bàn tiếp tục triển khai các chương trình tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nhằm hỗ trợ phục hồi và phát triển kinh tế. Trong đó, tiếp tục thực hiện Chương trình tín dụng đối với lĩnh vực nông, lâm, thủy sản cho đến khi doanh số cho vay đạt 185.000 tỷ đồng với mức lãi suất cho vay thấp hơn tối thiểu từ 1% - 2%/năm so với mức lãi suất cho vay bình quân theo quy định tại Công văn số 5631/NHNN-TD ngày 14/7/2023, Công văn số 2756/NHNN-TD ngày 15/4/2025 và Công văn số 8333/NHNN-TD ngày 23/9/2025 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Đồng thời, tiếp tục triển khai thực hiện Công văn số 4290/NHNN-TD ngày 29/5/2025 về cho vay người trẻ dưới 35 tuổi mua nhà ở xã hội.Tổng nguồn vốn huy động trên địa bàn đến cuối tháng 5/2026 ước đạt 94,0 nghìn tỷ đồng, tăng 5,07% so với cuối năm 2025; tổng dư nợ tín dụng ước đạt 96,3 nghìn tỷ đồng, tăng 3,65%.Các tổ chức tín dụng trên địa bàn thành phố tiếp tục tập trung ưu tiên nguồn vốn cho vay đối với các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh theo chủ trương của Chính phủ. Tính đến cuối tháng 5/2026, dư nợ tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn ước đạt 19.700 tỷ đồng, tăng 9,7% so với cuối năm 2025; dư nợ cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa đạt 18.500 tỷ đồng, tăng 7,4%; dư nợ cho vay lĩnh vực xuất khẩu đạt 6.000 tỷ đồng, tăng 4,1%; dư nợ cho vay công nghiệp hỗ trợ đạt 7.200 tỷ đồng, tăng 358,9%. Hiện nay, trên địa bàn chưa phát sinh dư nợ cho vay đối với doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao.6. Các vấn đề xã hội6.1. Giáo dục - Đào tạo Thành phố vừa ban hành kế hoạch tổ chức Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026 và xét công nhận tốt nghiệp THPT năm học 2025-2026. Kỳ thi diễn ra từ 10-12/6, năm nay thành phố Huế dự kiến có 13.630 thí sinh đăng ký dự thi, trong đó 12.311 thí sinh giáo dục phổ thông, 1.119 thí sinh giáo dục thường xuyên và 200 thí sinh tự do. Để phục vụ kỳ thi, thành phố dự kiến bố trí 37 điểm thi đặt các trường THPT và THCS trên địa bàn với khoảng 620 phòng thi. Đảm bảo kỳ thi diễn ra an toàn, nghiêm túc, đúng quy chế và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho thí sinh.Đối với kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT năm học 2026-2027, kỳ thi sẽ diễn ra từ 27-28/5 với 17.919 thí sinh đăng ký dự thi. Dự kiến có 53 hội đồng thi với 750 phòng thi được bố trí phục vụ kỳ thi.Hướng đến kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890-19/5/2026), Hội Khuyến học thành phố tổ chức trao học bổng cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn thành phố. Hội Khuyến học trao 100 suất học bổng, trong đó có 40 học sinh TH, 40 học sinh THCS và 20 học sinh THPT. Hoạt động không chỉ góp phần hỗ trợ học sinh khó khăn mà còn kịp thời động viên, lan tỏa tinh thần hiếu học, ý chí vượt khó của các em học sinh. Bên cạnh đó, tại trường THPT chuyên Quốc Học, Quỹ học bổng Khuyến tài Nguyễn Chí Thanh thuộc Hội Khuyến học thành phố đã tổ chức trao học bổng cho 94 học sinh đạt thành tích cao tại kỳ thi học sinh giỏi quốc gia năm học 2025-2026.6.2. Tình hình y tế, dịch bệnh, ngộ độc thực phẩmSố lượt khám chữa bệnh BHYT tính đến hết ngày 18/5/2026 là 927.599 lượt, trong đó 809.980 lượt khám chữa bệnh ngoại trú và 117.619 lượt khám chữa bệnh nội trú.Tháng 5/2026, trên địa bàn có 18 ca sốt xuất huyết, tăng 6 ca so với cùng kỳ; có 39 ca mắc tay chân miệng, tăng 3 ca so với cùng kỳ; 1 ca mắc liên cầu lợn, tăng 1 ca so với cùng kỳ. Năm tháng đầu năm, trên địa bàn có 75 ca sốt xuất huyết, giảm 36 ca so với cùng kỳ; có 172 ca mắc tay chân miệng, tăng 64 ca so với cùng kỳ; 4 ca liên cầu lợn, tăng 4 ca so với cùng kỳ.Tháng 4/2026, trên địa bàn đã phát hiện 8 ca nhiễm mới HIV, tăng 3 ca so với cùng kỳ; 1 ca chuyển qua AIDS, giảm 1 ca so với cùng kỳ; không có ca tử vong, bằng cùng kỳ. Bốn tháng đầu năm, trên địa bàn có 23 ca nhiễm mới HIV, giảm 10 ca so với cùng kỳ; 4 ca chuyển qua AIDS, giảm 5 ca so với cùng kỳ; 1 ca tử vong, giảm 1 ca so với cùng kỳ. Hiện tại, trên địa bàn có 602 bệnh nhân đang được quản lý và điều trị tại các cơ sở y tế, trong đó có 597 bệnh nhân điều trị ARV.Tháng 5/2026, trên địa bàn không xảy ra ngộ độc thực phẩm, bằng cùng kỳ. Năm tháng đầu năm, trên địa bàn xảy ra 2 vụ ngộ độc thực phẩm, tăng 2 vụ so với cùng kỳ, làm 25 người bị ngộ độc và không có người chết.6.3. Hoạt động văn hóa, thể thaoLễ khai mạc làng Dương Nỗ 2026 diễn ra tại Đình làng Dương Nỗ với chủ đề “Dương Nỗ - Hành trình tháng Năm”. Đây là hoạt động ý nghĩa chào mừng kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 – 19/5/2026), đồng thời là hoạt động nổi bật trong khuôn khổ Festival mùa Hạ Huế 2026. Điểm nhấn của lễ hội là lễ rước và dâng hoa sen lên Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bên cạnh đó, lễ hội còn có các hoạt động: Chương trình nghệ thuật tái hiện ký ức tháng Năm, trình diễn nghề dệt Dèng truyền thống, bài chòi, không gian ẩm thực Huế, làng nghề thủ công truyền thống… Tổ chức thành công các giải thể thao quốc gia như Giải vô địch các Câu lạc bộ Vật cổ điển, Vật tự do quốc gia; Giải vô địch Bóng rổ 3x3 U20, U23 quốc gia. Ngoài ra, tại Giải vô địch Vật bãi biển thế giới 2026, đoàn thể thao Huế tham gia với 2 VĐV và đã thi đấu xuất sắc, mang về 2 HCĐ. Phong trào thể dục thể thao quần chúng tiếp tục được duy trì và phát triển. Tập trung triển khai Chương trình bơi an toàn, phòng chống đuối nước trẻ em giai đoạn 2021-2030; kiểm tra hoạt động kinh doanh thể thao môn Bơi, Lặn.6.4. Tai nạn giao thôngTheo báo cáo của Ban ATGT thành phố, từ 15/4/2026 đến 14/5/2026, trên địa bàn đã xảy ra 10 vụ tai nạn giao thông, bằng cùng kỳ; làm 4 người chết, giảm 2 người so với cùng kỳ; làm bị thương 7 người, giảm 2 người so với cùng kỳ. Năm tháng đầu năm 2026, trên địa bàn xảy ra 66 vụ tai nạn giao thông, giảm 27 vụ so với cùng kỳ; làm chết 44 người, tăng 5 người và làm bị thương 38 người, giảm 32 người so với cùng kỳ.*Tình hình trật tự an toàn giao thông 4 ngày Lễ 30/4 & 1/5Từ ngày 30/4/2026 đến 03/5/2026, trên địa bàn thành phố đã xảy ra 3 vụ tai nạn giao thông, giảm 3 vụ so với cùng kỳ; làm 1 người chết và làm bị thương 3 người, bằng cùng kỳ.6.5. Tình hình cháy nổ và bảo vệ môi trườngTrong tháng 5/2026 trên địa bàn xảy ra 4 vụ cháy; tăng 2 vụ so với cùng kỳ, bằng tháng trước. Các vụ cháy xảy ra tại nhà dân, phương tiện tàu cá và xe đầu kéo; không có thiệt hại về người, thiệt hại ước khoảng 632 triệu đồng. Năm tháng đầu năm, trên địa bàn xảy ra 12 vụ cháy, tăng 7 vụ so với cùng kỳ, làm 1 người chết, tổng giá trị thiệt hại 718 triệu đồng.Trong tháng 5/2026 trên địa bàn xảy ra 2 vụ vi phạm môi trường, giảm 10 vụ so với cùng kỳ, giảm 1 vụ so với tháng trước. Các hình thức vi phạm: 2 vụ xả nước thải vượt quy chuẩn kỹ thuật; tiến hành xử lý 2 vụ với số tiền xử phạt 995 triệu đồng. Năm tháng đầu năm, trên địa bàn xảy ra 21 vụ, giảm 44 vụ; tiến hành xử lý 23 vụ với số tiền xử phạt 3,34 tỷ đồng. 6.6. Thiệt hại do thiên taiTháng 5/2026 không xảy ra thiên tai, giảm 1 vụ so với cùng kỳ, bằng tháng trước. Năm tháng đầu năm, trên địa bàn không xảy ra thiên tai, giảm 3 vụ so với cùng kỳ./.Nguồn Thống kê Thành phố Huế

Kinh Tế xã hội quý tháng 4 và 4 tháng đầu năm trên địa bàn thành phố Huế
  •   02/05/2026 08:33

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Trong tháng 4/2026, sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn thành phố Huế duy trì ổn định và bám sát kế hoạch đề ra nhờ điều kiện thời tiết thuận lợi và công tác chỉ đạo kịp thời. Lĩnh vực trồng trọt bước vào giai đoạn thu hoạch vụ Đông Xuân, các địa phương đang tập trung chăm sóc, thu hoạch và bảo vệ năng suất cây trồng. Công tác theo dõi sâu bệnh và phòng, chống dịch bệnh trên vật nuôi được triển khai đồng bộ, tổng đàn lợn ước tăng 2,9%. Sản xuất lâm nghiệp giữ mức ổn định, sản lượng gỗ khai thác ước tăng 4,9% so với cùng kỳ. Hoạt động nuôi trồng và khai thác thủy sản tiếp tục được duy trì, trong đó sản lượng khai thác biển ước tăng 4,8% so với cùng kỳ.1.1. Nông nghiệp     * Trồng trọt     Sản xuất trồng trọt diễn ra đúng thời vụ, thời tiết trong tháng nhìn chung thuận lợi, tạo điều kiện cho sản xuất trồng trọt diễn ra đúng thời vụ; hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng nhu cầu tưới tiêu, cùng với sự chỉ đạo kịp thời của ngành nông nghiệp và chính quyền địa phương đã hỗ trợ tích cực cho sản xuất. Cây lúa đang trong giai đoạn chín, dự kiến hoàn thành thu hoạch vào cuối tháng 4/2026. Các loại cây hằng năm sinh trưởng, phát triển tốt, chưa ghi nhận sâu bệnh hại đáng kể. Đối với rau màu, người dân chủ động luân canh, vừa thu hoạch vừa gieo trồng, bảo đảm nguồn cung liên tục; năng suất, sản lượng tăng so với cùng kỳ, giá cả ổn định, góp phần tạo tâm lý yên tâm sản xuất. Các mô hình sản xuất theo hướng hữu cơ, VietGAP và liên kết chuỗi tiếp tục được duy trì, mở rộng; công tác chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh được tăng cường. Tuy nhiên, tình trạng chuyển mùa và nắng nóng cục bộ vẫn ảnh hưởng đến một số diện tích, tiềm ẩn nguy cơ phát sinh sâu bệnh trên cây trồng.     Gieo cấy lúa vụ Đông Xuân 2026 toàn thành phố đạt 27.587 ha, giảm 1,1% so với vụ Đông Xuân năm trước. Diện tích gieo trồng các loại cây hằng năm khác lũy kế đến tháng 4 như: ngô ước đạt 1.004 ha, tăng 10,6%; khoai lang 397 ha, tăng 4,7%; lạc 1.775 ha, giảm 13,3%; rau các loại ước đạt 2.908 ha, tăng 1,2%; đậu các loại 517 ha, tăng 0,8% so với cùng kỳ.     * Chăn nuôi Trong tháng 4/2026, hoạt động chăn nuôi trên địa bàn thành phố tiếp tục duy trì ổn định và đạt kết quả tích cực. Giá bán các sản phẩm chăn nuôi như lợn hơi, bò hơi và gia cầm duy trì ở mức cao so với cùng kỳ, tạo động lực để doanh nghiệp và hộ chăn nuôi đẩy mạnh tái đàn, mở rộng quy mô sản xuất. Bên cạnh đó, tình hình dịch bệnh được kiểm soát tốt, góp phần bảo đảm an toàn đàn vật nuôi và ổn định sản xuất. Ước đến ngày 30/4/2026, tổng đàn gia súc, gia cầm có xu hướng tăng ở hầu hết các loại vật nuôi: đàn trâu đạt 15.198 con, tăng 0,5% so với cùng kỳ; đàn bò 30.739 con, tăng 4,4%; đàn lợn 159.850 con tăng 2,9%; đàn gia cầm 5.251 nghìn con, tăng 4,1%, trong đó đàn gà 3.713 nghìn con, tăng 4%. Công tác phòng, chống dịch bệnh được triển khai đồng bộ, với tiến độ tiêm phòng đạt khá ở nhiều loại vắc xin. Tính đến 20/4/2026, toàn thành phố đã tiêm được 19.304 liều vắc xin Tụ huyết trùng trâu bò (đạt 59% kế hoạch), 18.939 liều vắc xin tam liên lợn (đạt 76% kế hoạch), 4.400 liều E.coli (đạt 73% kế hoạch), 382.100 liều cúm gia cầm ( đạt 78% kế hoạch), 314.300 liều dịch tả vịt (đạt 66% kế hoạch), 524.435 liều vắc-xin các loại gia cầm, 17.400 liều LMLM (đạt 28% kế hoạch) và 24.763 liều dại (đạt 41% kế hoạch) Nhìn chung, chăn nuôi tiếp tục là điểm sáng của ngành nông nghiệp. Trong thời gian tới cần chú trọng kiểm soát chi phí đầu vào, ổn định thị trường tiêu thụ và nâng cao hiệu quả sản xuất nhằm đảm bảo phát triển bền vững. 1.2. Lâm nghiệp Trong tháng 4/2026, sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn thành phố Huế tiếp tục được duy trì ổn định, cả về trồng rừng và khai thác gỗ. Kế hoạch phát triển rừng trồng sản xuất gỗ lớn giai đoạn 2026-2030 đã được ban hành và đang trong giai đoạn chuẩn bị, với mục tiêu đến năm 2030 đạt 20.000 ha rừng trồng gỗ lớn và 25.000 ha rừng được cấp chứng chỉ quản lý bền vững FSC, tạo nền tảng cho phát triển lâm nghiệp bền vững. Công tác trồng rừng bám sát kế hoạch đề ra. Trong tháng, diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 806 ha, giảm nhẹ 0,7% so với cùng kỳ; lũy kế đến cuối tháng đạt 2.956 ha, tăng 0,5%. Nguyên nhân giảm trong tháng chủ yếu do nắng nóng kéo dài, một số hộ dân giãn tiến độ trồng để chờ điều kiện thời tiết thuận lợi hơn; tuy nhiên, tiến độ chung vẫn đảm bảo kế hoạch năm và thời vụ trồng rừng. Hoạt động khai thác gỗ tiếp tục tăng trưởng khá. Sản lượng gỗ khai thác trong tháng ước đạt 67.450 m³, tăng 4,9% so với cùng kỳ; lũy kế đạt 249.420 m³, tăng 7,7%. Nguyên nhân chủ yếu do nhu cầu nguyên liệu của các nhà máy chế biến gỗ tăng, thúc đẩy người dân khai thác các diện tích rừng đến tuổi, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế lâm nghiệp. Công tác quản lý, bảo vệ rừng tiếp tục được triển khai, trong tháng không xảy ra cháy rừng. Tuy nhiên, tình trạng phá rừng còn diễn biến phức tạp với 12 vụ, diện tích thiệt hại 2,156 ha; lũy kế từ đầu năm đến nay là 17 vụ, diện tích 2,429 ha, tăng so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu do người dân chuyển đổi mục đích sử dụng đất sang sản xuất nương rẫy. Do vậy trong thời gian đến, cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ rừng. 1.3. Thủy sản     Tình hình sản xuất thủy sản trong tháng được duy trì ổn định. Thời tiết thuận lợi, nhu cầu tiêu dùng và giá cả thị trường bình ổn đã giúp người dân và doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư phát triển sản xuất. Dự ươc sản lượng thủy sản tháng 4 đạt 6.353 tấn, tăng 4,9% so với cùng kỳ. Lũy kế bốn tháng đầu năm sản lượng thuỷ sản ước đạt 16.568 tấn, tăng 4,1% so với cùng kỳ, trong đó: sản lượng thủy sản khai thác biển đạt 12.460 tấn, tăng 4,0%; sản lượng nuôi trồng thủy sản đạt 3.130 tấn, tăng 4,6%. Với lợi thế có hệ thống đầm phá Tam Giang - Cầu Hai rộng lớn, bờ biển dài, thành phố Huế tập trung phát triển các mô hình nuôi tôm sú, tôm thẻ chân trắng thâm canh và các loại thủy sản khác, đồng thời áp dụng kỹ thuật tiên tiến để tăng năng suất và giảm thiểu rủi ro bệnh dịch. Diện tích nuôi trồng thủy sản thâm canh tháng 4/2026 ước đạt 78 ha, tăng 5,4% so với cùng kỳ, toàn bộ diện tích thả nuôi là tôm thẻ chân trắng. Lũy kế tổng diện tích nuôi trồng thủy sản thâm canh bốn tháng đầu năm 2026 ước đạt 256 ha, tăng 4,5% so với cùng kỳ. Hoạt động khai thác thủy sản trong tháng diễn ra trong điều kiện thời tiết rất thuận lợi. Đây thời điểm này các tàu thuyền tích cực vươn khơi bám biển bắt đầu cho mùa vụ khai thác sôi động với nguồn lợi thủy sản dồi dào hơn. Sản lượng thủy sản khai thác biển trong tháng 4 năm 2026 ước đạt 4.880 tấn tấn, tăng 4,8% so cùng kỳ; trong đó sản lượng cá khai thác biển 4.275 tấn, tăng 4,9%, sản lượng tôm khai thác biển 108 tấn, tăng 4,9%, sản lượng thủy sản khác khai thác biển 497 tấn, tăng 4,6% so cùng kỳ năm trước. Lũy kế sản lượng thủy sản khai thác biển trong bốn tháng đầu năm ước đạt 12.460 tấn, tăng 475 tấn, tăng 4% so cùng kỳ năm trước.         2. Sản xuất công nghiệp Tình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn thành phố Huế trong tháng 4 năm 2026 chịu tác động của nhiều yếu tố, trong đó giá năng lượng tăng cao đã tạo áp lực đáng kể lên chi phí sản xuất, mặt bằng giá cả cũng như năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Tuy vậy, toàn ngành vẫn duy trì đà tăng trưởng tích cực. Đạt kết quả đó chủ yếu do một số ngành sản xuất công nghiệp chủ lực của thành phố ghi nhận mức tăng trưởng khá ngay từ đầu năm, như sản xuất ô tô, sản xuất bia, sản xuất sợi,…Bên cạnh đó, việc bổ sung năng lực sản xuất từ một số dự án mới như Nhà máy sản xuất mũ bảo hiểm Eon Industry Việt Nam, sản phẩm thạch anh bán dẫn của Công ty TNHH America Quartz Technology, cùng với việc mở rộng Nhà máy sản xuất đồ chơi Billionmax Việt Nam đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng chung của ngành.Ước tính, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 4 năm 2026 tăng 15,1% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số IIP tháng 4 năm 2026 tăng 15,1% so với cùng kỳ, trong đó: ngành công nghiệp khai khoáng giảm 1,2%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 16,0%; sản xuất và phân phối điện tăng 9,9%; cấp nước và thu gom rác thải tăng 11,4%. Tính chung bốn tháng đầu năm 2026 chỉ số IIP tăng 13,1% so với năm trước, trong đó: ngành công nghiệp khai khoáng tăng 15,8%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 15,4%; cấp nước và thu gom rác thải tăng 5,6%. Riêng sản xuất và phân phối điện giảm 3,6%. Các ngành công nghiệp cấp 4 trong bốn tháng đầu năm 2026 có chỉ số sản xuất tăng so với cùng kỳ: Khai thác quặng kim loại (+15,50%); sản xuất đồ uống có cồn (+31,1%); sản xuất sợi (+7,4%); sản xuất sản phẩm khác từ cao su (+11,5%); sản xuất sản phẩm từ plastic (+22,9%); sản xuất linh kiện điện tử (+8,4 lần); sản xuất đồ chơi (+28,4%); sản xuất khác chưa được phân vào đâu (+4,4 lần); sản xuất ô tô (+52,3%)... Bên cạnh những dấu hiệu tích cực, hiện nay một số ngành sản xuất công nghiệp vẫn đang gặp không ít khó khăn, dự ước các ngành công nghiệp cấp 4 trong bốn tháng đầu năm 2026 có chỉ số sản xuất giảm so với cùng kỳ: Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (-7,3%); in ấn (-10,9%); sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất (-9,6%); sản xuất vật liệu xây dựng từ đất sét (-6,7%); sản xuất giường, tủ, bàn ghế gỗ (-11,7%); sản xuất, truyền tải và phân phối điện (-3,6%)... Các sản phẩm công nghiệp ước bốn tháng đầu năm 2026 tăng so với cùng kỳ năm trước: Quặng inmenit và tinh quặng inmenit 7,7 nghìn tấn (+15,5%); tôm đông lạnh 1,2 nghìn tấn (+22,1%); bánh làm từ bột khác bảo quản được 1,6 nghìn tấn (+37,6%); đồ uống có cồn 110,7 triệu lít (+28,9%); sợi 37,8 nghìn tấn (+7,4%); quần áo lót cho người lớn không dệt kim hoặc đan móc 124,2 triệu cái (+4,8%); Găng tay, găng hở ngón và găng bao tay bằng cao su lưu hoá 5,1 nghìn tấn (+11,5%); Ô tô 1.327 chiếc (+94,6%)... Các sản phẩm công nghiệp bốn tháng đầu năm 2026 giảm so với cùng kỳ: Vỏ bào, dăm gỗ 290,7 nghìn tấn (-7,3%); sản phẩm in 68,2 triệu trang (-10,8%); cao su tổng hợp và các chất thay thế cao su dẫn xuất từ dầu, ở dạng nguyên sinh hoặc tấm lá hoặc dải 2,1 nghìn tấn (-8,1%); tấm lát đường và vật liệu lát, gạch ốp tường 3,1 triệu m2 (-6,9%); điện sản xuất 504,5 triệu Kwh (-9,2%)… Chỉ số sử dụng lao động thán 4/2026 ước tăng 0,7% so với tháng trước và tăng 10,1% so với cùng kỳ. Tính chung chỉ số sử dụng lao động bốn tháng đầu năm 2026 tăng 8,5% so với cùng kỳ, trong đó tập trung vào một số ngành: Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (+24,1%); sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic (+20,4%); sản xuất xe có động cơ (+23,1%); công nghiệp chế biến, chế tạo khác (+1,2 lần). Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số sử dụng lao động giảm đó là: Sản xuất chế biến thực phẩm (-11,0%); sản xuất trang phục (-9,5%); sản xuất da và các sản phẩm có liên quan (-3,9%); sản xuất kim loại (-33,3%); sản xuất giường, tủ, bàn, ghế (-2,8%)… 3. Vốn đầu tư ngân sách do địa phương quản lý Tình hình thực hiện vốn ngân sách do địa phương quản lý bốn tháng đầu năm 2026 tiếp tục chuyển biến tích cực, với tiến độ thi công các công trình trọng điểm được tăng tốc. Các đơn vị chủ động phối hợp, đẩy nhanh triển khai các hạng mục chuyển tiếp, qua đó tạo khối lượng thực hiện ngày càng rõ nét. Công tác chỉ đạo, điều hành được triển khai quyết liệt ngay từ đầu năm, bảo đảm các dự án hạ tầng chiến lược bám sát quy hoạch và yêu cầu kỹ thuật, qua đó góp phần đưa vốn ngân sách thực hiện trong tháng 4 ước tăng 7,8% so với cùng kỳ. Nguồn vốn ngân sách Nhà nước đầu tư trên địa bàn thành phố Huế do địa phương quản lý thực hiện trong tháng 4/2026 đạt 469 tỷ đồng, đạt 7,3% kế hoạch năm, tăng 7,8% so cùng kỳ. Trong đó, vốn NSNN cấp thành phố ước đạt 397 tỷ đồng, đạt 6,9% kế hoạch, tăng 9,4% so cùng kỳ. Đưa nguồn vốn ngân sách Nhà nước trên địa bàn bốn tháng đầu năm ước đạt 1.438 tỷ đồng, đạt 22,3% kế hoạch năm, tăng 3,5% so với cùng kỳ. Trong đó, vốn NSNN cấp tỉnh bốn tháng đầu năm ước đạt 1.199 tỷ đồng, đạt 21% kế hoạch năm, tăng 10,1% so với cùng kỳ. Nguồn vốn đầu tư ngân sách do địa phương quản lý trong tháng 4/2026 tiếp tục tập trung vào các công trình trọng điểm nhằm đẩy nhanh tiến độ thi công. Trong đó, dự án tuyến đường bộ ven biển qua thành phố và cầu qua cửa Thuận An đang tập trung triển khai thi công đường dẫn đầu cầu phía phường Thuận An và phấn đấu thông xe vào dịp 30/4/2026; các chủ đầu tư đang đôn đốc các nhà thầu thi công gấp rút trong điều kiện thời tiết thuận lợi các tháng đầu năm: dự án đường vành đai 3 đang thực hiện điều chỉnh quy mô với đoạn tuyến phía bắc và triển khai thi công mặt bằng tại các phường Kim Long, Thuận Hóa, Thủy Xuân, Hương An; Dự án đường Nguyễn Hoàng khởi công tháng 1/2026 đang triển khai thi công mở rộng đường; công trình Trường phổ thông nội trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở tại xã A Lưới 3 và 4; các công trình đầu tư xây dựng hạ tầng để di dời, tái định cư (các khu tái định cư, nghĩa trang, chợ, trường học) phục vụ giải phóng mặt bằng Đường sắt tốc độ cao theo trục Bắc - Nam…  Bên cạnh đó, một số dự án lớn như cầu Cồn Hến, cầu qua phá Tam Giang và các dự án tạo quỹ đất tái định cư, bảo tồn Kinh thành Huế giai đoạn 2… cũng đang được triển khai các thủ tục đầu tư và thi công theo kế hoạch.     Nhìn chung, nguồn vốn ngân sách nhà nước tiếp tục ưu tiên cho các dự án chuyển tiếp quy mô lớn. Công tác chỉ đạo, điều hành được thực hiện quyết liệt, góp phần tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ. Đồng thời, nhiều dự án giai đoạn 2026-2030 đang hoàn thiện hồ sơ để sớm khởi công, tạo động lực phát triển hạ tầng đô thị và nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư trên địa bàn. 4. Thương mại, dịch vụ và giá cả Tháng 4/2026 tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn thành phố tiếp tục ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực, các hoạt động thương mại, vận tải, dịch vụ và du lịch diễn ra sôi động góp phần thúc đẩy tiêu dùng và lưu thông hàng hóa. Chuỗi hoạt động trong khuôn khổ Festival Huế 2026 được tổ chức phong phú, đặc sắc, kết hợp các không gian văn hóa truyền thống và hoạt động vui chơi giải trí mang đậm bản sắc dân gian. Đặc biệt, trong dịp nghỉ lễ Giỗ Tổ Hùng Vương và kỳ nghỉ 30/4–01/5, lượng khách du lịch trong và ngoài nước đến Huế tăng cao, góp phần tích cực vào tăng trưởng chung của thành phố. 4.1. Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Tháng 4 tiếp tục là cao điểm của các hoạt động lễ hội, nổi bật là chương trình Lễ hội Mùa Hạ gắn với kỳ nghỉ 30/4–01/5, thu hút lượng lớn du khách đến Huế tham quan, mua sắm. Cùng với đó, các chương trình kích cầu, khuyến mãi của hệ thống phân phối tiếp tục phát huy hiệu quả, góp phần thúc đẩy sức mua trên thị trường. Dự ướ tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 4 tăng 17,5% so với cùng kỳ. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 4/2026 ước đạt 6.217 tỷ đồng, tăng 2,6% so với tháng trước và tăng 17,5% so với cùng kỳ. Chia theo ngành kinh tế: Bán lẻ hàng hóa ước đạt 4.438 tỷ đồng, chiếm 71,4% trong tổng số, tăng 1,6% so với tháng trước và tăng 15,4% so với cùng kỳ. Nguyên nhân tăng so với tháng trước do tháng 4/2026 là tháng diễn ra nhiều lễ hội lớn, do đó nhu cầu mua sắm trong dịp lễ tăng và tháng 4 nhu cầu xây dựng tiếp tục tăng làm cho nhóm hàng này cũng tăng mạnh so với tháng trước. Doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống tháng 4 ước đạt 1.297 tỷ đồng, chiếm 20,9%, tăng 6,9% so với tháng trước và tăng 23,7% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ lữ hành đạt 33 tỷ đồng, chiếm 0,5%, tương ứng tăng 3,1% và tăng 23,0%; doanh thu dịch vụ khác đạt 449 tỷ đồng, chiếm 7,2%, tăng 0,9% và tăng 21,0%. Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng bốn tháng đầu năm 2026 đạt 24.520 tỷ đồng, tăng 17,8% so với cùng kỳ, trong đó doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 17.506 tỷ đồng, chiếm 71,4% trong tổng số và tăng 15,4% so với cùng kỳ; dịch vụ lưu trú và ăn uống đạt 5.044 tỷ đồng, chiếm 20,6% và tăng 24,0%; dịch vụ lữ hành đạt 141 tỷ đồng, chiếm 0,6% và tăng 18,4%; dịch vụ khác đạt 1.829 tỷ đồng, chiếm 7,5% và tăng 24,5%.  4.2. Vận tải hành khách và hàng hóa Hoạt động vận tải trên địa bàn thành phố Huế trong tháng 4/2026 diễn ra sôi động, với việc tăng cường phương tiện phục vụ dịp lễ 30/4–01/5 và khởi động du lịch thuyền điện trên sông Ngự Hà nhằm khôi phục giao thông đường thủy và tạo điểm nhấn du lịch. Nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hóa gia tăng trong mùa cao điểm du lịch đã thúc đẩy hoạt động vận tải tăng khá. Tuy nhiên với giá nhiên liệu tăng làm chi phí vận hành của các đơn vị vận tải gia tăng, tạo áp lực nhất định lên hoạt động kinh doanh. Dự ước tháng 4/2026 hành khách vận chuyển đạt 4,3 triệu hành khách, tăng 3,7% so với tháng trước và tăng 20,5% so với cùng kỳ; hành khách luân chuyển đạt 209,3 triệu hành khách.km, tăng 3,3% so với tháng trước và tăng 21,0% so với cùng kỳ. Tính chung bốn tháng đầu năm 2026, vận tải hành khách ước đạt 16,6 triệu hành khách, tăng 20,3% so với cùng kỳ và luân chuyển ước đạt 812,9 triệu hành khách.km, tăng 20,6%. Dự ước hàng hóa vận chuyển tháng 4/2026 đạt 2,4 triệu tấn, tăng 1,2% so với tháng trước và tăng 15,1% so với cùng kỳ; hàng hóa luân chuyển đạt 196,9 triệu tấn.km, tăng 1,6% so với tháng trước và tăng 15,2% so với cùng kỳ. Tính chung bốn tháng đầu năm 2026, vận tải hàng hóa ước đạt 9,3 triệu tấn tăng 15,7% so với cùng kỳ và luân chuyển ước đạt 777,8 triệu tấn.km, tăng 15,3%. Dự ước doanh thu vận tải, kho bãi và bưu chính chuyển phát tháng 4/2026 đạt 602,1 tỷ đồng, tăng 2,2% so với tháng trước và tăng 19,7% so với cùng kỳ. Đưa doanh thu vận tải, bốc xếp bốn tháng đầu năm 2026 ước đạt 2.355,7 tỷ đồng, tăng 20,1% so cùng kỳ. Chia theo loại hình dịch vụ: doanh thu vận tải hành khách ước đạt 515,5 tỷ đồng, tăng 21,6%; vận tải hàng hóa ước đạt 1.606,8 tỷ đồng, tăng 17,1%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 233,4 tỷ đồng, tăng 41,3%. Trong đó doanh thu vận tải bao gồm: đường bộ đạt 2.120,1 tỷ đồng, tăng 18,2%; đường sông đạt 2,2 tỷ đồng, tăng 24,6%. 4.3. Lượt khách các cơ sở lưu trú phục vụ và du lịch lữ hành Tháng 4, hoạt động du lịch trên địa bàn tiếp tục diễn ra sôi động nhờ hiệu ứng lan tỏa từ mùa cao điểm Tết Nguyên đán, cùng chuỗi sự kiện chào mừng dịp lễ 30/4–01/5, Lễ hội Mùa Hạ và Tuần lễ Festival Nghệ thuật Quốc tế Huế 2026. Các hoạt động kích cầu du lịch được tổ chức đồng bộ, hiệu quả, các lĩnh vực lưu trú, ăn uống, lữ hành và dịch vụ hỗ trợ du lịch có sự phối hợp chặt chẽ, chủ động nâng cao chất lượng sản phẩm và đa dạng hóa trải nghiệm nhằm thu hút và giữ chân du khách, qua đó thúc đẩy lượt khách lưu trú tăng lên. Dự ước lượt khách do cơ sở lưu trú phục vụ tháng 4/2026 đạt 263,7 nghìn lượt khách, tăng 1,0% so với tháng trước và tăng 20,5% so với cùng kỳ. Trong đó, lượt khách ngủ qua đêm tháng 4/2026 ước đạt 225,7 nghìn lượt khách, tăng 1,1% so với tháng trước và tăng 23,2% so với cùng kỳ; lượt khách trong ngày đạt 38,0 nghìn lượt khách, tăng 0,8% so với tháng trước và tăng 6,4% so với cùng kỳ. Đưa lượt khách do các cơ sở lưu trú phục vụ bốn tháng đầu năm 2026 đạt 991,2 nghìn lượt, tăng 20,2% so với cùng kỳ. Trong đó, lượt khách ngủ qua đêm bốn tháng đầu năm đạt 840,6 nghìn lượt, tăng 22,7% so cùng kỳ; lượt khách trong ngày đạt 150,6 nghìn lượt, tăng 7,8% so với cùng kỳ. Trong lượt khách ngủ qua đêm, khách quốc tế 379,3 nghìn lượt, tăng 24,4%; khách trong nước 461,3 nghìn lượt, tăng 21,3% so với cùng kỳ. Ngày khách dự ước tháng 4/2026 đạt 383,9 nghìn ngày, tăng 1,0% so với tháng trước và tăng 26,0% so với cùng kỳ. Trong đó: Ngày khách quốc tế đạt 187,4 nghìn ngày, giảm 1,3% so với tháng trước và tăng 45,1% so với cùng kỳ; ngày khách trong nước đạt 196,4 nghìn ngày, tăng 3,2% so với tháng trước và tăng 11,9% so với cùng kỳ. Đưa ngày khách dự ước bốn tháng đầu năm đạt 1.428,2 nghìn ngày, tăng 24,7% so với cùng kỳ. Trong đó: Ngày khách quốc tế đạt 678,6 nghìn ngày, tăng 28,0%; ngày khách trong nước đạt 749,6 nghìn ngày, tăng 21,8%.Lượt khách phục vụ của các cơ sở lữ hành thực hiện tháng 4/2026 ước đạt 22,8 nghìn lượt, tăng 5,6% với tháng trước và tăng 25,1% so với cùng kỳ; đưa lượt khách bốn tháng đầu năm ước đạt 85,9 nghìn lượt, tăng 20,0 so với cùng kỳ. Ngày khách theo tour ước thực hiện tháng 4/2026 là 47,5 nghìn ngày, tăng 5,8% so với tháng trước và tăng 25,1% so với cùng kỳ. Đưa ngày khách theo tour bốn tháng đầu năm ước đạt 177,7 nghìn ngày khách, tăng 20,0% so với cùng kỳ. 4.4. Giá cả - Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) Chỉ số giá tiêu dùng chung toàn thành phố tháng 4/2026 tăng 0,50% so với tháng trước. Nguyên nhân tăng chủ yếu là do tác động của nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng khi giá gas và điện sinh hoạt tăng mạnh. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 8 nhóm hàng tăng giá: Nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 2,73%; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,76%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,54%; Đồ uống và thuốc lá tăng 0,43%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,32%; May mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,28%; Thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,06%; Bưu chính viễn thông tăng 0,05%. Có 3 nhóm hàng giảm giá: Giao thông giảm 0,67%; Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,18%; Giáo dục giảm 0,01%. Chỉ số giá tiêu dùng chung toàn thành phố tháng 4/2026 tăng 4,14% so với tháng 12 năm trước và tăng 6,34% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân bốn tháng đầu năm 2026 tăng 4,94% so với bình quân cùng kỳ năm trước, nguyên nhân chủ yếu là do một số nhóm hàng hóa và dịch vụ tăng như: nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 8,74%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 5,95%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 5,54%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,28%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 3,89%; giáo dục tăng 3,77%. - Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ  Chỉ số giá vàng tháng 4/2026 giảm 7,22% so với tháng trước, tăng 10,70% so với tháng 12 năm trước và tăng 53,69% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 4/2026 tăng 0,17% so với tháng trước, giảm 0,18% so với tháng 12 năm trước và tăng 1,39% so với cùng kỳ năm trước. 5. Tài chính, ngân hàng 2.1. Tài chính Tổng thu ngân sách trên địa bàn bốn tháng đầu năm 2026 ước đạt 5.055 tỷ đồng, bằng 31,6% dự toán năm, cho thấy tiến độ thu cơ bản đảm bảo yêu cầu, bám sát kịch bản điều hành ngân sách ngay từ đầu năm. Trong đó, thu nội địa đạt 4.512,8 tỷ đồng, bằng 31,1% dự toán, khẳng định vai trò trụ cột của khu vực kinh tế trong nước trong việc tạo nguồn thu bền vững cho ngân sách; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 535,7 tỷ đồng, bằng 36,9% dự toán. Trong thu nội địa: thu doanh nghiệp Nhà nước ước đạt 162 tỷ đồng, bằng 31,8% dự toán; thu doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 1.665 tỷ đồng, bằng 36,3% dự toán; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 853 tỷ đồng, bằng 37,1% dự toán; thuế thu nhập cá nhân 272 tỷ đồng, bằng 36,3% dự toán; thuế bảo vệ môi trường 15 tỷ đồng, bằng 33,0% dự toán. Song song với nhiệm vụ thu, việc điều hành chi ngân sách địa phương cũng được triển khai chặt chẽ với tổng chi ước đạt 4.478,9 tỷ đồng, tương đương 24,2% dự toán năm. Trong cơ cấu chi, chi thường xuyên chiếm tỷ trọng chủ đạo với 3.331,0 tỷ đồng, đạt 28,7% dự toán nhằm đảm bảo vận hành bộ máy và các hoạt động an sinh xã hội. Đối với chi đầu tư phát triển, đã giải ngân được 809,2 tỷ đồng, đạt 17,6% dự toán, còn chậm so với yêu cầu thúc đẩy tăng trưởng. 2.2. Ngân hàng Hoạt động tín dụng trên địa bàn thành phố Huế được điều hành bám sát định hướng của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước, đặc biệt là việc triển khai Chương trình tín dụng 140 nghìn tỷ đồng theo Nghị quyết 33/NQ-CP và các cơ chế hỗ trợ như cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giữ nguyên nhóm nợ theo quy định. Các chính sách này đã góp phần tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và người dân, đồng thời hỗ trợ phục hồi thị trường, nhất là lĩnh vực bất động sản, khu vực có tác động lan tỏa lớn đến nền kinh tế. Tổng nguồn vốn huy động đến cuối tháng 4/2026 ước đạt 92,5 nghìn tỷ đồng, tăng 2,89% so với cuối năm 2025; tổng dư nợ tín dụng đạt 98,7 nghìn tỷ đồng, tăng 3,02%. Mức tăng trưởng này khá khiêm tốn, phản ánh nhu cầu hấp thụ vốn của nền kinh tế chưa thực sự mạnh, đồng thời cho thấy các tổ chức tín dụng vẫn duy trì xu hướng thận trọng trong cấp tín dụng nhằm kiểm soát rủi ro. Các TCTD trên địa bàn thành phố Huế tiếp tục chú trọng cho vay các lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ. Tính đến cuối tháng 04/2026: Tín dụng đối với nông nghiệp nông thôn ước đạt 19.000 tỷ đồng, tăng 5,76% so với cuối năm 2025; Tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa ước đạt 18.000 tỷ đồng, tăng 4,46% so với cuối năm 2025; Tín dụng đối với xuất khẩu ước đạt 6.000 tỷ đồng, tăng 4,11% so với cuối năm 2025; Cho vay công nghiệp hỗ trợ ước đạt 7.200 tỷ đồng, tăng 358,89%% so với cuối năm 2025. Trên địa bàn chưa phát sinh có dư nợ cho vay doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao. 6. Các vấn đề xã hội 6.1. Giáo dục - Đào tạo  Trong tháng 4 năm 2026, lĩnh vực giáo dục - đào tạo trên địa bàn Huế tiếp tục được duy trì nề nếp, đúng kế hoạch. Đây là thời điểm các cơ sở giáo dục tập trung hoàn thành chương trình giảng dạy, đồng thời tăng cường ôn tập, củng cố kiến thức cho học sinh, chuẩn bị cho các kỳ kiểm tra cuối kỳ và kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông sắp tới. Ngành Giáo dục và Đào tạo triển khai nhiều hoạt động thi đua, hội thi nhằm nâng cao chất lượng dạy và học: cuộc thi “Học sinh, sinh viên với ý tưởng khởi nghiệp” lần thứ VIII dự án “Cháo An Vị” của nhóm sinh viên Trường Đại học Y - Dược, Đại học Huế xuất sắc đạt giải Ba. Hội thao Giáo dục quốc phòng và an ninh học sinh THPT toàn quốc lần thứ IV năm 2026 tại TP. Hồ Chí Minh. Đoàn Huế gồm 18 vận động viên (6 nữ, 12 nam), được tuyển chọn từ những học sinh đạt thành tích cao tại hội thao cấp thành phố năm 2026. Chất lượng giáo dục tiếp tục được duy trì. Theo kết quả kỳ thi chọn đội tuyển quốc gia dự thi Olympic quốc tế và khu vực năm 2026, học sinh trường chuyên Quốc Học được chọn vào đội tuyển Olympic Tin học châu Á - Thái Bình Dương, khẳng định vị thế của giáo dục Huế trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi. Ngày 18/4, Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế tổ chức “Ngày hội việc làm năm 2026” với sự tham gia của 21 đơn vị tuyển dụng, 717 vị trí việc làm và 156 vị trí thực tập. Sự kiện thu hút hơn 1.000 lượt sinh viên tham gia phỏng vấn, chủ yếu là sinh viên năm thứ 3 và thứ 4. Hoạt động góp phần tăng cường kết nối giữa cơ sở đào tạo và thị trường lao động. 6.2. Tình hình y tế Tháng 4/2026, trên địa bàn có 13 ca sốt xuất huyết, giảm 10 ca so cùng kỳ; có 86 ca mắc tay chân miệng, tăng 55 ca so với cùng kỳ; 2 ca mắc liên cầu lợn, tăng 2 ca so với cùng kỳ. Bốn tháng đầu năm, trên địa bàn có 57 ca sốt xuất huyết, giảm 42 ca so cùng kỳ; có 133 ca mắc tay chân miệng, tăng 61 ca so với cùng kỳ; 3 ca liên cầu lợn, tăng 3 ca so với cùng kỳ. Tháng 3/2026, trên địa bàn đã phát hiện 5 ca nhiễm mới HIV, giảm 3 ca so cùng kỳ; 2 ca chuyển qua AIDS, tăng 1 ca so với cùng kỳ; 1 ca tử vong, bằng cùng kỳ. Ba tháng đầu năm, trên địa bàn có 15 ca nhiễm mới HIV, giảm 13 ca so cùng kỳ; 3 ca chuyển qua AIDS, giảm 4 ca so với cùng kỳ; 1 ca tử vong, giảm 1 ca so cùng kỳ. Hiện tại, trên địa bàn có 604 bệnh nhân đang được quản lý và điều trị tại các cơ sở y tế, trong đó có 599 bệnh nhân điều trị ARV. Tháng 4/2026, trên địa bàn xảy ra 2 vụ ngộ độc thực phẩm, tăng 2 vụ so cùng kỳ, làm 25 người bị ngộ độc, không có người chết. Bốn tháng đầu năm, trên địa bàn xảy ra 4 vụ ngộ độc thực phẩm, tăng 4 vụ so với cùng kỳ, làm 25 người bị ngộ độc và không có người chết. 6.3. Hoạt động văn hóa, thể thao Tình hình văn hóa – thể thao trong tháng diễn ra sôi nổi, hưởng ứng mùa du lịch cao điểm và chuỗi hoạt động lễ hội truyền thống. Các hoạt động được tổ chức phong phú, đa dạng, vừa đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa, giải trí của người dân và du khách, vừa góp phần quảng bá hình ảnh địa phương. Sáng 18/4, Lễ hội Điện Huệ Nam chính thức khai hội, mở màn Festival mùa Hạ - Festival Huế 2026. Lễ hội Điện Huệ Nam được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2025. Lễ hội không chỉ tôn vinh nét đẹp tín ngưỡng thờ Mẫu mà còn góp phần lan tỏa giá trị văn hóa, hướng đến không gian lễ hội văn minh, giàu bản sắc. Tổ chức thành công nhiều giải thể thao cấp quốc gia và địa phương, nổi bật gồm: Các chặng đua tại thành phố Huế trong khuôn khổ Giải đua xe đạp toàn quốc tranh cúp Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ 38 năm 2026, góp phần tạo không khí sôi động và quảng bá hình ảnh thành phố. Giải bóng bàn đồng đội CLB Nguyễn Trãi mở rộng lần I. Giải vô địch đá cầu xuất sắc Quốc Gia 2026, giải đấu lần đầu được bộ môn đá cầu Việt Nam tổ chức, thành phố Huế là đơn vị đầu tiên đăng cai. Giải bơi vô địch quốc gia, giải Lặn vô địch quốc gia, quy tụ nhiều VĐV xuất sắc trên toàn quốc. Các sự kiện thể thao quy mô lớn như VnExpress Marathon Huế 2026, Kun Marathon 2026 đã góp phần làm phong phú thêm nội dung của Festival Huế, đồng thời tạo động lực thúc đẩy phát triển du lịch, dịch vụ và kinh tế địa phương. Việc kết hợp giữa thể thao – văn hóa – giáo dục môi trường thể hiện xu hướng tổ chức sự kiện hiện đại, bền vững và có sức lan tỏa cao. Đến nay, 100% xã, phường đã triển khai tổ chức Đại hội cấp cơ sở, đảm bảo tiến độ, an toàn, tiết kiệm và thu hút đông đảo người dân tham gia. Ở cấp thành phố, đã tổ chức thi đấu 14/18 môn; công tác chuẩn bị Lễ khai mạc dự kiến tổ chức vào tháng 9/2026 đang được triển khai tích cực 6.4. Tai nạn giao thông Theo báo cáo của Ban ATGT thành phố, từ 15/03/2026 đến 14/04/2026, trên địa bàn đã xảy ra 17 vụ tai nạn giao thông, giảm 4 vụ so với cùng kỳ; làm 10 người chết, tăng 5 người so với cùng kỳ; làm bị thương 9 người, giảm 6 người so với cùng kỳ. Bốn tháng đầu năm, trên địa bàn xảy ra 56 vụ tai nạn giao thông, giảm 27 vụ so với cùng kỳ; làm chết 40 người, tăng 7 người và làm bị thương 31 người, giảm 30 người so với cùng kỳ. 6.5. Tình hình cháy nổ và bảo vệ môi trường Trong tháng 4/2026 trên địa bàn xảy ra 4 vụ cháy; tăng 3 vụ so cùng kỳ, tăng 2 vụ so với tháng trước. Các vụ cháy xảy ra tại nhà dân và xe tải; nguyên nhân do sự cố hệ thống điện; thiệt hại ước khoảng 80 triệu đồng, làm 1 người chết. Bốn tháng đầu năm, trên địa bàn xảy ra 8 vụ cháy, tăng 5 vụ so với cùng kỳ, làm 1 người chết, tổng giá trị thiệt hại 85,4 triệu đồng. Trong tháng 4/2026 trên địa bàn xảy ra 3 vụ vi phạm môi trường, giảm 8 vụ so với cùng kỳ, tăng 1 vụ so với tháng trước. Các hình thức vi phạm: 1 vụ xả nước thải vượt quy chuẩn kỹ thuật và 2 vụ xả khí thải vượt quy chuẩn kỹ thuật; tiến hành xử lý 3 vụ với số tiền xử phạt 469,2 triệu đồng. Bốn tháng đầu năm, trên địa bàn xảy ra 19 vụ, giảm 34 vụso với cùng kỳ; tiến hành xử lý 21 vụ với số tiền xử phạt 2384,1 triệu đồng. 6.6. Thiệt hại do thiên tai Tháng 4/2026 không xảy ra thiên tai, giảm 2 vụ so với cùng kỳ, bằng tháng trước. Bốn tháng đầu năm, trên địa bàn không xảy ra thiên tai, giảm 2 vụ so với cùng kỳ./. 1. Sản hống kê thành phố Huế

TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI QUÝ I TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HUẾ
  •   02/04/2026 08:15

Thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2026; Công điện số 06/CĐ-TTg ngày 24/01/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm nhằm thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2026; Nghị quyết số 01-NQ/TU của Thành ủy, Nghị quyết số 113//NQ-HĐND của HĐND thành phố về nhiệm vụ và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026; Quyết định số 01/QĐ-UBND của UBND thành phố về việc triển khai thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026. Kết quả đạt được trên các ngành, lĩnh vực trên địa bàn thành phố trong quí I năm 2026 như sau:- Tổng sản phẩm trên địa bàn ước tăng 9,01% so với cùng kỳ;- Chỉ số sản xuất công nghiệp ước tăng 13,1%;- Doanh thu bán lẻ hàng hóa ước tăng 16,2%;- Lượt khách do cơ sở lưu trú phục vụ ước tăng 18,3%;- Tổng vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn ước tăng 13,3%;- Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước tăng 28,0%.1. Tăng trưởng kinh tế Tổng sản phẩm trên địa bàn thành phố quý I/2026 ước tăng 9,01% so với cùng kỳ, phản ánh xu hướng phục hồi và phát triển tích cực trong bối cảnh kinh tế còn nhiều biến động. Đây là mức tăng trưởng khá, xét trên phạm vi cả nước Huế xếp thứ 14 trong tổng số 34 địa phương, trong khu vực Bắc Trung Bộ Thành phố xếp thứ 3 trên 5 địa phương, đối với các thành phố trực thuộc Trung ương xếp thứ 2 trong số 6 thành phố. Trong đó: Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,62%, đóng góp 0,28 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,31%, đóng góp 3,21 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 9,01%, đóng góp 4,79 điểm phần trăm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 7,59%, đóng góp 0,73 điểm phần trăm trong tăng trưởng kinh tế toàn thành phố. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục tăng trưởng ổn định, khẳng định vai trò là trụ đỡ quan trọng của nền kinh tế. Sản xuất nông nghiệp được tổ chức hợp lý, tập trung vào các cây trồng chủ lực nhằm nâng cao năng suất và chất lượng; chăn nuôi phát triển theo hướng bền vững, đáp ứng tốt nhu cầu tiêu dùng tại địa phương; lĩnh vực lâm nghiệp được triển khai đồng bộ từ trồng, chăm sóc đến bảo vệ rừng, góp phần nâng cao độ che phủ và cải thiện môi trường sinh thái; hoạt động thủy sản duy trì ổn định với sản lượng nuôi trồng và khai thác được giữ vững. Cụ thể, ngành nông nghiệp tăng 4,75%, đóng góp 0,15 điểm phần trăm; ngành lâm nghiệp tăng 5,94%, đóng góp 0,07 điểm phần trăm; và ngành thủy sản tăng 3,49%, đóng góp 0,06 điểm phần trăm. Mặc dù tốc độ tăng trưởng chưa cao, khu vực này vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc ổn định kinh tế - xã hội trên địa bàn. Khu vực công nghiệp - xây dựng ghi nhận mức tăng trưởng khá cao, trong đó ngành công nghiệp tăng 11,27%, đóng góp 2,83 điểm phần trăm, tuy nhiên sự phát triển giữa các ngành còn thiếu đồng đều. Công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt với mức tăng 15,13%, khẳng định là động lực chủ yếu của tăng trưởng nhờ khả năng mở rộng sản xuất và thích ứng thị trường. Ngược lại, ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt giảm 11,18%, trở thành yếu tố kìm hãm tốc độ tăng chung, đồng thời cho thấy sự phụ thuộc lớn của ngành này vào điều kiện thời tiết. Khu vực dịch vụ tiếp tục là động lực tăng trưởng chủ yếu, với mức tăng tương đối đồng đều và ổn định giữa các ngành. Các lĩnh vực gắn với tiêu dùng và du lịch phục hồi mạnh mẽ, nổi bật là ngành bán buôn, bán lẻ hàng hoá tăng 9,66% so với cùng kỳ, đóng góp 0,85 điểm phần trăm; dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng 12,78%, đóng góp 0,98 điểm; vận tải kho bãi tăng 15,17%, đóng góp 0,51 điểm; nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 8,69%, đóng góp 0,06 điểm… Điều này cho thấy nhu cầu tiêu dùng trong nước và hoạt động du lịch đang từng bước phục hồi rõ nét. Bên cạnh đó, các lĩnh vực như tài chính, bất động sản, giáo dục và y tế tiếp tục duy trì tăng trưởng ổn định, góp phần củng cố vai trò dẫn dắt của khu vực dịch vụ trong cơ cấu kinh tế. Cơ cấu kinh tế quý I/2026, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 5,94%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 28,90%; khu vực dịch vụ chiếm 55,59%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 9,58% (cơ cấu tương ứng của cùng kỳ năm 2025 là: 6,20%; 29,20%; 54,90% và 9,70%). 2. Tài chính, ngân hàng, bảo hiểm2.1. Tài chínhTổng thu ngân sách trên địa bàn trong quý I/2026 ước đạt 3.700 tỷ đồng, bằng 23,1% dự toán năm, cho thấy tiến độ thu cơ bản đảm bảo yêu cầu, bám sát kịch bản điều hành ngân sách ngay từ đầu năm. Trong đó, thu nội địa đạt 3.294,2 tỷ đồng, bằng 22,7% dự toán, khẳng định vai trò trụ cột của khu vực kinh tế trong nước trong việc tạo nguồn thu bền vững cho ngân sách; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 399,7 tỷ đồng, bằng 27,6% dự toán.Trong thu nội địa: thu doanh nghiệp Nhà nước ước đạt 109 tỷ đồng, bằng 21,4% dự toán; thu doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 1.185 tỷ đồng, bằng 25,8% dự toán; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 600 tỷ đồng, bằng 30,3% dự toán; thuế thu nhập cá nhân 195 tỷ đồng, bằng 26,0% dự toán; thuế bảo vệ môi trường 95 tỷ đồng, bằng 23,8% dự toánSong song với nhiệm vụ thu, việc điều hành chi ngân sách địa phương cũng được triển khai chặt chẽ với tổng chi ước đạt 3.139,5 tỷ đồng, tương đương 17,0% dự toán năm. Trong cơ cấu chi, chi thường xuyên chiếm tỷ trọng chủ đạo với 1.414,0 tỷ đồng, đạt 20,8% dự toán nhằm đảm bảo vận hành bộ máy và các hoạt động an sinh xã hội. Đối với chi đầu tư phát triển, đã giải ngân được 664 tỷ đồng, đạt 14,4% dự toán, còn chậm so với yêu cầu thúc đẩy tăng trưởng.2.2. Bảo hiểmNhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, các doanh nghiệp bảo hiểm đã tập trung triển khai đồng bộ nhiều giải pháp trọng tâm. Trong đó, đẩy mạnh tăng trưởng toàn diện trên tất cả các kênh bán hàng gắn với tiêu chí chất lượng được xác định là nhiệm vụ xuyên suốt; đồng thời, lấy sự khác biệt trong quản trị doanh nghiệp và tổ chức kênh phân phối làm lợi thế cạnh tranh. Các doanh nghiệp cũng tích cực đa dạng hóa phương thức thu phí trực tuyến, linh hoạt gia hạn thời gian đóng phí nhằm hỗ trợ khách hàng trong những giai đoạn gặp khó khăn.Cùng với đó, công tác kiểm soát nội bộ tiếp tục được tăng cường, gắn với việc xây dựng và lan tỏa văn hóa quản trị rủi ro, đảm bảo tuân thủ chặt chẽ các quy định của cơ quan quản lý nhà nước. Đặc biệt, quyền lợi và trải nghiệm của khách hàng luôn được đặt ở vị trí trung tâm, thể hiện qua việc không ngừng nâng cao chất lượng tư vấn, cải tiến sản phẩm, dịch vụ và mở rộng, đa dạng hóa các kênh phân phối.Trước những tín hiệu tích cực của thị trường, sau giai đoạn tập trung đầu tư vào nguồn nhân lực và hệ thống nhằm nâng cao chất lượng phục vụ, các doanh nghiệp bảo hiểm đã sẵn sàng bước vào chu kỳ tăng trưởng mới trong năm 2026. Dự kiến, doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường trong quý I sẽ đạt mức tăng trưởng khá, ước khoảng 6,0% - 7,0% so với cùng kỳ.3. Giá cả, lạm phát- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)Chỉ số giá tiêu dùng trên địa bàn thành phố quý I/2026 tăng 4,49% so với cùng kỳ, chủ yếu do nhu cầu tiêu dùng tăng cao trong dịp Tết và đầu năm. Bên cạnh đó, giá nhà thuê tăng khi Huế trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, cùng với biến động tăng của giá nhiên liệu, đặc biệt là xăng dầu, đã tác động lan tỏa làm chi phí vận tải tăng, kéo theo nhóm giao thông tăng. Ngoài ra, giá vàng và đô la Mỹ biến động theo thị trường thế giới và trong nước, trong đó giá vàng tăng mạnh 82,28% và giá đô la Mỹ tăng 2,71% so với cùng kỳ.Chỉ số giá tiêu dùng thành phố tháng 3/2026 tăng 0,80% so với tháng trước, nguyên nhân chủ yếu do tác động của nhóm giao thông khi giá xăng dầu tăng mạnh. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 7 nhóm hàng tăng giá: Giao thông tăng 11,45%; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,42%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,23%; Nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,18%; Thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,10%; Giáo dục tăng 0,02%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,01%. Có 4 nhóm hàng giảm giá: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,55%, Đồ uống và thuốc lá giảm 0,85%, May mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,43%; Thông tin và truyền thông giảm 0,14%Chỉ số giá tiêu dùng tháng 3/2026 tăng 3,65% so với tháng 12 năm trước và tăng 6,19% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân quý I/2026 tăng 4,49% so với bình quân cùng kỳ năm trước. Các nhóm hàng hóa dịch vụ có chỉ số giá bình quân quý I/2026 tăng so cùng kỳ năm trước gồm: nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 8,27%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 5,50%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 5,32%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,40%; giáo dục tăng 3,78%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 3,75%. Các nhóm còn lại tăng giảm không đáng kể.- Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ Chỉ số giá vàng tháng 3/2026 tăng 1,78% so với tháng trước, tăng 19,31% so với tháng 12 năm trước và tăng 81,74% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân quý I/2026 tăng 82,28% so với bình quân cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 3/2026 tăng 0,59% so với tháng trước, giảm 0,35% so với tháng 12 năm trước và tăng 2,38% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân quý I/2026 tăng 2,71% so với bình quân cùng kỳ năm trước. 4. Hoạt động xuất nhập khẩu Hoạt động xuất nhập khẩu trên địa bàn trong quý I/2026 khởi sắc, phản ánh rõ nét sự phục hồi của sản xuất công nghiệp và xu hướng mở rộng thị trường. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước đạt 766,4 triệu USD, tăng khoảng 28,8% so với cùng kỳ; trong đó xuất siêu đạt 75,4 triệu USD, tăng 20,4%. Những kết quả này cho thấy quy mô xuất khẩu tiếp tục được nâng lên, giữ vai trò là động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đồng thời khẳng định hiệu quả hoạt động của khu vực doanh nghiệp cũng như sự cải thiện về năng lực sản xuất và khả năng tham gia thị trường quốc tế. 4.1. Xuất khẩu Kim ngạch xuất khẩu (KNXK) hàng hóa trong quý I/2026 ước đạt 420,9 triệu USD tăng 28,0% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực doanh nghiệp 100% vốn trong nước ước đạt 287,3 triệu USD, tăng 43,5%, tiếp tục giữ vai trò chủ lực; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 133,6 triệu USD, tăng 3,9% so với cùng kỳ. Các nhóm hàng xuất khẩu chủ lực của thành phố cụ thể như sau: - Nhóm hàng nông, thuỷ sản: KNXK ước đạt 51,2 triệu USD, tăng gần gấp 2 lần so với cùng kỳ và chiếm tỷ trọng 12,2%. - Nhóm hàng công nghiệp chế biến: KNXK ước đạt 257,1 triệu USD, tăng 3,9% so với cùng kỳ và chiếm tỷ trọng 61,1%. - Nhóm các hàng hóa khác như hương và bột hương, bia, rượu sa kê, hàng thủ công mỹ nghệ, bao bì xi măng,…: KNXK ước đạt 112,6 triệu USD, tăng gấp 2 lần so với cùng kỳ. Thị trường xuất khẩu: Trong quý I/2026, doanh nghiệp đã xuất khẩu đến khoảng 45 quốc gia và vùng lãnh thổ như Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, ASEAN, các nước Châu Âu,…  4.2. Nhập khẩu Kim ngạch nhập khẩu (KNNK) hàng hóa trong quý I/2026 ước đạt 345,5 triệu USD tăng 29,8% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực doanh nghiệp 100% vốn trong nước ước đạt 262,3 triệu USD, tăng 43,8%; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 83,2 triệu USD, giảm 0,7% so với cùng kỳ. Các mặt hàng nhập khẩu tiếp tục phục vụ cho hoạt động sản xuất, xuất khẩu của các doanh nghiệp, cụ thể: - Nhóm hàng cần nhập khẩu: KNNK ước đạt 150,11 triệu USD, tăng 2,69% so với cùng kỳ và chiếm tỷ trọng 43,5%, trong đó: nguyên phụ liệu dệt may ước đạt 144,6 triệu USD, tăng 0,9%; máy móc thiết bị dụng cụ phụ tùng ước đạt 3,7 triệu USD tăng 39,7%. - Nhóm hàng cần kiểm soát nhập khẩu: linh kiện phụ tùng ô tô ước đạt 88,0 triệu USD tăng 78,0% so với cùng kỳ và chiếm tỷ trọng 25,4% - Nhóm hàng hóa khác như thạch cao, thép, hóa chất, linh kiện điện tử, nguyên phụ liệu sản xuất bia,...: KNNK ước đạt 107,4 triệu USD, tăng 52,4% so với cùng kỳ và chiếm tỷ trọng 31,1%.5. Vốn đầu tư và xây dựng5.1. Vốn đầu tưTrên cơ sở chỉ đạo của Trung ương và HĐND thành phố, UBND thành phố Huế đã chủ động phân bổ kế hoạch vốn đầu tư công ngay từ đầu năm, đồng thời tập trung tháo gỡ khó khăn để đẩy nhanh tiến độ các dự án. Hoạt động đầu tư phát triển trên địa bàn có nhiều khởi sắc, với sự tham gia tích cực của cả nguồn vốn nhà nước và ngoài nhà nước. Các dự án hạ tầng giao thông, đô thị, công nghiệp và dịch vụ trọng điểm được triển khai đồng bộ, góp phần cải thiện diện mạo đô thị và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.Thực hiện Quyết định số 2691/QĐ-TTg ngày 10/12/2025 của Thủ tướng Chính phủ về giao kế hoạch vốn đầu tư công năm 2026, đồng thời căn cứ Nghị quyết số 107/NQ-HĐND ngày 08/12/2025 của HĐND thành phố Huế, UBND thành phố Huế đã ban hành Quyết định số 3991/QĐ-UBND ngày 29/12/2025 để phân bổ chi tiết 100% kế hoạch vốn cho các chương trình, nhiệm vụ và dự án. Ngay từ đầu năm, UBND thành phố đã chỉ đạo các sở, ban, ngành và địa phương tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp và các dự án, qua đó đẩy nhanh tiến độ triển khai các công trình trên địa bàn. Nhờ đó, vốn đầu tư phát triển trong quý I/2026 ước đạt 7.964,1 tỷ đồng, bằng 19,9% kế hoạch năm và tăng 13,3% so với cùng kỳ.Vốn đầu tư khu vực nhà nước trong quý I/2026 ước đạt 1.565,9 tỷ đồng, chiếm 19,7% tổng nguồn vốn và tăng 22,7% so với cùng kỳ. Trong đó, vốn do Trung ương quản lý ước đạt 347 tỷ đồng, tăng mạnh 97,4%, chủ yếu nhờ việc tiếp tục triển khai đồng loạt nhiều dự án trọng điểm trên địa bàn như: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Lộc; Bệnh viện Quốc tế giai đoạn 2 thuộc Bệnh viện Trung ương Huế; Ký túc xá tập trung sinh viên Đại học Huế; sửa chữa đập Thảo Long; dự án mở rộng cao tốc Bắc - Nam đoạn La Sơn - Hòa Liên (dự kiến hoàn thành cuối quý II/2026) và dự án mở rộng cao tốc Cam Lộ - La Sơn (khởi công cuối tháng 12/2025, dự kiến hoàn thành cuối năm 2026). Các dự án được tập trung huy động tối đa nhân lực, máy móc, thiết bị để đẩy nhanh tiến độ thi công, qua đó góp phần làm tăng cao giá trị thực hiện so với cùng kỳ.Vốn nhà nước do địa phương quản lý quý I/2026 ước đạt 1.218,9 tỷ đồng, tăng 10,7% so với cùng kỳ. Trong đó, vốn từ nguồn NSNN do địa phương quản lý đạt 1.054,4 tỷ đồng, tăng 10,6%. Quý I năm 2026, nguồn vốn từ nguồn ngân sách nhà nước tiếp tục thực hiện các dự án đầu tư trọng của thành phố như: Tuyến đường bộ ven biển đoạn qua Thành phố Huế và cầu qua cửa Thuận An; Đường Nguyễn Hoàng; Đường vành đai 3; Dự án Cải thiện môi trường nước thành phố Huế giai đoạn 2; Các dự án xây dựng khu tái định cư, khu nghĩa trang phục vụ giải phóng mặt bằng đường sắt cao tốc Bắc - Nam đang được tập trung đẩy nhanh tiến độ thi công để hoàn thành. Bên cạnh đó, các dự án trọng điểm dự kiến khởi công mới trong năm 2026 cũng đang được hoàn thiện thủ tục đầu tư để đảm bảo điều kiện khởi công như dự án Cầu qua Cồn Hến và đường dẫn hai đầu cầu (đã bố trí vốn chuẩn bị đầu tư và thành lập Hội đồng thi tuyển phương án thiết kế kiến trúc); dự án Cầu qua phá Tam Giang nối xã Phú Vang đi xã Phú Vinh (đã hoàn thiện thiết kế thi công); các dự án trùng tu di tích Văn Miếu, Quốc Tử Giám (đã phê duyệt thiết kế thi công); các dự án đầu tư hoàn thiện kết cấu hạ tầng khu kinh tế Chân Mây – Lăng Cô và các trường phổ thông nội trú liên cấp TH và THCS các xã biên giới A Lưới 1, 2, 5... Vốn ngoài nhà nước Quý I/2026 ước đạt 5.555,0 tỷ đồng, chiếm 69,7% tổng nguồn vốn và tăng 14,5% so với cùng kỳ. Quý I năm 2026, vốn từ nguồn nhà nước trong quý tập trung vào thực hiện các dự án trọng điểm tại thành phố Huế như: Dự án Đầu tư xây dựng bến tổng hợp - container số 4 và số 5 cảng Vsico Chân Mây; Cải tạo, xây dựng lại các dãy nhà A,B,C khu chung cư Đống Đa; dự án Khu liên hợp sản xuất, lắp ráp Kim Long Motors Huế; Nhà máy chế biến cát thạch anh công nghệ cao Creanza; Nhà máy sản xuất kính hoa tiêu trắng Đạt Phương; Trung tâm Logistics Chân Mây; Khu Đô thị Phía Đông đường Thủy Dương- Thuận An, thuộc khu E đô thị mới An Vân Dương; Tổ hợp nhà ở, thương mại - dịch vụ và vui chơi giải trí An Đông; Tổ hợp khu nhà ở - thương mại, dịch vụ 38 Hồ Đắc Di; Dự án Đào Tấn Diamond City; Tổ hợp showroom và trung tâm bảo hành bảo trì ô tô - xe máy của công ty Cổ phần Tổng công ty PGS; Dự án nhà ở xã hội như dự án Eco Garden;… đầu tư trong dân cũng tăng so với cùng kỳ, đây là nguyên nhân khiến vốn ngoài nhà nước tăng cao, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn. Quý I năm 2026, trên địa bàn thành phố có 10 dự án đăng ký mới với tổng số vốn 5.653 tỷ đồng. Trong đó, công ty TNHH một thành viên hạ tầng khu công nghiệp Kim Long Huế và công ty cổ phần Kim Long Motor Huế có 2 dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp số 02, Khu phi thuế quan Chân Mây –Lăng Cô với tổng mức đầu tư 4.170,8 tỷ đồng.Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài quý I/2026 ước đạt 843,2 tỷ đồng, đạt 19,4% kế hoạch năm và giảm 6,7% so với cùng kỳ. Các dự án FDI chuyển tiêp tiếp tục thực hiện và hoàn thành đưa vào sử dụng như: Nhà máy Sản xuất Mũ bảo hiểm EON Industry Việt Nam giai đoạn 2; Nhà máy sản xuất cụm rotor, stato của công ty thiết bị điện Thượng Hải CI; Nhà máy gia công thạch anh của công ty TNHH America Quartz Technolozy;…Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn thành phố có 1 dự án FDI đăng ký mới với tổng số vốn đăng ký 123 triệu USD (tương đương 3.075 tỷ đồng) đầu tư vào kết cấu hạ tầng khu công nghiệp VSIP Huế do công ty liên doanh khu công nghiệp Việt Nam – Singapor đầu tư, dự kiến khởi công vào quý IV/2026 và đưa vào kinh doanh quý III/2031.Nhìn chung, tình hình thực hiện vốn đầu tư quý I/2026 trên địa bàn thành phố ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực khi nguồn lực được ưu tiên cho các dự án hạ tầng trọng điểm, đồng thời đẩy nhanh hoàn thiện hạ tầng đô thị, khu kinh tế và khu công nghiệp; công tác chỉ đạo, điều hành linh hoạt, kịp thời tháo gỡ vướng mắc về vốn, góp phần đảm bảo tiến độ giải ngân. Tuy nhiên, hoạt động thu hút đầu tư vẫn còn khó khăn, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế hỗ trợ; tăng cường tháo gỡ vướng mắc về thủ tục pháp lý, giải phóng mặt bằng để đẩy nhanh triển khai các dự án mới.5.2. Xây dựngHoạt động xây dựng trong quý I/2026 trên địa bàn thành phố diễn ra trong điều kiện khá thuận lợi. Việc đồng loạt triển khai các dự án mới, cùng với nỗ lực đẩy nhanh tiến độ thi công ở các công trình đang thực hiện, cho thấy sự chủ động của các chủ đầu tư cũng như hiệu quả trong công tác điều hành, phối hợp giữa các bên liên quan. Đây là yếu tố nền tảng góp phần thúc đẩy tăng trưởng giá trị sản xuất toàn ngành.Giá trị sản xuất ngành xây dựng quý I/2026 đạt mức tăng khá cao so với cùng kỳ năm trước, theo giá hiện hành ước đạt 4.723,2 tỷ đồng, tăng 14,8% so với cùng kỳ; theo giá so sánh năm 2010, giá trị sản xuất ngành xây dựng quý I/2026 ước đạt 3.728,6 tỷ đồng, tăng 9,29% so với cùng kỳ. Mức tăng trưởng này phản ánh sự mở rộng hoạt động xây dựng cả về khối lượng công trình lẫn tiến độ thực hiện.Động lực tăng trưởng chính đến từ hai nhóm công trình: nhà ở và công trình kỹ thuật dân dụng. Đối với công trình nhà ở, sự gia tăng xuất phát từ việc nhiều dự án bất động sản, khu dân cư được khởi công trong giai đoạn cuối năm 2025 và đầu năm 2026, tạo ra khối lượng thi công lớn trong quý I. Đối với công trình kỹ thuật dân dụng, mức tăng cao chủ yếu nhờ vào việc tiếp tục triển khai và đẩy nhanh tiến độ các dự án hạ tầng trọng điểm, đặc biệt là các dự án giao thông và khu công nghiệp quy mô lớn: Các dự án lớn như tuyến cao tốc Bắc - Nam phía Đông (đoạn Cam Lộ - La Sơn giai đoạn 2), cầu vượt biển Thuận An, hay Khu công nghiệp và Khu phi thuế quan Sài Gòn - Chân Mây tại Khu kinh tế Chân Mây - Lăng Cô… đóng vai trò dẫn dắt tăng trưởng của ngành xây dựng. Đây đều là những công trình có quy mô vốn lớn, khối lượng thi công cao và tác động lan tỏa mạnh đến các lĩnh vực khác như vật liệu xây dựng, vận tải, lao động… Việc các dự án này được đẩy nhanh tiến độ không chỉ làm tăng giá trị sản xuất trong ngắn hạn mà còn góp phần hoàn thiện kết cấu hạ tầng, tạo dư địa phát triển kinh tế trong dài hạn.6. Tình hình hoạt động của doanh nghiệpTình hình hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Huế trong quý I năm 2026 tiếp tục có nhiều chuyển biến tích cực. Phần lớn doanh nghiệp duy trì được sự ổn định và từng bước nâng cao hiệu quả hoạt động, với 75,0% doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất, kinh doanh khả quan hơn hoặc giữ ổn định so với quý trước. Cùng với đó, môi trường đầu tư, kinh doanh tiếp tục được cải thiện, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp gia nhập thị trường. Tính đến thời điểm báo cáo, toàn thành phố có 317 doanh nghiệp thành lập mới, với tổng vốn đăng ký đạt 716 tỷ đồng, góp phần bổ sung nguồn lực và tạo thêm động lực cho tăng trưởng kinh tế địa phương.Tính đến thời điểm báo cáo, trên địa bàn thành phố Huế có 317 doanh nghiệp thành lập mới, với tổng vốn đăng ký đạt 716 tỷ đồng, tăng 75,0% so với cùng kỳ. Trong đó, công ty TNHH một thành viên chiếm tỷ trọng lớn với 190 doanh nghiệp; tiếp đến là công ty TNHH hai thành viên trở lên với 92 doanh nghiệp; công ty cổ phần 16 doanh nghiệp và doanh nghiệp tư nhân 6 doanh nghiệp. Bên cạnh đó, có 183 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động; 73 doanh nghiệp đã giải thể và 464 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động.Đánh giá về tình hình sản xuất, kinh doanh trong quý I/2026 cho thấy bức tranh chung tương đối tích cực. Có 75,0% doanh nghiệp nhận định hoạt động sản xuất, kinh doanh khả quan hơn hoặc duy trì ổn định so với quý IV/2025 (trong đó 29,7% đánh giá thuận lợi và 45,3% cho rằng không thay đổi); trong khi 25,0% doanh nghiệp cho biết còn gặp khó khăn.Về triển vọng quý II/2026, đa số doanh nghiệp giữ tâm lý lạc quan khi có 73,4% dự báo hoạt động sản xuất, kinh doanh sẽ tốt hơn hoặc tiếp tục ổn định so với quý I/2026 (gồm 42,2% dự báo cải thiện và 31,2% dự báo giữ ổn định), trong khi 26,6% doanh nghiệp dự báo còn khó khăn.Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong quý I/2026, có 68,8% doanh nghiệp cho rằng tính cạnh tranh của hàng trong nước cao đã ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tiếp theo là các yếu tố: nhu cầu thị trường trong nước còn thấp (60,9%) và sự suy giảm của thị trường quốc tế (50,0%). Ngoài ra, một số khó khăn khác cũng được ghi nhận như thiếu nguyên, nhiên, vật liệu (31,3%), khó khăn trong tuyển dụng lao động và lãi suất vay vốn cao (cùng ở mức 29,7%), cạnh tranh từ hàng nhập khẩu (26,6%), khó khăn về tài chính (21,9%), hạn chế về công nghệ, thiết bị (20,3%) và tác động từ cơ chế, chính sách (10,9%).7. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sảnSản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trong quý I/2026 duy trì ổn định nhờ điều kiện thời tiết thuận lợi. Sản xuất trồng trọt cơ bản đảm bảo tiến độ, lúa Đông Xuân sinh trưởng tốt, mặc dù một số sâu bệnh có xuất hiện nhưng đã được khống chế hiệu quả. Chăn nuôi tiếp tục khởi sắc, dịch bệnh được kiểm soát, tổng đàn gia súc, gia cầm tăng, trong đó đàn lợn tăng 2,0% so với cùng kỳ, góp phần đảm bảo nguồn cung thực phẩm. Lâm nghiệp duy trì tăng trưởng với sản lượng gỗ khai thác tăng 8,8%, cho thấy nhu cầu thị trường và hiệu quả sản xuất được cải thiện. Thủy sản phát triển ổn định, tổng sản lượng toàn ngành tăng 3,6%, phản ánh sự mở rộng cả nuôi trồng và khai thác.7.1. Sản xuất nông nghiệp* Trồng trọt Trong ba tháng đầu năm 2026, điều kiện thời tiết nhìn chung khá thuận cho sản xuất nông nghiệp. Nền nhiệt duy trì ở mức ấm áp, nắng nhẹ, không xuất hiện các đợt mưa lớn gây ngập úng; lượng mưa chủ yếu là mưa vừa và mưa nhỏ, phân bố tương đối đều giữa các tháng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc gieo trồng và sinh trưởng của cây trồng.  Vụ Đông Xuân năm 2026, toàn thành phố gieo cấy 27.587 ha lúa, giảm 1,1% so với vụ Đông Xuân năm 2025. Hiện nay, lúa đang sinh trưởng, phát triển tốt; người dân tích cực chăm sóc, theo dõi sâu bệnh để xử lý kịp thời, hạn chế lây lan trên diện rộng. Tính đến ngày 20/3/2026, diện tích lúa nhiễm bệnh đạo ôn lá là 789 ha, chủ yếu trên các giống J02 và lúa nếp tại nhiều địa phương; trong đó có 5 ha nhiễm nặng, gây cháy chòm cục bộ. Bệnh khô vằn xuất hiện trên 180 havới tỷ lệ nhiễm phổ biến từ 10–20%. Chuột gây hại trên 372 ha. Các đối tượng sinh vật gây hại khác như sâu cuốn lá nhỏ, rầy các loại xuất hiện ở mức độ nhẹ, không đáng kể.Trước diễn biến sâu bệnh có xu hướng gia tăng, ngành nông nghiệp thành phố đã kịp thời hướng dẫn và triển khai các biện pháp phòng, trừ hiệu quả. Nhờ đó, dịch bệnh cơ bản được kiểm soát, không ảnh hưởng đáng kể đến quá trình sinh trưởng của cây lúa. Đối với các cây trồng khác như rau, ngô, khoai, sắn, sen, đậu và hoa, mức độ sâu bệnh nhìn chung thấp, mật độ và tỷ lệ gây hại không đáng kể. Diện tích gieo trồng một số cây hằng năm khác có xu hướng tăng: ngô ước đạt 975 ha, tăng 8,8%; khoai lang 380 ha, tăng 0,3%; rau các loại 2.590 ha, tăng 4,7%; đậu các loại 525 ha, tăng 4,8%. Ngược lại, diện tích lạc ước đạt 1.775 ha, giảm 12,6%. Sự biến động này chủ yếu do một số diện tích đất bị khô hạn, không còn phù hợp với cây lạc; bên cạnh đó, cây lạc đòi hỏi công chăm sóc lớn nhưng năng suất và hiệu quả kinh tế chưa cao, nên người dân có xu hướng chuyển sang trồng ngô nhằm phù hợp điều kiện canh tác và nâng cao thu nhập.* Chăn nuôi Trong quý I/2026, hoạt động chăn nuôi gia súc, gia cầm trên địa bàn thành phố Huế tiếp tục khởi sắc rõ nét so với cùng kỳ năm 2025. Dịch bệnh được kiểm soát tốt, không phát sinh ổ dịch; giá lợn hơi, gà, vịt duy trì ở mức cao hơn cùng kỳ, tạo động lực để người chăn nuôi mạnh dạn đầu tư, mở rộng sản xuất. Công tác tiêm phòng thú y và vệ sinh môi trường chăn nuôi được triển khai đồng bộ, hiệu quả, góp phần nâng cao năng suất và đảm bảo an toàn dịch bệnh. Đáng chú ý, sự tham gia ngày càng tích cực của các doanh nghiệp trong lĩnh vực chăn nuôi trâu, bò và sản xuất giống gia cầm đã góp phần mở rộng quy mô, cải thiện chất lượng đàn vật nuôi theo hướng chuyên nghiệp. Bên cạnh đó, công tác quản lý chăn nuôi và kiểm soát giết mổ tiếp tục được tăng cường; các trạm thú y duy trì kiểm soát chặt chẽ, đồng thời thường xuyên tổ chức tiêu độc, khử trùng tại chuồng trại và khu vực giết mổ, góp phần bảo đảm vệ sinh thú y và an toàn thực phẩm. Ước đến ngày 31/3/2026, tổng đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn thành phố tiếp tục tăng so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể, đàn trâu đạt 15.234 con, tăng 0,7%; đàn bò đạt 30.678 con, tăng 6,4%. Mức tăng này chủ yếu nhờ Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Chăn nuôi Phương Diệu đầu tư nuôi 225 con trâu và 1.785 con bò tại xã Đan Điền nhằm phục vụ sản xuất giống và chăn nuôi thương phẩm. Đàn lợn ước đạt 159.708 con, tăng 2,0%. Đàn gia cầm đạt 5.248 nghìn con, tăng 4,2%, trong đó đàn gà đạt 3.711 nghìn con, tăng 4,6% so với cùng kỳ. Sản lượng thịt xuất chuồng và các sản phẩm chăn nuôi khác trong quý I/2026 tăng so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể, sản lượng thịt trâu đạt 238 tấn, tăng 0,8%; thịt bò 338 tấn, tăng 4,0%; thịt lợn 5.154 tấn, tăng 4,7%; thịt gia cầm 3.850 tấn, tăng 4,7%. Sản lượng trứng gia cầm ước đạt 8,7 triệu quả, tăng 4,3% so với cùng kỳ. Phản ánh được xu hướng phục hồi và phát triển ổn định của ngành chăn nuôi, góp phần bảo đảm nguồn cung thực phẩm và nâng cao thu nhập cho người sản xuất. Công tác tiêm phòng được triển khai tích cực và đạt nhiều kết quả đáng ghi nhận. Tính đến ngày 20/3/2026, toàn thành phố đã tiêm được 18.134 liều vắc xin tụ huyết trùng trâu bò (đạt 55% kế hoạch), 17.497 liều vắc xin tam liên lợn (70%), 3.700 liều vắc xin E.coli (62%), 337.100 liều vắc xin cúm gia cầm (69%), 274.300 liều vắc xin dịch tả vịt (58%), 220.725 liều vắc xin Newcastle (68%), 160.100 liều vắc xin Gumboro (69%), 73.700 liều vắc xin đậu gà (72%), 23.510 liều vắc xin tụ huyết trùng gia cầm (74%) và 4.000 liều vắc xin lở mồm long móng (đạt 7%).7.2. Lâm nghiệpTrong tháng 3/2026, diện tích trồng rừng mới tập trung ước đạt 750 ha, tăng 1,4% so với cùng kỳ. Tính chung quý I/2026 diện tích trồng rừng mới tập trung đạt 2.150 ha, tăng 1,0%. Mức tăng này chủ yếu nhờ thời tiết đầu năm thuận lợi, độ ẩm đất và lượng mưa phù hợp, tạo điều kiện tốt cho việc xuống giống và nâng cao tỷ lệ cây sống. Bên cạnh đó, nhu cầu nguyên liệu gỗ phục vụ chế biến ngày càng tăng đã thúc đẩy người dân và doanh nghiệp chủ động đầu tư, từng bước hình thành vùng nguyên liệu ổn định gắn với chế biến và tiêu thụ.Về khai thác, sản lượng gỗ từ rừng trồng trong tháng 3/2026 ước đạt 76.560 m³, tăng 7,9%; Tính chung quý I/2026 sản lượng gỗ từ rừng trồng đạt 181.970 m³, tăng 8,8% so với cùng kỳ. Đây là mức tăng khá, nguyên nhân chủ yếu là do các nhà máy chế biến dăm gỗ tăng cường thu mua nguyên liệu để đáp ứng nhu cầu xuất khẩu, trong khi giá gỗ nguyên liệu duy trì ổn định. Điều này tạo động lực để các chủ rừng đẩy mạnh khai thác, đặc biệt đối với diện tích rừng trồng đã đến tuổi thu hoạch.Công tác bảo vệ rừng tiếp tục được chú trọng. Trong tháng 3/2026 không xảy ra cháy rừng, cho thấy các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng phát huy hiệu quả. Tuy nhiên, tình trạng phá rừng trái pháp luật vẫn còn xảy ra, với 2 vụ trong tháng, diện tích thiệt hại 0,21 ha; Tính chung quý I/2026, toàn thành phố ghi nhận 5 vụ, tổng diện tích thiệt hại 0,27 ha. Dù diện tích thiệt hại không lớn, tình trạng này vẫn cần được quan tâm do chủ yếu xuất phát từ nhu cầu chuyển đổi đất rừng sang đất sản xuất.Trong thời gian tới, để phát triển lâm nghiệp theo hướng bền vững, cần tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức của người dân về bảo vệ rừng; đồng thời tăng cường tuần tra, kiểm soát và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm. Bên cạnh đó, cần có cơ chế hỗ trợ sinh kế, phát triển kinh tế dưới tán rừng và khuyến khích trồng rừng, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và phát triển rừng lâu dài.7.3. Thủy sảnTình hình nuôi trồng thủy sản trong tháng 3/2026 tiếp tục duy trì ổn định và có xu hướng mở rộng nhẹ, với tổng diện tích ước đạt 198 ha, tăng 1,5% so với cùng kỳ. Trong đó, diện tích nuôi nước ngọt đạt 64 ha, giảm 3,0%; ngược lại, diện tích nuôi nước lợ đạt 134 ha, tăng 3,9%. Đáng chú ý, các đối tượng nuôi trong môi trường nước lợ đều ghi nhận mức tăng trưởng tích cực: nuôi cá đạt 20 ha, tăng 5,3%, nuôi tôm 56 ha, tăng 5,7% và các loại thủy sản khác 58 ha, tăng 1,8%.Tính chung quý I/2026, diện tích nuôi trồng thủy sản ước đạt 518 ha, tăng 1,0% so với cùng kỳ. Chia ra diện tích nuôi nước ngọt 185 ha, giảm 3,6%; diện tích nuôi nước lợ 333 ha, tăng 3,7%. Trong nuôi nước lợ, diện tích nuôi cá 82 ha, tăng 5,1%; nuôi tôm 188 ha, tăng 3,9%; nuôi các loại thủy sản khác 58 ha, tăng 1,8%; ươm, nuôi giống thủy sản 5 ha, bằng với cùng kỳ.Sản lượng thủy sản nuôi trồng thu hoạch trong tháng 3/2026 ước đạt 608 tấn, tăng 3,2% so với cùng kỳ. Trong đó, sản lượng cá đạt 300 tấn (tăng 2,4%), tôm đạt 239 tấn (tăng 4,4%) và các loại thủy sản khác đạt 69 tấn (tăng 3,0%). Tính chung quý I/2026, sản lượng nuôi trồng đạt 1.898 tấn, tăng 4,3%; trong đó cá đạt 1.040 tấn (tăng 3,8%), tôm đạt 789 tấn (tăng 5,2%) và các loại thủy sản khác đạt 69 tấn (tăng 3,0%).Đối với hoạt động khai thác thủy sản, trong tháng 3/2026, điều kiện thời tiết thuận lợi đã hỗ trợ tích cực cho hoạt động đánh bắt. Ngư dân chủ động chuẩn bị cho vụ cá Nam, đặc biệt các tàu khai thác xa bờ đã tăng cường đầu tư, bổ sung ngư lưới cụ nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất. Sản lượng khai thác trong tháng 3 ước đạt 4.160 tấn, tăng 3,4% so với cùng kỳ; trong đó khai thác biển đạt 3.880 tấn (tăng 3,6%), khai thác nội địa đạt 280 tấn (giảm 0,4%). Tính chung quý I/2026, sản lượng khai thác thủy sản ước đạt 8.317 tấn, tăng 3,4% so với cùng kỳ; trong đó khai thác biển đạt 7.580 tấn (tăng 3,4%), còn khai thác nội địa đạt 737 tấn (giảm 3,5%).Tổng hợp chung, trong quý I/2026, sản lượng thủy sản (bao gồm nuôi trồng và khai thác) ước đạt 10.215 tấn, tăng 3,6% so với cùng kỳ, cho thấy toàn ngành tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ổn định.8. Sản xuất Công nghiệpTình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn thành phố Huế trong ba tháng đầu năm 2026 tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Nhiều ngành công nghiệp chủ lực ghi nhận sản lượng cao ngay từ đầu năm, tiêu biểu như sản xuất ô tô, đồ uống có cồn và sợi. Đồng thời, năng lực sản xuất trên địa bàn được tăng cường với việc đưa vào hoạt động nhà máy sản xuất mũ bảo hiểm Eon Industry Việt Nam và mở rộng nhà máy sản xuất đồ chơi Billionmax Việt Nam. Nhờ các yếu tố thuận lợi này, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 3/2026 ước tăng 13,8% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 3 tháng đầu năm 2026, chỉ số IIP tăng 13,1% so với cùng kỳ năm 2025.Chỉ số IIP tháng 3 năm 2026 tăng 13,8% so với cùng kỳ, trong đó: ngành công nghiệp khai khoáng tăng 10,5%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 15,6%; sản xuất và phân phối điện tăng 1,3%; cấp nước và thu gom rác thải giảm 0,4%. Tính chung quý I/2026 chỉ số IIP tăng 13,1% so với năm trước, trong đó: ngành công nghiệp khai khoáng tăng 26,2%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 16,7%; cấp nước và thu gom rác thải tăng 2,9%. Riêng sản xuất và phân phối điện giảm 11,3%.Các ngành công nghiệp cấp 4 trong quý I/2026 có chỉ số sản xuất tăng so với cùng kỳ: Khai thác quặng kim loại (+22,0%); sản xuất sản phẩm đồ uống có cồn (+33,4%); sản xuất sợi (+7,3%); sản xuất sản phẩm khác từ cao su (+24,5%); sản xuất sản phẩm từ plastic (+24,5%); sản xuất đồ chơi (+25,1%); sản xuất khác chưa được phân vào đâu (+5,9 lần); sản xuất ô tô (+77,4%)...Bên cạnh những dấu hiệu tích cực, hiện nay một số ngành sản xuất công nghiệp vẫn đang gặp không ít khó khăn, dự ước các ngành công nghiệp cấp 4 trong quý I/2026 có chỉ số sản xuất giảm so với cùng kỳ: May trang phục (-0,2%); sản xuất vật liệu xây dựng từ đất sét (-8,2%); sản xuất giường, tủ, bàn ghế gỗ (-11,4%); sản xuất, truyền tải và phân phối điện (-11,3%)...Các sản phẩm công nghiệp ước quý I2026 tăng so với cùng kỳ năm trước: quặng inmenit và tinh quặng inmenit 5,7 nghìn tấn (22,0%); Đồ uống có cồn 78,8 triệu lít (+31,2%); găng tay, găng hở ngón và găng bao tay bằng cao su lưu hoá 3,3 nghìn tấn (+3,1%); hàng may mặc và đồ phụ trợ may mặc bằng plastic 3,2 nghìn tấn (+49,7 lần); ô tô1.064 chiếc (+33,0%)...Các sản phẩm công nghiệp quý I/2026 giảm so với cùng kỳ: Quần áo lót cho người lớn không dệt kim hoặc đan móc 93,9 triệu cái (-0,2%); sản phẩm in khác 52,6 triệu trang (-9,6%); cao su tổng hợp và các chất thay thế cao su dẫn xuất từ dầu, ở dạng nguyên sinh hoặc tấm lá hoặc dải 1,6 nghìn tấn (-6,8%); tấm lát đường và vật liệu lát, gạch ốp tường 2,2 triệu m2 (-8,2%); điện sản xuất 386,1 triệu Kwh (-15,1%)…Chỉ số sử dụng lao động tháng 3/2026 ước tăng 0,9% so với tháng trước và tăng 8,1% so với cùng kỳ. Tính chung chỉ số sử dụng lao động quý I/2026 tăng 8,0% so với cùng kỳ, trong đó tập trung vào một số ngành: Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (+25,0%); sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic (+21,9%); sản xuất xe có động cơ (+27,9%); công nghiệp chế biến, chế tạo khác (+1,2 lần). Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số sử dụng lao động giảm đó là: Sản xuất chế biến thực phẩm (-11,6%); sản xuất trang phục (-10,8%); sản xuất da và các sản phẩm có liên quan (-5,0%); sản xuất kim loại (-33,3%); sản xuất giường, tủ, bàn, ghế (-1,7%)…9. Thương mại, dịch vụTháng 3/2026, các hoạt động thương mại, dịch vụ và du lịch trên địa bàn thành phố diễn ra sôi động, góp phần thúc đẩy tiêu dùng và lưu thông hàng hóa. Nổi bật là chuỗi hoạt động văn hóa trong khuôn khổ Festival Huế 2026 được tổ chức xuyên suốt tháng 3 và ba tháng đầu năm, với Lễ hội mùa Xuân “Xuân Cố đô” kéo dài, bao gồm các lễ hội cung đình, lễ hội truyền thống và lễ hội dân gian đặc sắc. Điểm nhấn là Chương trình Công bố Festival Huế 2026, tái hiện Lễ Ban Sóc cùng nhiều hoạt động Tết cung đình và dân gian phong phú, tái hiện không gian văn hóa Tết cổ truyền của Kinh đô Huế xưa gắn với kỷ niệm Ngày Giải phóng Huế.... Các hoạt động văn hóa mang đậm bản sắc đã thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước đến tham quan, trải nghiệm và mua sắm, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương.Kết quả hoạt động thương mại, dịch vụ và vận tải trên địa bàn thành phố quý I năm 2026 ước đạt như sau:9.1. Bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùngThương mại, dịch vụ trong ba tháng đầu năm 2026 tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực khi nhu cầu tiêu dùng gia tăng mạnh trước, trong và sau Tết Nguyên đán, tập trung ở các mặt hàng thiết yếu và tiêu dùng nhanh. Du lịch khởi sắc, lượng khách tăng đã góp phần thúc đẩy hoạt động mua sắm và sử dụng dịch vụ. Cùng với đó, các doanh nghiệp đẩy mạnh khuyến mại, kích cầu tiêu dùng; thu nhập và tâm lý tiêu dùng của người dân dần ổn định, đời sống được cải thiện. Nhờ vậy, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng quý I/2026 ước tăng 18,5% so với cùng kỳ.Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 3/2026 ước đạt 6.162 tỷ đồng, giảm 0,7% so với tháng trước và tăng 19,2% so với cùng kỳ. Chia theo ngành kinh tế: Bán lẻ hàng hóa ước đạt 4.459 tỷ đồng, chiếm 72,3% trong tổng số, tăng 1,0% so với tháng trước và tăng 17,7% so với cùng kỳ; nguyên nhân tăng so với tháng 2 là do trong tháng 3, nhu cầu một số mặt hàng tăng dịp lễ Quốc tế phụ nữ và phong tục cúng đất tháng 2 âm lịch hàng năm của người Huế. Doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống đạt 1.198 tỷ đồng, chiếm 19,5%, tương ứng giảm 6,3% và tăng 20,0%; dịch vụ du lịch lữ hành đạt 33 tỷ đồng, chiếm 0,5%, giảm 17,5% và tăng 24,2%; doanh thu dịch vụ khác đạt 472 tỷ đồng, chiếm 7,7%, giảm 0,4% và tăng 32,7%.Dự ước tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng quý I/2026 đạt 18.408 tỷ đồng, tăng 18,5% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 13.160 tỷ đồng, tăng 16,2%; dịch vụ lưu trú và ăn uống đạt 3.732 tỷ đồng, tăng 23,6%; du lịch lữ hành đạt 109 tỷ đồng, tăng 18,0%; dịch vụ khác đạt 1.407 tỷ đồng, tăng 28,1%. 9.2. Vận tải hành khách và hàng hóaHoạt động vận tải hành khách và hàng hóa trong ba tháng đầu năm 2026 trên địa bàn diễn ra khá sôi động, nhất là trong hai tháng đầu năm khi nhu cầu vận chuyển phục vụ Tết Nguyên đán tăng cao, cả về hàng hóa lẫn hành khách. Sang tháng 3, sau Tết, hoạt động vận tải giảm so với tháng trước. Tuy nhiên, với giá xăng dầu trong nước tăng mạnh theo biến động của giá dầu thế giới (giá xăng tăng 40,96%, giá dầu tăng gần 58% – mức cao nhất kể từ tháng 7/2022) đã làm chi phí nhiên liệu tăng cao, kéo theo giá cước vận tải tăng, qua đó góp phần làm doanh thu vận tải vẫn tăng so với cùng kỳ.Vận tải hành khách tháng 3/2026 ước đạt 4.179,7 nghìn lượt khách, giảm 1,8% so với tháng trước và tăng 21,7% so với cùng kỳ; luân chuyển là 204,3 triệu lượt khách.km, giảm 1,6% và tăng 21,6%. Dự ước vận tải hành khách quý I/2026 đạt 12.381,8 nghìn hành khách, tăng 20,9% và 605,3 triệu hành khách.km, tăng 20,8% so với cùng kỳ.Dự ước hàng hóa vận chuyển tháng 3/2026 ước đạt 2.341,2 nghìn tấn, giảm 0,8% so với tháng trước và tăng 16,2% so với cùng kỳ; hàng hóa luân chuyển đạt 194,8 triệu tấn.km, giảm 0,5% và tăng 15,7%. Đưa hàng hóa vận chuyển quý I/2026 ước đạt 6.983,6 nghìn tấn, tăng 15,9% và luân chuyển đạt 581,8 triệu tấn.km, tăng 15,6% so với cùng kỳ.Dự ước doanh thu vận tải và dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 3/2026 đạt 593,1 tỷ đồng, giảm 0,6% so với tháng trước và tăng 21,3% so với cùng kỳ. Tính chung quý I năm 2026, doanh thu vận tải, bốc xếp ước đạt 1.757,6 tỷ đồng, tăng 20,5% so cùng kỳ. Chia theo loại hình dịch vụ: doanh thu vận tải hành khách ước đạt 382,2 tỷ đồng, tăng 21,2%; vận tải hàng hóa ước đạt 1.203,4 tỷ đồng, tăng 17,8%; dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 172 tỷ đồng, tăng 41,3%. Trong đó doanh thu vận tải bao gồm: đường bộ đạt 1.584 tỷ đồng, tăng 18,6%; đường sông đạt 1,7 tỷ đồng, tăng 24,1%.9.3. Lượt khách các cơ sở lưu trú phục vụ và du lịch lữ hànhTrong tháng 3 và ba tháng đầu năm 2026, hoạt động du lịch trên địa bàn thành phố tiếp tục diễn ra sôi động, được thúc đẩy bởi hiệu ứng từ mùa cao điểm Tết Nguyên đán cùng chuỗi sự kiện, lễ hội và chương trình kích cầu được tổ chức đồng bộ. Các lĩnh vực lưu trú, ăn uống, lữ hành và dịch vụ du lịch chủ động nâng cao chất lượng, đa dạng hóa sản phẩm, góp phần thu hút và giữ chân du khách. Mặc dù bước sang tháng 3, nhu cầu du lịch có xu hướng giảm nhẹ so với tháng trước do yếu tố mùa vụ, song nhìn chung ngành du lịch vẫn duy trì đà tăng trưởng khá so với cùng kỳ năm trước.Lượt khách do cơ sở lưu trú phục vụ tháng 3/2026 ước đạt 250,3 nghìn lượt, giảm 1,1% so với tháng trước và tăng 15,7% so với cùng kỳ. Trong đó, lượt khách ngủ qua đêm tháng 3/2026 ước đạt 213,7 nghìn lượt, tương ứng giảm 0,6% và tăng 18,1%; trong lượt khách ngủ qua đêm: lượt khách Quốc tế 95,2 nghìn lượt, tăng 5,4 và tăng 5,2%; lượt khách trong nước 118,5 nghìn lượt, giảm 5,0% và tăng 31,1%. Lượt khách trong ngày 36,6 nghìn lượt khách, giảm 4,2% và tăng 3,3%.Tính chung quý I/2026 tổng lượt khách phục vụ đạt 716,7 nghìn lượt tăng 18,3% so cùng kỳ. Trong đó lượt khách ngủ qua đêm 3 tháng đầu năm đạt 605,2 nghìn lượt, tăng 20,6% so cùng kỳ. Trong lượt khách ngủ qua đêm, lượt khách Quốc tế 265,6 nghìn lượt, tăng 15,2%; khách trong nước 339,6 nghìn lượt, tăng 25,2%. Lượt khách trong ngày 111,5 nghìn lượt, tăng 7,2%.Ngày khách tháng 3/2026 ước đạt 364,5 nghìn ngày, tăng 0,7% so với tháng trước và tăng 21,4% so với cùng kỳ. Trong đó: ngày khách quốc tế 173,7 nghìn ngày, tương ứng tăng 5,2% và tăng 11,2%; ngày khách trong nước 190,8 nghìn ngày, giảm 3,1% và tăng 32,5%. Tính chung quý I/2026 ngày khách đạt 1.028,7 nghìn ngày, tăng 22,3% so với cùng kỳ. Trong đó: ngày khách quốc tế 475 nghìn ngày, tăng 18,5%; ngày khách trong nước 553,7 nghìn ngày, tăng 25,9%.Lượt khách phục vụ của các cơ sở lữ hành thực hiện tháng 3/2026 ước đạt 20,4 nghìn lượt, giảm 8,5% so với tháng trước và tăng 13,5% so với cùng kỳ; Tính chung quý I/2026 lượt khách đạt 61,9 nghìn lượt, tăng 16,1% so với cùng kỳ. Ngày khách theo tour tháng 3/2026 ước đạt 42,8 nghìn ngày, giảm 3,4% so với tháng trước và tăng 14,1% so với cùng kỳ; đưa ngày khách theo tour 3 tháng ước đạt 128,1 nghìn ngày khách, tăng 16,3% so với cùng kỳ.10. Các vấn đề xã hội10.1. Giải quyết việc làmTừ đầu năm đến nay, toàn thành phố đã giải quyết việc làm cho 5.349 người, trong đó đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài 589 người. cho thấy sự phục hồi tích cực của thị trường lao động, đặc biệt ở các lĩnh vực du lịch - dịch vụ, công nghiệp chế biến, chế tạo và thương mại. Chất lượng việc làm từng bước được cải thiện, thu nhập của người lao động có xu hướng tăng so với cùng kỳ. Tổng hợp kết quả khảo sát mức sống dân cư kỳ 1 năm 2026, thu nhập bình quân đầu người của toàn thành phố tăng 10,1% so với cùng kỳ.10.2. Đời sống dân cưTrong ba tháng đầu năm 2026, kinh tế - xã hội ghi nhận những tín hiệu khởi sắc đáng khích lệ khi hoạt động sản xuất kinh doanh của các ngành trọng điểm duy trì đà tăng trưởng ổn định. Sự phục hồi của chuỗi cung ứng và nhu cầu thị trường đã góp phần cải thiện đáng kể các chỉ số về thu nhập, giải quyết việc làm và củng cố hệ thống an sinh xã hội, giúp nâng cao mức sống của đại bộ phận dân cư so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, nền kinh tế vẫn đang đối mặt với những thách thức nội tại và khách quan. Đời sống nhân dân hiện chịu áp lực trực tiếp từ những biến động bất thường của giá cả hàng hóa thế giới, dẫn đến chi phí sinh hoạt thiết yếu leo thang, phần nào bào mòn thành quả thu nhập vừa đạt được. 10.3. Chính sách - xã hộiChính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng được thực hiện kịp thời và đầy đủ; các hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa”, “Uống nước nhớ nguồn” được quan tâm. Nhân dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026, các ngành chức năng phối hợp với chính quyền các cấp đã thăm hỏi, chúc Tết và tặng quà cho các đối tượng chính sách đầy đủ, kịp thời với 141.569 suất quà, tổng kinh phí gần 45 tỷ đồng. Công tác giảm nghèo: UBND thành phố đã chỉ đạo các ngành, địa phương tập trung thực hiện các giải pháp đồng bộ, có hiệu quả chương trình, dự án giảm nghèo; lồng ghép chính sách và nguồn lực có hiệu quả để phát triển kinh tế, thoát nghèo. 10.4. Giáo dục Ngành Giáo dục và Đào tạo thành phố Huế đã đạt được 56 giải thưởng tại Cuộc thi tìm hiểu kiến thức pháp luật về trật tự, an toàn giao thông cấp Quốc gia năm học 2025-2026, trong đó có 04 giải Nhất, 01 giải Nhì, 16 giải Ba và 35 giải Khuyến khích. Kết quả này thể hiện sự quan tâm và nỗ lực của các cơ sở giáo dục trong việc đưa nội dung giáo dục pháp luật về trật tự, an toàn giao thông vào hoạt động dạy học và giáo dục học sinh.Trong hai ngày 21-22/3, Sở GD&ĐT tổ chức kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp THCS năm học 2025-2026 tại Trường THCS Nguyễn Tri Phương. Kỳ thi thu hút 1.385 học sinh lớp 8 và 9 đến từ các trường THCS trên địa bàn thành phố. Đây là những học sinh có kết quả học tập, rèn luyện từ khá trở lên ở học kỳ I và được các trường tuyển chọn, bồi dưỡng.Chiều 22/3, Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức bế mạc và trao giải Cuộc thi khoa học kỹ thuật cấp quốc gia dành cho học sinh THCS, THPT năm học 2025-2026. Học sinh TP Huế đạt được 2 giải thưởng, gồm 1 giải Ba và 1 giải Tư ở lĩnh vực khoa học xã hội và hành vi, qua đó khẳng định năng lực nghiên cứu và sáng tạo của học sinh.10.5. Hoạt động văn hóa, thể thao Bảo tàng Lịch sử tổ chức trưng bày chuyên đề giới thiệu Di sản văn hoá phi vật thể của thành phố Huế với chủ đề “Di sản Văn hóa phi vật thể Huế – Khởi nguồn, sáng tạo và phát triển” tại tỉnh Bắc Ninh, khai mạc vào ngày 27/3/2026; tổ chức triển lãm chuyên đề “Huế – Dấu ấn lịch sử và hành trình vươn lên trong kỷ nguyên mới” và Hội thi tìm hiểu lịch sử “Tự hào trang sử thành Huế” cho các trường THCS thuộc phường Dương Nỗ.Trong tháng, thành phố Huế đã tổ chức nhiều hoạt động thể dục thể thao sôi nổi trong khuôn khổ Đại hội TDTT lần thứ X năm 2026. Nổi bật là giải bắn nỏ thu hút 50 VĐV đến từ 5 đơn vị; giải bi sắt quy tụ 100 VĐV của 13 đơn vị trên địa bàn, đáng chú ý, tại giải bi sắt có sự tham gia của nhiều VĐV từ 70 tuổi trở lên, thể hiện tinh thần thể thao rộng khắp trong cộng đồng. Đến nay, Đại hội đã tổ chức thi đấu 13 môn gồm: Đua ghe, Karate, Taekwondo, đá cầu, bóng chuyền, cầu lông, bóng bàn, Vovinam, cờ vua, cờ tướng, Billiards, bi sắt và bắn nỏ. Bên cạnh đó, sáng 7/3 tại Trung tâm Thanh thiếu nhi thành phố Huế diễn ra giải võ cổ truyền thanh thiếu nhi thành phố Huế mở rộng lần thứ II năm 2026. Hoạt động nhằm chào mừng kỷ niệm 95 năm ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, 51 năm ngày giải phóng Huế, đồng thời hưởng ứng Tháng Thanh niên và Tuần lễ văn hóa – thể thao thanh thiếu nhi lần thứ XXII.Lễ phát động “Cuộc vận động toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”, ngày chạy Olympic “Vì sức khỏe toàn dân – Vì An ninh Tổ quốc” và khai mạc giải việt dã truyền thống lần thứ 34 năm 2026. Sự kiện quy tụ gần 3.000 VĐV đến từ 24 đơn vị tham gia. Tiếp đó, tổ chức giải chạy “Chinh phục đỉnh Bạch Mã năm 2026 – Chung tay bảo tồn đa dạng sinh học”. Hoạt động mang thông điệp ý nghĩa về việc bảo vệ rừng, giữ gìn cảnh quan thiên nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học, đồng thời góp phần gắn kết cộng đồng, thúc đẩy lối sống năng động, lành mạnh.Giải vật bãi biển vô địch Quốc gia 2026 diễn ra từ ngày 8 đến 15/3 tại Bắc Ninh, thu hút gần 600 VĐV đến từ 21 tỉnh, thành, ngành thi đấu. Tại giải lần này, tuyển Huế xuất sắc giành 5 HCV, 3 HCB và 9 HCĐ.10.6. Y tế Trong ba tháng đầu năm, ngành y tế đã tích cực triển khai nhiều biện pháp nhằm kiểm soát cả bệnh không lây nhiễm và bệnh truyền nhiễm. Thành phố Huế chú trọng đẩy mạnh tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng để nâng cao nhận thức của người dân về phòng, chống dịch bệnh. Đồng thời, công tác đảm bảo an toàn thực phẩm cũng được tăng cường thông qua việc tổ chức các đoàn thanh tra, kiểm tra thường xuyên.Tháng 3/2026, trên địa bàn có 17 ca sốt xuất huyết, tăng 2 ca so với cùng kỳ; có 33 ca mắc tay chân miệng, tăng 11 ca so với cùng kỳ. Tính chung quý I/2026, trên địa bàn có 44 ca sốt xuất huyết, giảm 32 ca so với cùng kỳ; có 47 ca mắc tay chân miệng, tăng 6 ca so với cùng kỳ; 1 ca liên cầu lợn, tăng 1 ca so với cùng kỳ.Tháng 2/2026, trên địa bàn đã phát hiện 4 ca nhiễm mới HIV, giảm 8 ca so cùng kỳ; có 1 ca chuyển qua AIDS, giảm 5 ca so với cùng kỳ; không có ca tử vong, bằng cùng kỳ. Hai tháng đầu năm, trên địa bàn có 10 ca nhiễm mới HIV, giảm 10 ca so cùng kỳ; 1 ca chuyển qua AIDS, giảm 5 ca so với cùng kỳ; không có ca tử vong, giảm 1 ca so với cùng kỳ. Hiện tại, trên địa bàn có 601 bệnh nhân đang được quản lý và điều trị tại các cơ sở y tế, trong đó có 596 bệnh nhân điều trị ARV .Tháng 3/2026, trên địa bàn không xảy ra ngộ độc thực phẩm, bằng cùng kỳ. Trong quý I/2026, trên địa bàn không xảy ra ngộ độc thực phẩm, bằng cùng kỳ.10.7. Tình hình trật tự, an toàn xã hội  Theo báo cáo của Ban ATGT thành phố, từ 15/02/2026 đến 14/3/2026, trên địa bàn đã xảy ra 18 vụ tai nạn giao thông, tăng 1 vụ so với cùng kỳ; làm 14 người chết, tăng 6 người so với cùng kỳ; làm bị thương 8 người, giảm 3 người so với cùng kỳ. Tính chung quý I/2026, trên địa bàn xảy ra 39 vụ tai nạn giao thông, giảm 23 vụ so với cùng kỳ; làm chết 30 người, tăng 2 người và làm bị thương 22 người, giảm 24 người so với cùng kỳ.10.8. Tình hình cháy nổ và bảo vệ môi trườngTrong tháng 3/2026 trên địa bàn xảy ra 2 vụ cháy; tăng 2 vụ so với cùng kỳ, tăng 1 vụ so với tháng trước; không gây thiệt hại về người và tài sản. Tính chung quý I/2026, trên địa bàn xảy ra 4 vụ cháy, tăng 2 vụ so với cùng kỳ, không có thiệt hại về người, tổng giá trị thiệt hại 5,4 triệu đồng.Trong tháng 3/2026 trên địa bàn xảy ra 2 vụ vi phạm môi trường, giảm 2 vụ so với cùng kỳ, tăng 2 vụ so với tháng trước. Các hình thức vi phạm: 1 vụ không có giấy phép kinh doanh, giữ chất thải nguy hại quá 12 tháng không báo cáo; 1 vụ khai thác và mua bán khoáng sản trái phép; tiến hành xử lý 4 vụ với số tiền xử phạt 382,8 triệu đồng. Tính chung quý I/2026, trên địa bàn xảy ra 16 vụ, giảm 26 vụ; tiến hành xử lý 18 vụ với số tiền xử phạt 1914,9 triệu đồng.10.9. Thiệt hại do thiên taiTháng 3/2026 không xảy ra thiên tai, bằng cùng kỳ, bằng tháng trước. Trong quý I/2026, trên địa bàn không xảy ra thiên tai, bằng cùng kỳ.Nguồn Cục Thống kê thành phố Huế

Đẩy nhanh tiến độ- đảm bảo chất lượng thông tin Tổng điều tra kinh tế 2026
  •   26/03/2026 16:20

Tổng điều tra kinh tế năm 2026 đang được triển khai với một yêu cầu rất đặc biệt: đẩy nhanh tiến độ, rút ngắn thời gian tới 7 tháng, nhưng vẫn phải bảo đảm chất lượng và độ tin cậy của số liệu. Đây không chỉ là thách thức đối với ngành thống kê, mà còn đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ, trách nhiệm từ cộng đồng doanh nghiệp và các tổ chức liên quan. Trong giai đoạn hiện nay - khi việc thu thập thông tin đang được đẩy mạnh trên diện rộng -câu hỏi đặt ra là: làm thế nào để vừa “chạy nhanh”, vừa “chạy chắc”, để mỗi con số thu thập được thực sự chính xác, đầy đủ và có giá trị cho công tác điều hành, hoạch định chính sách. Phó Cục trưởng Cục Thống kê đã có nội dung trả lời về vấn đề này. HỎI: Bà có thể cho biết việc rút ngắn 7 tháng có ý nghĩa như thế nào đối với công tác điều hành kinh tế; những yêu cầu thay đổi căn bản nào trong cách tổ chức thực hiện?Trả lời:- Việc rút ngắn thời gian 7 tháng có ý nghĩa rất lớn đối với công tác điều hành kinh tế, thể hiện ở các khía cạnh sau:Thứ nhất, số liệu TĐTKT 2026 là một bức tranh tổng thể đầy đủ nhất về các cơ sở kinh tế, lao động, quy mô và cơ cấu nền kinh tế. Việc công bố số liệu sớm 7 tháng giúp nhà hoạch định chính sách có căn cứ đưa ra các chính sách sát thực tế nhất, giảm độ trễn thông tin trong nền kinh tế.Thứ hai, khi có dữ liệu sớm cũng giúp phát hiện nhanh các xu hướng suy giảm hay phục hồi và có biện pháp điều chỉnh chính sách kinh tế kịp thời như chính sách thuế, tín dụng và hỗ trợ doanh nghiệp.Thứ ba, đồng thời kết quả TĐTKT cũng là căn cứ để hỗ trợ xây dựng và điều chỉnh kế hoạch phát triển kinh tế giai đoạn 5 năm. Kết quả TĐTKT là đầu vào quan trọng cho việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và chiến lược cho từng ngành, vùng cụ thể. Việc công bố kết quả sớm sẽ giúp chủ động xây dựng kế hoạch và có những giải pháp để đạt được kế hoạch đề ra.- Việc rút ngắn tới 7 tháng trong một cuộc điều tra quy mô rất lớn như Tổng điều tra kinh tế 2026 không thể chỉ là “làm nhanh hơn”, mà đòi hỏi thay đổi căn bản cách tổ chức thực hiện TĐT.Tăng cường công tác chỉ đạo của Ban Chỉ đạo TĐT các cấp và có sự vào cuộc mạnh mẽ của các Bộ, ngành và các cơ quan địa phương trong việc phối hợp thực hiện nhiệm vụ của TĐT. Phân công rõ trách nhiệm cho các cơ quan liên quan thực hiện nhiệm vụ trong TĐT.Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về nội dung của TĐT đến đông đảo quần chúng nhân dân, công đồng doanh nghiệp của nhiều hình thức và nhiều kênh tuyên truyền để người cung cấp thông tin nhận thức rõ trách nhiệm trong việc cung cấp thông tin cho TĐT.Thay đổi quy trình từ việc tiến hành tuần tự các bước từ thu thập thông tin, kiểm tra, xử lý sang vừa thu thập vừa đồng thời tiến hành kiểm tra, xử lý và hoàn thiện dữ liệu. Tức là thu thập đến đâu thì tiến hành kiểm tra và xử lý ngay đến đó. Yêu cầu các lực lượng tham gia thực hiện TĐTKT cần phối hợp chặt chẽ và thường xuyên hơn trong quá trình thu thập thông tin.Ứng dựng triệt để công nghệ thông tin vào tất cả các khâu trong quá trình thu thập thông tin và sử dụng công nghệ AI trong TĐTKT để giúp điều tra viên và giám viên nâng cao năng suất và chất lượng công việc. Rà soát lại toàn bộ các chỉ tiêu hướng đến sử dụng triệt để dữ liệu hành chính để giảm bớt tối đa các thông tin cần thu thập, bảo đảm phiếu điều tra ngắn gọn, xúc tích, rõ ràng và dễ hiểu để người cung cấp thông tin thuận lợi nhất trong quá trình thực hiện kê khai. HỎI: Trong quá trình điều chỉnh kế hoạch, đâu là những khâu chịu áp lực lớn nhất: thu thập dữ liệu, kiểm tra- xử lý hay tổng hợp và công bố, thưa Bà? TRẢ LỜI: Trong quá trình điều chỉnh kế hoạch tất cả các khâu triển khai đều có vai trò quan trọng trong đóng góp vào kết quả TĐT. Tuy nhiên, khâu thu thập dữ liệu và kiểm tra, xử lý, làm sạch dữ liệu là 02 khâu chịu áp lực lớn nhất, do:Với khối lượng phiếu thu thập thông tin rất lớn từ hơn 5 triệu cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể và hơn 1 triệu doanh nghiệp đòi hỏi khối lượng điều tra viên, giám sát viên rất lớn. Việc đẩy nhanh thời gian công bố kết quả TĐT lên 7 tháng đồng nghĩa với việc rút ngắn thời gian thu thập thông tin nên đòi hỏi lực lượng huy động vào TĐT lớn hơn nhiều. Việc trong thời gian ngắn tuyển đủ điều tra viên có chất lượng để thực hiện thu thập thông tin giai đoạn 2 đối với phiếu doanh nghiệp là một áp lực lớn đối với các địa phương.Trong thời gian ngắn thực hiện kiểm tra, xử lý và làm sạch dữ liệu điều tra khổng lồ là một thách thức rất lớn đối với Ngành Thống kê. Dữ liệu thu thập do nhiều nguyên nhân vẫn còn những lỗi sai cần phải kiểm tra, xử lý như sai về ngành kinh tế, sai đơn vị tính, sai logic giữa các câu hỏi…đòi hỏi cần phải kiểm tra kỹ để bảo đảm chất lượng số liệu. Với khối lượng công việc rất lơn cần thực hiện trong thời gian ngắn, Ngành Thống kê cần nỗ lực rất lớn và tập trung cao độ để có thể thực hiện tốt được nhiệm vụ này, bảo đảm kết quả TĐT đạt chất lượng tốt, có độ tin cậy cao phục vụ cho Đảng, Chính phủ và các cơ quan trong công tác chỉ đạo điều hành.HỎI; Phạm vi thu thập thông tin lần này rất rộng. Vậy đâu là nhóm đối tượng có nguy cơ cao xảy ra sai lệch hoặc thiếu hụt thông tin? những lỗi phổ biến nhất khi các đơn vị kê khai thông tin là gì, thưa bà?Trước hết, về nhóm đối tượng có nguy cơ cao xảy ra sai lệch hoặc thiếu hụt thông tin.Khối doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ tuy chiếm số lượng lớn nhưng hệ thống kế toán thường không tốt như các doanh nghiệp có quy mô lớn, vì vậy việc tổng hợp số liệu đôi khi chưa thật sự đầy đủ và thống nhất. Bên cạnh đó, đối với các đơn vị sự nghiệp ngoài công lập, các hội, hiệp hội, do đặc thù hoạt động không đặt mục tiêu lợi nhuận là chính nên việc theo dõi các chỉ tiêu kinh tế, tài chính chưa được quan tâm thường xuyên. Ngoài ra, với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài, sự khác biệt giữa quy định báo cáo quốc tế và trong nước cũng có thể dẫn đến cách hiểu chưa thống nhất khi kê khai.Thông tin về lao động chia chi tiết theo độ tuổi, theo trình độ cũng có thể là khó khăn đối với doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ. Nếu doanh nghiệp không có phần mềm quản lý nhân sự mà phải thực hiện thống kê, tính toán thì cũng có thể có những sai sót trong quá trình kê khai thông tin này.Tiếp theo, về những lỗi phổ biến trong quá trình kê khai.Qua thực tế triển khai, chúng tôi nhận thấy các sai sót chủ yếu mang tính kỹ thuật, nhưng nếu không được kiểm soát sẽ ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng số liệu.Phổ biến nhất là nhầm lẫn về đơn vị tính, ví dụ giữa “đồng” và “triệu đồng”, dẫn đến sai lệch lớn về giá trị. Bên cạnh đó là việc nhầm lẫn giữa các chỉ tiêu tài chính như doanh thu thuần với tổng thu nhập, hoặc giữa vốn điều lệ và vốn chủ sở hữu. Ngoài ra, còn có những trường hợp số liệu chưa hợp lý giữa các chỉ tiêu liên quan, như giữa lao động và tiền lương, cũng như tình trạng bỏ sót thông tin, đặc biệt là các đơn vị trực thuộc hoặc các nội dung mới.Việc xác định mã ngành kinh tế tuy đã được ứng dụng công nghệ AI trên hệ thống để giúp doanh nghiệp xác định đúng mã ngành kinh tế nhưng cũng không thể tránh khỏi việc doanh nghiệp xác định sai. Vì công nghệ có tốt đến đâu nhưng cuối cùng vẫn là do con người sử dụng nên nếu xác định sai mã ngành sẽ dẫn đến sai luồng kê khai thông tin trên phiếu và dẫn đến thông tin sai lệch và thiếu hụt thông tin cần thu thập.Hiện hệ thống thu thập thông tin có đẩy đủ các công cụ để giúp cảnh báo cho doanh nghiệp, điều tra viên phát hiện ra sai sót nhàm hạn chế tối đa các sai sót trong quá trình kê khai thông tin. Qua đây chúng tôi cũng đề nghị các doanh nghiệp khi kê khai thông tin cần lưu ý đến những cảnh báo do hệ thống đưa ra để kịp thời phát hiện để cung cấp thông tin chính xác nhất của doanh nghiệp cho Tổng điều tra.HỎI: Bà có thể cho biết những sai lệch này thường xuất phát từ năng lực, nhận thức hay từ chính thiết kế biểu mẫu? và để bảo đảm chất lượng số liệu, cơ quan thống kê kiểm soát như thế nào? Có biện pháp gì để hạn chế kê khai thiếu, sai?Trả lời:Liên quan đến nguyên nhân của các sai lệchNguyên nhân có thể xuất phát từ nhiều phía.Trước hết là về nhận thức, một số đơn vị chưa nhận thức rõ ý nghĩa của việc cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác cho hoạt động thống kê nói chung và Tổng điều tra kinh tế nói riêng. Bên cạnh đó là yếu tố năng lực quản lý dữ liệu của chính đơn vị, đặc biệt ở các đơn vị nhỏ, việc tổng hợp số liệu còn hạn chế. Trong Tổng điều tra kinh tế năm 2026, ngành Thống kê đã chủ động điều chỉnh biểu mẫu theo hướng đơn giản, dễ hiểu hơn; đồng thời hệ thống kê khai điện tử được thiết kế phù hợp với từng loại hình đơn vị, giúp giảm nhầm lẫn trong quá trình thực hiện.Về cơ chế kiểm soát chất lượng và phát hiện dữ liệu bất thườngChúng tôi không chờ đến khi kết thúc thu thập thông tin mới thực hiện kiểm tra dữ liệu, mà thực hiện kiểm soát xuyên suốt quá trình thu thập thông tin. Cụ thể, hệ thống kê khai điện tử có chức năng kiểm tra tự động, khi phát hiện số liệu chưa hợp lý sẽ cảnh báo ngay để đơn vị kịp thời rà soát, điều chỉnh. Đồng thời, cơ quan thống kê các cấp theo dõi tiến độ và tình hình kê khai thường xuyên, qua đó kịp thời hỗ trợ các đơn vị khi phát sinh vướng mắc. Bên cạnh đó, số liệu còn được đối chiếu với các nguồn thông tin liên quan như thuế và đăng ký kinh doanh để đảm bảo tính chính xác và thống nhất.Nhờ đó, nhiều sai sót được phát hiện và xử lý ngay trong quá trình thu thập.Cuối cùng, về các biện pháp hạn chế kê khai thiếu và saiChúng tôi triển khai đồng bộ cả về tuyên truyền, hỗ trợ và trực tiếp kiểm tra những sai sót.Trước hết là tăng cường tuyên truyền để các đơn vị hiểu rõ việc cung cấp thông tin chính xác là cần thiết cho cuộc Tổng điều tra phục vụ xây dựng chính sách phù hợp. Đồng thời, tổ chức hướng dẫn, tập huấn và hỗ trợ trong suốt quá trình kê khai để các đơn vị thực hiện đúng ngay từ đầu, căn cứ dữ liệu quá khứ và các nguồn dữ liệu hành chính để kiểm tra, so sánh phát hiện sai sót và yêu cầu hoàn thiện lỗi sai. Bên cạnh đó, tiếp tục hoàn thiện biểu mẫu, ứng dụng công nghệ để kiểm tra, cảnh báo sai sót kịp thời, và tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm theo quy định.Có thể thấy, với cách tiếp cận đồng bộ từ nhận diện rủi ro đến kiểm soát và hỗ trợ thực hiện, chúng tôi tin tưởng rằng chất lượng thông tin của Tổng điều tra kinh tế năm 2026 sẽ được nâng cao rõ rệt, đáp ứng tốt yêu cầu quản lý và điều hành trong giai đoạn hiện nay.HỎI: Trong điều kiện thời gian rút ngắn, đâu là nguyên tắc quan trọng nhất để vẫn bảo đảm được độ tin cậy của số liệu? đâu đang là “điểm nghẽn lớn nhất” trong khâu thu thập thông tin hiện nay?Trả lời:- Trong điều kiện thời gian rút ngắn nguyên tắc quan trọng nhất để vẫn bảo đảm được độ tin cậy của số liệu:Tăng cường và ứng dụng tối đa công nghệ thông tin trong việc thực hiện giám sát điều tra trực tuyến. GSV thường xuyên bám sát điều tra viên trong quá trình thực hiện để kịp thời phát hiện những trường hợp chưa tuân thủ đầy đủ quy trình điều tra và chấn chỉnh tránh sai sót hệ thống.Đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát trực tiếp để nâng cao trách nhiệm của giám sát viên cấp dưới và điều tra trong việc thực hiện nhiệm vụ.Thực hiện ngay và quyết liệt việc kiểm tra, xử lý và làm sạch dữ liệu ngay từ những ngày đầu thu thập dữ liệu trên tinh thần số liệu thu thập đến đâu thực hiện kiểm tra, xử lý ngay đến đó.- Từ thực tế triển khai chúng tôi thấy “điểm nghẽn lớn nhất” trong quá trình thu thập thông tin hiện nay chính là vấn đề tuân thủ nghĩa vụ cung cấp thông tin của người cung cấp thông tin. Hiện nay có một số doanh nghiệp chưa thực sự nhận thức rõ trách nhiệm của mình trong việc kê khai thông tin cho Ngành Thống kê nói chung và TĐT nói riêng. Để bảo đảm tiến độ và chất lượng của cuộc TĐT thì việc các đơn vị cung cấp thông tin như doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp, hội, hiệp hội thực hiện ngay và tốt nghĩa vụ cung cấp thông tin trên trang điều hành của TĐT đóng vai trò vô cùng quan trọng góp phần vào thành công của cuộc TĐT.HỎI: Làm thế nào để đồng bộ giữa tiến độ nhanh và độ tin cậy cao trong thực tiễn, thưa Bà? Việc kết nối, đối soát với các cơ sở dữ liệu hành chính (thuế, đăng ký kinh doanh…) được thực hiện đến đâu?Trả lời:- Để thực hiện TĐT đạt tiến độ nhưng vẫn bảo đảm được độ tin cậy cao là yêu cầu của cuộc TĐT. Để bảo đảm được kết quả này cần tập trung vào một số vấn đề:Đẩy mạnh công tác chỉ đạo TĐT, gắn rõ trách nhiệm của các thành viên tham gia TĐT đặc biệt là giám sát viên và điều tra viên.Ứng dụng tối đa công nghệ thông tin trong việc thực hiện giám sát điều tra trực tuyến. GSV thường xuyên bám sát điều tra viên trong quá trình thực hiện để kịp thời phát hiện những trường hợp chưa tuân thủ đầy đủ quy trình điều tra và chấn chỉnh tránh sai sót hệ thống.Thực hiện hướng dẫn nghiệp vụ và chấn chỉnh điều tra viên, giám sát viên kịp thời và thường xuyên. Có cơ chế khen thưởng rõ ràng đối với những cá nhân, tập thể có thành tích tốt. Đồng thời, có chế tài xử phạt đối với giám sát viên, điều tra viên chưa thực hiện tốt nhiệm vụ để nâng cao tinh thần trách nhiệm và chất lượng trọng việc thực hiện nhiệm vụ của các đơn vị và cá nhân tham gia cuộc TĐT.- Việc kết nối, đối soát với các cơ sở dữ liệu hành chính (thuế, đăng ký kinh doanh…) được thực hiện ngay trong quá trình thu thập thông tin và trong quá trình kiểm tra, xử lý dữ liệuDữ liệu thuế và đăng ký kinh doanh được tích hợp ngay vào hệ thống của TĐT để thực hiện việc đối soát và kiểm tra dữ liệu điều tra giúp giảm các lỗi sai của người cung cấp thông tin.Đồng thời hệ thống quản lý của TĐT có nhiều ứng dụng thực hiện việc kiểm tra chuyên sâu trong việc đối soát dữ liệu điều tra với dữ liệu hành chính. Việc kiểm tra chéo dữ liệu điều tra với dữ liệu hành chính từ dữ liệu vi mô đến dữ liệu tổng hợp giúp chúng ta có thể phát hiện ra những vấn đề bất hợp lý trong dữ liệu để xử lý và giảm thiểu sai sót.- Qua nhiều năm thực hiện điều tra doanh nghiệp chúng tôi nhận thấy việc sử dụng dữ liệu hành chính trong tổng hợp, kiểm tra, đối chiếu dữ liệu giúp nâng cao độ tin cậy đối với dữ liệu điều tra. Dữ liệu thu thập và dữ liệu hành chính được so sánh, đánh giá lẫn nhau để phát hiện lỗi sai và khắc phục kịp thời giúp giảm sai số phi mẫu.  HỎI: Trong giai đoạn “nước rút”, ngành thống kê đang ưu tiên những giải pháp nào để vừa bảo đảm tiến độ, vừa kiểm soát chất lượng, thưa Bà?Trả lời: Hiện nay, Cuộc Tổng điều tra kinh tế năm 2026 đã bước vào giai đoạn “nước rút” của quá trình thu thập thông tin. Đây là thời điểm có ý nghĩa quan trọng, đòi hỏi vừa khẩn trương hoàn thành tiến độ, vừa rà soát, kiểm soát chặt chẽ chất lượng số liệu trước khi chuyển sang giai đoạn tổng hợp.Trên cơ sở đó, ngành Thống kê đang tập trung triển khai đồng bộ ba nhóm giải pháp trọng tâm.Thứ nhất, về bảo đảm tiến độ thực hiện:Tiến hành rà soát toàn bộ danh sách các đơn vị điều tra, tập trung vào những trường hợp chưa kê khai hoặc kê khai chưa đầy đủ. Đối với các địa bàn còn chậm, ngành Thống kê tăng cường đôn đốc, đồng thời cử cán bộ trực tiếp hỗ trợ, hướng dẫn các đơn vị hoàn thiện thông tin.Chỉ đạo giám sát viên các cấp bám sát điều tra viên để đôn đốc tiến độ, đồng thời sử dụng triệt để các công cụ giám sát trên hệ thống thu thập thông tin của Tổng điều tra để theo dõi và kịp thời phát hiện những sai sót của điều tra viên và chấn chỉnh tránh lỗi sai hệ thốngYêu cầu điều tra viên báo cáo tiến độ thu thập thông tin đối với từng đơn vị được phục trách trên hệ thống quản lý điều tra của Tổng điều tra để Ban Chỉ đạo các cấp nắm bắt tiến độ và kịp thời hỗ trợ điều tra viên khi gặp những vướng mắc, khó khăn trong việc tiếp cận với người cung cấp thông tinMục tiêu đặt ra là bảo đảm thu thập đầy đủ thông tin, không bỏ sót đối tượng và hoàn thành đúng thời hạn theo kế hoạch chung.Thứ hai, về kiểm soát chất lượng số liệu:Trọng tâm trong giai đoạn này là rà soát, kiểm tra và làm sạch dữ liệu đã thu thập.Hệ thống thu thập thông tin điện tử được sử dụng để phát hiện các số liệu chưa hợp lý, hỗ trợ đơn vị kịp thời điều chỉnh. Đồng thời, cơ quan thống kê các cấp tập trung kiểm tra những trường hợp có biến động lớn hoặc có dấu hiệu chưa phù hợp, thực hiện xác minh và đối chiếu với các nguồn thông tin liên quan như dữ liệu thuế, đăng ký kinh doanh.Yêu cầu giám sát viên, điều tra viên kiểm tra dữ liệu ngay khi vừa thu thập bằng những công cụ kiểm tra dữ liệu trên hệ thống để phát hiện lỗi dữ liệu và trao đổi ngay với đơn vị cung cấp thông tin để sửa và hoàn thiện dữ liệu mà không đợi đến khi kết thúc thu thập thông tin.Số liệu đã được kiểm tra, xác nhận đầy đủ mới được nghiệm thu và sử dụng trong tổng hợp, bảo đảm tính chính xác và độ tin cậy.Thứ ba, về tổ chức thực hiện:Kết hợp chặt chẽ giữa việc hỗ trợ các đơn vị kê khai và nâng cao trách nhiệm trong cung cấp thông tin.Ngành Thống kê tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền đến người cung cấp thông tin về mục tiêu, ý nghĩa, trách nhiệm cung cấp thông tin cho Tổng điều tra kinh tế để người cung cấp thông tin thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình trong việc cung cấp thông tin cho Tổng điều tra.Duy trì các kênh hướng dẫn, hỗ trợ trong suốt quá trình thực hiện, giúp các đơn vị hoàn thành kê khai đúng quy định. Đồng thời, tăng cường đôn đốc, yêu cầu các đơn vị thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ cung cấp thông tin, bảo đảm đầy đủ, chính xác và kịp thời.Với sự tập trung, quyết liệt trong chỉ đạo và tổ chức thực hiện, cùng với sự phối hợp của các bộ, ngành, địa phương và cộng đồng doanh nghiệp và các tổ chức khác, chúng tôi tin tưởng rằng Cuộc Tổng điều tra kinh tế năm 2026 sẽ hoàn thành đúng kế hoạch, bảo đảm chất lượng theo yêu cầu đề ra, góp phần cung cấp cơ sở dữ liệu tin cậy phục vụ công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội.

Cục trưởng Nguyễn Thị Hương: Hệ sinh thái dữ liệu quốc gia, khi Thống kê giữ vai trò “gác cổng”
  •   21/03/2026 08:13

Cục trưởng Nguyễn Thị Hương cho rằng, việc hình thành một hệ sinh thái dữ liệu quốc gia hiện đại, an toàn và có khả năng chia sẻ, kết nối hiệu quả đang trở thành yêu cầu tất yếu của mỗi quốc gia.Cục trưởng Cục Thống kê Nguyễn Thị Hương chia sẻ với giới báo chí xung quanh nội dung Hệ sinh thái dữ liệu quốc gia. Ảnh: GSOTrong kỷ nguyên số, dữ liệu đã và đang trở thành một nguồn lực chiến lược của mỗi quốc gia. Từ hoạch định chính sách, quản lý kinh tế - xã hội đến thúc đẩy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, các quyết định được đưa ra đều cần phải dựa trên dữ liệu. Vì vậy, việc hình thành một hệ sinh thái dữ liệu quốc gia hiện đại, an toàn và có khả năng chia sẻ, kết nối hiệu quả đang trở thành yêu cầu tất yếu của mỗi quốc gia.Bà Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê, Bộ Tài chínhcho biết, trong hệ sinh thái đó, Thống kê nhà nước giữ vai trò trung tâm, vừa là nhà sản xuất thông tin thống kê chính thức của quốc gia, vừa là “người giám hộ dữ liệu”, bảo đảm chất lượng và tính nhất quán, thống nhất của dữ liệu phục vụ quản trị và hoạch định chính sách. Để hiểu rõ hơn về hệ sinh thái dữ liệu quốc gia, phóng viên Thông tấn xã Việt Nam đã có cuộc trao đổi với Cục trưởng Nguyễn Thị Hương xung quanh nội dung này.Phóng viên: Thưa bà, vì sao dữ liệu thống kê lại được coi là “nguồn đáng tin cậy nhất” trong hệ sinh thái dữ liệu quốc gia?Cục trưởng Nguyễn Thị Hương: Trong hệ sinh thái dữ liệu quốc gia, dữ liệu được tạo ra từ nhiều nguồn dữ liệu khác nhau và từ nhiều chủ thể khác nhau như các cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức xã hội và người dân, nhưng không phải mọi dữ liệu đều có giá trị sử dụng trực tiếp trong quản lý nhà nước. Trong hệ sinh thái này, dữ liệu thống kê được xem là những “bằng chứng thực tiễn” xác thực; là một nguồn dữ liệu đáng tin cậy nhất.Đây là dữ liệu đã được chuẩn hóa, kiểm chứng và tích hợp từ nhiều nguồn khác nhau bảo đảm độ chính xác, đầy đủ, nhất quán, kịp thời và có khả năng kết nối, bảo đảm dữ liệu được chia sẻ “đúng, đủ, sạch, sống và liên thông” và sử dụng chính thống trong các cơ quan nhà nước phục vụ quản lý điều hành.Phóng viên: Bà có thể nói rõ hơn vì sao Cơ quan thống kê quốc gia lại được xem là chủ thể “đặc biệt” trong hệ sinh thái dữ liệu?Cục trưởng Nguyễn Thị Hương: Trong các chủ thể sản xuất dữ liệu, Cơ quan thống kê quốc gia có vị trí, vai trò đặc biệt. Cơ quan thống kê quốc gia bảo đảm chất lượng, tính khách quan, trung thực, đầy đủ, kịp thời của số liệu thông qua việc thực hiện vai trò điều phối thống kê, ban hành và áp dụng thống nhất các tiêu chuẩn, chuẩn mực thống kê, hay nói cách khác Cơ quan thống kê quốc gia thiết lâp và hình thành “ngôn ngữ chung của hệ thống dữ liệu quốc gia”; bảo đảm dữ liệu được thu thập, biên soạn thống nhất, có thể so sánh, chia sẻ trong nội bộ quốc gia cũng như so sánh quốc tế.Trong một môi trường dữ liệu có nhiều nguồn dữ liệu khác nhau, nguy cơ sai lệch, trùng lặp, bỏ sót hoặc thiếu nhất quán giữa các nguồn dữ liệu là rất lớn. Với hệ thống phương pháp luận chặt chẽ và quy trình sản xuất thông tin thống kê khoa học, Cơ quan thống kê quốc gia có khả năng tổng hợp, kiểm chứng và xử lý dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau, bảo đảm thông tin được công bố minh bạch, chính xác và đáng tin cậy. Xây dựng một nền dữ liệu thống kê tập trung, thống nhất. Ảnh: Bnews/VnanetPhóng viên: So với trước đây, dữ liệu thống kê hiện nay đã thay đổi như thế nào về độ đa dạng và chiều sâu? Bà có thể làm rõ những yếu tố nào quyết định chất lượng và tính “khoa học” của dữ liệu thống kê hiện nay?Cục trưởng Nguyễn Thị Hương: Thực tiễn cho thấy, dữ liệu thống kê được biên soạn theo phương pháp khoa học; có chất lượng; bảo đảm tính khách quan, đầy đủ, chính xác, kịp thời; đa dạng về chủng loại, phân tổ chi tiết theo các đối tượng quản lý, theo kỳ thu thập và không gian địa lý. Cơ quan thống kê đã cung cấp ngày càng nhiều dữ liệu phục vụ sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Đảng, Quốc hội, Chính phủ và các địa phương.Những dữ liệu này là cơ sở để đánh giá tác động của các chính sách, đề án kinh tế lớn, các cú sốc ảnh hưởng đến kinh tế vĩ mô và đề xuất các kịch bản tăng trưởng… Đặc biệt là các thông tin phản ánh mô hình kinh tế mới: kinh tế số, xã hội số, kinh tế tuần hoàn, kinh tế biển, tăng trưởng xanh, logistics, phát triển bền vững, nông nghiệp, nông thôn, nông dân, phát triển văn hóa, bình đẳng giới, các nhóm yếu thế (trẻ em, phụ nữ, người dân tộc thiểu số, người khuyết tật...).Dữ liệu do cơ quan thống kê cung cấp không chỉ phục vụ hiệu quả cho quản lý và điều hành trong nước mà còn góp phần nâng cao uy tín, vị thế và năng lực của quốc gia trên trường quốc tế, qua đó tạo dựng niềm tin đối với các nhà đầu tư và các đối tác phát triển.Vì vậy, trong bối cảnh chuyển đổi số và kinh tế dữ liệu đang bùng nổ trên toàn cầu, việc khẳng định vị thế, vai trò của cơ quan thống kê trong bộ máy nhà nước không chỉ là yêu cầu về chuyên môn, mà còn là điều kiện quan trọng để xây dựng một hệ sinh thái dữ liệu quốc gia chất lượng, minh bạch, hiệu quả và bền vững.Phóng viên: Vậy, thưa Bà, làm thế nào để đảm bảo tính độc lập, khách quan của cơ quan thống kê khi thực hiện chức năng “giám hộ dữ liệu”?Cục trưởng Nguyễn Thị Hương: Để có được thông tin thống kê chất lượng, đáng tin cậy phục vụ lãnh đạo, quản lý, điều hành và từ thực tiễn thống kê thế giới cho thấy, để thực hiện tốt vai trò “giám hộ dữ liệu”, cần bảo đảm một số điều kiện cơ bản: Quốc gia phải có hệ thống thống kê nhà nước; trong đó cơ quan thống kê quốc gia là tổ chức duy nhất chịu trách nhiệm sản xuất, công bố thông tin thống kê chính thức, đồng thời điều phối hệ thống thống kê và đại diện quốc gia trong hợp tác quốc tế. Cơ quan thống kê quốc gia thực hiện vai trò trung tâm trong hệ sinh thái dữ liệu quốc gia; là “người giám hộ dữ liệu” của hệ thống dữ liệu công, chịu trách nhiệm điều phối, chuẩn hóa và bảo đảm chất lượng thông tin phục vụ quản lý nhà nước.Tôi cho rằng, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng khi hệ sinh thái dữ liệu ngày càng mở rộng, bao gồm cả dữ liệu hành chính, dữ liệu lớn và các nguồn dữ liệu từ khu vực tư nhân. Bên cạnh đó, mô hình tổ chức thống kê theo ngành dọc được nhiều quốc gia áp dụng do phù hợp với việc thu thập thông tin từ cơ sở và phục vụ đồng thời nhu cầu quản lý của trung ương và địa phương.Cùng với đó, hoạt động thống kê phải tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc và chuẩn mực của Liên hợp quốc. Một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của thống kê chính thức là bảo đảm tính độc lập chuyên môn của cơ quan thống kê.Hệ thống thống kê cần được tổ chức theo hướng bảo đảm tính độc lập về chuyên môn, nghiệp vụ. Hoạt động thống kê phải được thực hiện trên cơ sở khoa học, khách quan và không chịu sự can thiệp mang tính hành chính hoặc chính trị trong quá trình biên soạn và công bố số liệu. Tính độc lập chuyên môn giúp bảo đảm rằng các thông tin thống kê phản ánh trung thực tình hình kinh tế - xã hội, từ đó tạo dựng niềm tin của xã hội đối với số liệu chính thức.Ngoài ra, cơ quan thống kê cần được trao quyền tiếp cận các nguồn dữ liệu mọi cấp và được đầu tư nguồn lực, công nghệ hiện đại trong sản xuất, tổng hợp và phổ biến thông tin thống kê. Việc bảo đảm cho cơ quan thống kê có quyền tiếp cận đầy đủ các nguồn dữ liệu, có thẩm quyền điều phối hệ thống thống kê và có tính độc lập trong hoạt động chuyên môn là điều kiện cần thiết để hệ thống thống kê có thể thực hiện tốt vai trò của mình.Trong bối cảnh chuyển đổi số và kinh tế dữ liệu phát triển mạnh mẽ, việc xây dựng hệ sinh thái dữ liệu quốc gia đang trở thành một yêu cầu tất yếu đối với mỗi quốc gia. Tại Việt Nam, hệ sinh thái dữ liệu quốc gia đang từng bước được hình thành với các trụ cột quan trọng như hạ tầng dữ liệu, các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ chế chia sẻ dữ liệu và mô hình quản trị dữ liệu thống nhất. Trong quá trình đó, việc củng cố vị thế của cơ quan thống kê với vai trò trung tâm trong chuẩn hóa, điều phối và bảo đảm chất lượng dữ liệu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Khi dữ liệu ngày càng trở thành nền tảng của quản trị hiện đại, thống kê không chỉ là công cụ đo lường mà còn giữ vai trò bảo đảm tính tin cậy và minh bạch của hệ thống dữ liệu quốc gia.Nguồn: https://bnews.vn

THỐNG KÊ THÀNH PHỐ HUẾ TỔ CHỨC HỘI NGHỊ CÔNG CHỨC, NGƯỜI LAO ĐỘNG NĂM 2026
  •   12/03/2026 14:18

Nhằm phát huy quyền làm chủ của công chức và người lao động, đồng thời đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ năm 2025 và triển khai phương hướng, nhiệm vụ năm 2026, Thống kê thành phố Huế đã tổ chức Hội nghị Công chức, Người lao động năm 2026 với sự tham gia của toàn thể công chức và người lao động trong đơn vị.Hội nghị là dịp để tập thể công chức và người lao động cùng nhìn lại chặng đường công tác trong năm qua, đánh giá những kết quả đã đạt được, đồng thời trao đổi, thảo luận và đóng góp nhiều ý kiến thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của ngành thống kê trên địa bàn thành phố.Với tinh thần dân chủ – đoàn kết – trách nhiệm, hội nghị đã tập trung thảo luận các giải pháp nâng cao chất lượng công tác chuyên môn, cải thiện điều kiện làm việc, xây dựng môi trường làm việc tích cực, hiệu quả, góp phần hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao trong thời gian tới.Tại hội nghị, các đại biểu cũng đã tiến hành bầu Ban Thanh tra nhân dân nhiệm kỳ 2026–2027 theo quy định của Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở, bảo đảm phát huy vai trò giám sát của công chức và người lao động trong hoạt động của cơ quan.Hội nghị Công chức, Người lao động năm 2026 của Thống kê thành phố Huế đã diễn ra trong không khí nghiêm túc, dân chủ và trách nhiệm, thể hiện sự đồng thuận, đoàn kết của tập thể công chức và người lao động, tạo động lực quan trọng để đơn vị tiếp tục hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao trong năm 2026 và những năm tiếp theo.Một số hình ảnh tại Hội nghị Công chức, Người lao động năm 2026 của Thống kê thành phố Huế: