0234 3828125 | Tphue@nso.gov.vn
BÁO CÁO TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI THÁNG 6 VÀ 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2026
  •   09/07/2026 15:02

Kinh tế - xã hội thành phố Huế trong sáu tháng đầu năm 2026 diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục tăng trưởng nhưng còn nhiều yếu tố bất ổn. Hoạt động sản xuất, thương mại và đầu tư toàn cầu phục hồi chậm, không đồng đều giữa các khu vực; lạm phát tại nhiều nền kinh tế lớn tuy đã hạ nhiệt nhưng vẫn ở mức cao, trong khi căng thẳng địa chính trị, biến động giá năng lượng và  xu hướng gia tăng các biện pháp bảo hộ thương mại tiếp tục ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng và hoạt động thương mại quốc tế. Trong nước, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát, các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm; sản xuất công nghiệp, thương mại, dịch vụ, xuất khẩu, du lịch và thu hút đầu tư nước ngoài tiếp tục tăng trưởng tích cực. Tuy nhiên, hoạt động sản xuất, kinh doanh vẫn gặp một số khó khăn do chi phí đầu vào tăng, sức ép cạnh tranh ngày càng lớn và những biến động khó lường của kinh tế thế giới. Trong bối cảnh đó, với sự chỉ đạo quyết liệt của Thành ủy, HĐND, UBND thành phố cùng sự nỗ lực của các cấp, các ngành, cộng đồng doanh nghiệp và người dân, kinh tế thành phố Huế tiếp tục duy trì đà tăng trưởng khá; các ngành dịch vụ, du lịch phát triển tích cực, sản xuất công nghiệp, thương mại, đầu tư xây dựng và thu hút đầu tư có nhiều chuyển biến, các cân đối lớn của nền kinh tế cơ bản được bảo đảm. Thực hiện nghị quyết và quyết định của Thành ủy, HĐND, UBND thành phố về nhiệm vụ, kế hoạch và triển khai thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026. Kết quả đạt được trên các ngành, lĩnh vực trong sáu tháng đầu năm 2026 như sau: 1. Tăng trưởng kinh tế         Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) trong 6 tháng đầu năm 2026 theo giá so sánh năm 2020 ước tăng 8,33% so với cùng kỳ năm trước. Đây là mức tăng khá, xét trên phạm vi cả nước Huế xếp thứ 20 trong tổng số 34 địa phương, trong khu vực Bắc Trung Bộ Thành phố xếp thứ 3 trên 5 địa phương, đối với các thành phố trực thuộc Trung ương xếp thứ 4 trong số 6 thành phố. Trong đó: khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,20%, đóng góp 0,40 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,56%, đóng góp 3,06 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 8,40%, đóng góp 4,18 điểm phần trăm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 7,87%, đóng góp 0,69 điểm phần trăm trong tăng trưởng kinh tế toàn thành phố.         Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản duy trì mức tăng trưởng ổn định. Sản xuất nông nghiệp diễn ra thuận lợi, năng suất và sản lượng lúa vụ Đông Xuân tăng; chăn nuôi phát triển ổn định, dịch bệnh được kiểm soát hiệu quả. Hoạt động lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục duy trì đà tăng trưởng nhờ nhu cầu thị trường ổn định và điều kiện sản xuất thuận lợi. Trong đó, ngành nông nghiệp tăng 4,33%, đóng góp 0,24 điểm phần trăm; ngành lâm nghiệp tăng 5,18%, đóng góp 0,06 điểm phần trăm; và ngành thủy sản tăng 3,50%, đóng góp 0,09 điểm phần trăm. Tốc độ tăng trưởng này góp phần giữ vững ổn định sản xuất nông nghiệp, bảo đảm nguồn cung lương thực, thực phẩm và tạo nền tảng cho phát triển kinh tế nông thôn.         Khu vực công nghiệp và xây dựng tiếp tục là động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế, với giá trị tăng thêm ước tăng 9,56% so với cùng kỳ, trong đó ngành công nghiệp tăng 10,20%. Sản xuất công nghiệp khởi sắc nhờ nhiều ngành chủ lực duy trì tăng trưởng khá và một số dự án mới đi vào hoạt động, mở rộng sản xuất. Hoạt động xây dựng tăng 7,00%, chủ yếu nhờ tiến độ triển khai các công trình trọng điểm và dự án hạ tầng được đẩy nhanh. Tuy nhiên, khu vực vẫn chịu tác động của giá nguyên vật liệu, chi phí năng lượng ở mức cao; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 10,28% do lưu lượng nước về các hồ thủy điện thấp.         Khu vực dịch vụ tăng 8,40% so với cùng kỳ, đóng góp quan trọng vào mức tăng GRDP chung. Hoạt động thương mại, dịch vụ diễn ra sôi động nhờ sức mua của người dân cải thiện và du lịch tiếp tục phục hồi tích cực. Một số ngành đạt mức tăng trưởng khá như: bán buôn, bán lẻ hàng hóa tăng 9,69%, đóng góp 0,75 điểm phần trăm; dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng 12,90%, đóng góp 0,91 điểm phần trăm; vận tải, kho bãi tăng 13,31%, đóng góp 0,41 điểm phần trăm. Bên cạnh đó, các ngành thông tin và truyền thông, tài chính - ngân hàng, khoa học và công nghệ cùng các dịch vụ khác tiếp tục duy trì tăng trưởng ổn định, góp phần thúc đẩy khu vực dịch vụ phát triển.         Cơ cấu kinh tế 6 tháng đầu năm 2026, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 9,02%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 29,81%; khu vực dịch vụ chiếm 52,42%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 8,75% (cơ cấu tương ứng của cùng kỳ năm 2025 là: 9,79%; 29,68%; 51,74% và 8,79%). 2. Tài chính, ngân hàng, bảo hiểm 2.1. Tài chính Tổng thu ngân sách trên địa bàn sáu tháng năm 2026 ước đạt 8.068 tỷ đồng, bằng 50,4% dự toán năm, tăng 8,6% so cùng kỳ. Trong đó: Thu nội địa ước đạt 7.238 tỷ đồng, bằng 49,8% dự toán, tăng 8,8% so với cùng kỳ, khẳng định vai trò trụ cột trong việc tạo nguồn thu bền vững cho ngân sách; thu thuế từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 813 tỷ đồng, bằng 56,1% dự toán, tăng 19,4% so với cùng kỳ. Thu viện trợ, huy động đóng góp 16,7 tỷ đồng, bằng 60,7% dự toán, giảm 87,9% so với cùng kỳ. Song song với nhiệm vụ thu, việc điều hành chi ngân sách địa phương cũng được triển khai chặt chẽ , bảo đảm các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và an sinh xã hội trên địa bàn. Tổng chi ngân sách địa phương sáu tháng năm 2026 ước đạt 6.429 tỷ đồng, bằng 34,8% dự toán. Trong cơ cấu chi, chi thường xuyên chiếm tỷ trọng chủ đạo với 4.910 tỷ đồng, bằng 42,2% dự toán nhằm đảm bảo vận hành bộ máy và các hoạt động an sinh xã hội; chi đầu tư phát triển 896 tỷ đồng, bằng 19,5% dự toán, còn chậm so với yêu cầu thúc đẩy tăng trưởng. 2.2. Ngân hàng Triển khai Chương trình tín dụng 140.000 tỷ đồng theo Nghị quyết 33/NQ-CP ngày 11/3/2023 của Chính phủ về một số giải pháp tháo gỡ và thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển an toàn, lành mạnh, bền vững. Thực hiện Thông tư 02/2023/TT-NHNN và Chỉ thị số 02/CT-NHNN ngày 23/5/2023 của NHNN VN về việc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng gặp khó khăn Tổng nguồn vốn huy động đến cuối tháng 6 năm 2026 ước đạt 94,7 nghìn tỷ đồng, tăng 5,8% so với cuối năm 2025; tổng dư nợ tín dụng ước đạt 98,9 nghìn tỷ đồng, tăng 3,2%. Các TCTD trên địa bàn thành phố Huế tiếp tục chú trọng cho vay các lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ. Tính đến cuối tháng 06/2026: Tín dụng đối với nông nghiệp nông thôn ước đạt 19.700 tỷ đồng, tăng 9,7% so với cuối năm 2025; Tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa ước đạt 18.000 tỷ đồng, tăng 4,5% so với cuối năm 2025; Tín dụng đối với xuất khẩu ước đạt 6.000 tỷ đồng, tăng 4,1% so với cuối năm 2025; Cho vay công nghiệp hỗ trợ ước đạt 7.200 tỷ đồng, tăng 358,9% so với cuối năm 2025. Trên địa bàn chưa phát sinh có dư nợ cho vay doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao. 2.3. Bảo hiểm Thị trường bảo hiểm trong sáu tháng đầu 2026 tiếp tục có nhiều tín hiệu tích cực, tạo điều kiện để các doanh nghiệp bảo hiểm đẩy mạnh hoạt động kinh doanh sau thời gian tập trung đầu tư nâng cao chất lượng nhân sự và hệ thống. Doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường dự kiến tăng khoảng 6,5%–7,5% so với cùng kỳ. Để nâng cao hiệu quả hoạt động, các doanh nghiệp bảo hiểm tập trung thúc đẩy tăng trưởng trên các kênh bán hàng gắn với nâng cao chất lượng dịch vụ, đa dạng hóa kênh thu phí trực tuyến, tăng cường chuyển đổi số và nâng cao năng lực quản trị. Đồng thời, các doanh nghiệp chú trọng kiểm soát nội bộ, quản lý rủi ro, bảo đảm tuân thủ quy định của cơ quan quản lý nhà nước, lấy chất lượng sản phẩm, dịch vụ và quyền lợi khách hàng làm trọng tâm nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh. 3. Giá cả, lạm phát - Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) Chỉ số giá tiêu dùng trên địa bàn thành phố 6 tháng đầu năm 2026 tăng 5,31% so với cùng kỳ, nguyên nhân chủ yếu là do giá thực phẩm tăng cao làm cho chỉ số giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng cao; nhóm nhà ở, nhóm điện và chất đốt cũng tăng cao. Chỉ số giá tiêu dùng thành phố tháng 6/2026 giảm 0,60% so với tháng trước, tăng 3,91% so với tháng 12 năm trước, tăng 5,58% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân giảm so với tháng trước chủ yếu do giá xăng dầu trong nước biến động giảm, giá gạo và thịt lợn giảm. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 05 nhóm hàng tăng giá so với tháng trước: Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,17%; Nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,11%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,10%; Thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,05%; Giáo dục tăng 0,01% so với tháng trước. Có 06 nhóm có chỉ số giảm so với tháng trước như: Giao thông giảm 4,71%; Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,37%; Thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,36%; May mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,34%; Thông tin và truyền thông giảm 0,13%; Đồ uống và thuốc lá giảm 0,05% so với tháng trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 6 tháng đầu năm 2026 tăng 5,31% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chính tăng giá do nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng cao (5,43%) khi giá thực phẩm, lương thực và ăn uống ngoài gia đình tăng cao; nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng cũng tăng cao (9,90%) khi nhóm nhà ở, nhóm ga và các loại chất đốt, nhóm điện và dịch vụ điện tăng cao do nhu cầu tiêu dùng tăng. Các nhóm hàng hóa dịch vụ còn lại có chỉ số giá bình quân 6 tháng đầu năm 2026 tăng khá so cùng kỳ năm trước: Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 6,15%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,50%; Giao thông tăng 4,35%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 3,87%; Giáo dục tăng 3,76%. - Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ Chỉ số giá vàng tháng 6/2026 giảm 8,11% so với tháng trước, giảm 2,52% so với tháng 12 năm trước và tăng 27,90% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 6 tháng đầu năm 2026 tăng 59,46% so với bình quân cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 6/2026 tăng 0,15% so với tháng trước, tăng 0,03% so với tháng 12 năm trước và tăng 0,72% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 6 tháng đầu năm 2026 tăng 1,85% so với bình quân cùng kỳ năm trước. 4. Hoạt động xuất nhập khẩu          Trong sáu tháng đầu năm 2026, hoạt động xuất nhập khẩu trên địa bàn thành phố Huế tiếp tục duy trì đà tăng trưởng. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước đạt 1.453,1 triệu USD, tăng 13,8%; trong đó kim ngạch xuất khẩu tăng 18,2%, cao hơn mức tăng của kim ngạch nhập khẩu (8,4%), đưa giá trị xuất siêu đạt 214,7 triệu USD. Nhóm hàng công nghiệp chế biến tiếp tục giữ vai trò chủ lực trong cơ cấu xuất khẩu, còn nhập khẩu chủ yếu phục vụ sản xuất và xuất khẩu của doanh nghiệp. 4.1. Xuất khẩu Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa sáu tháng đầu năm 2026 ước đạt 833,9 triệu USD, tăng 18,2% so với cùng kỳ và đạt 52,1% kế hoạch năm. Hầu hết các nhóm hàng xuất khẩu chủ lực đều tăng so với cùng kỳ. Trong đó, nhóm hàng công nghiệp chế biến tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn nhất với 587,6 triệu USD, tăng 14,1% và chiếm 70,5% tổng kim ngạch xuất khẩu; nhóm hàng nông, thủy sản đạt 93,8 triệu USD, tăng 70,0% và chiếm 11,2%; nhóm hàng khác đạt 152,5 triệu USD, tăng 13,0% và chiếm 18,3%. Một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu duy trì tăng trưởng khá như hàng may mặc, xơ sợi dệt, gỗ và sản phẩm gỗ. Hàng hóa của thành phố đã được xuất khẩu đến hơn 50 quốc gia và vùng lãnh thổ, tập trung ở các thị trường như Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, ASEAN, châu Âu… 4.2. Nhập khẩu Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa sáu tháng đầu năm 2026 ước đạt 619,2 triệu USD, tăng 8,4% so với cùng kỳ. Cơ cấu nhập khẩu chủ yếu phục vụ hoạt động sản xuất và xuất khẩu của doanh nghiệp. Trong đó, nhóm hàng cần nhập khẩu đạt 325,4 triệu USD, tăng 4,1% và chiếm 52,6% tổng kim ngạch nhập khẩu; nhóm hàng cần kiểm soát nhập khẩu đạt 90,5 triệu USD, tăng 6,3% và chiếm 14,6%; nhóm hàng hóa khác đạt 203,3 triệu USD, tăng 33,4% và chiếm 32,8%. Một số mặt hàng nhập khẩu có mức tăng cao gồm máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng; thủy sản; thép, hóa chất, chất dẻo nguyên liệu và cao su. Trong khi đó, nguyên phụ liệu dệt may giảm so với cùng kỳ. 5. Vốn đầu tư và xây dựng 5.1. Vốn đầu tư Thực hiện chỉ đạo của Trung ương, Thành ủy và HĐND thành phố, UBND thành phố Huế đã chủ động phân bổ kế hoạch vốn đầu tư công ngay từ đầu năm, đồng thời tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc nhằm đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án. Bên cạnh đó, hoạt động đầu tư phát triển trên địa bàn được triển khai tích cực với sự tham gia của cả khu vực ngoài nhà nước và khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Các dự án hạ tầng giao thông, đô thị, công nghiệp và dịch vụ trọng điểm tiếp tục được thực hiện, góp phần hoàn thiện kết cấu hạ tầng và tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế. Dự ước vốn đầu tư phát triển trong quý II/2026 dự ước đạt 9.708 tỷ đồng, đạt 24,2% so với kế hoạch năm, tăng 16,7% so với cùng kỳ. Tính chung 6 tháng đầu năm, tổng vốn đầu tư phát triển ước đạt 17.368 tỷ đồng, đạt 43,3% kế hoạch năm và tăng 13,2% so với cùng kỳ. Vốn đầu tư nhà nước trong quý II ước đạt 2.6034 tỷ đồng, chiếm 26,8% tổng nguồn vốn, tăng 17,6% so với cùng kỳ. Đưa tổng nguồn vốn nhà nước 6 tháng ước đạt 4.194 tỷ đồng, tăng 20,1% so cùng kỳ Trong đó : Vốn đầu tư do trung ương quản lý 6 tháng ước đạt 971 tỷ đồng, tăng 23,7% so cùng kỳ, chủ yếu nhờ việc tiếp tục triển khai đồng loạt nhiều dự án trọng điểm trên địa bàn như: Sửa chữa đập Thảo Long; Dự án mở rộng cao tốc Bắc Nam đoạn La Sơn - Hòa Liên đoạn đi qua thành phố Huế; Dự án mở rộng cao tốc Cam Lộ-La Sơn. Các đơn vị thi công đã huy động mọi nguồn lực tối đa để hoàn thành theo đúng tiến độ dự kiến đề ra. Vốn đầu tư do địa phương quản lý quý II/2026 ước đạt 2.075 tỷ đồng, tăng 29,3% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm, nguồn vốn này ước đạt 3.223 tỷ đồng, tăng 19,1% so với cùng kỳ. Nguồn vốn này tiếp tục tập trung cho các dự án trọng điểm như: đường Nguyễn Hoàng, đường Vành đai 3, Dự án Cải thiện môi trường nước thành phố Huế, các khu tái định cư và nghĩa trang phục vụ giải phóng mặt bằng tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam, cùng các dự án bảo tồn, tu bổ và phát huy giá trị Quần thể di tích Kinh thành Huế. Bên cạnh đó, UBND thành phố đang chỉ đạo quyết liệt tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ đối với một số dự án còn chậm như tuyến đường Tố Hữu đi sân bay Phú Bài, cầu Vỹ Dạ, cầu qua sông Như Ý và tuyến đường 100m thuộc Khu đô thị An Vân Dương. Đối với các công trình trường học tại khu vực A Lưới, thành phố đã huy động nhiều lực lượng hỗ trợ thi công nhằm bảo đảm hoàn thành trước năm học mới. Vốn ngoài nhà nước quý II/2026 ước đạt 6.296 tỷ đồng, bằng 23,7% kế hoạch năm, chiếm 64,8% tổng nguồn vốn và tăng 23,8% so với cùng kỳ. Tính chung 6 tháng đầu năm, nguồn vốn này ước đạt 11.604 tỷ đồng, bằng 43,7% kế hoạch năm, chiếm 66,8% tổng vốn đầu tư và tăng 16,8% so với cùng kỳ. Động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ việc triển khai nhiều dự án quy mô lớn trong và ngoài các khu kinh tế, khu công nghiệp như: bến tổng hợp - container số 4 và số 5 cảng Vsico Chân Mây; khu liên hợp sản xuất, lắp ráp Kim Long Motors Huế; nhà ở xã hội Chân Mây; nhà máy sản xuất kính hoa siêu trắng Đạt Phương; cùng nhiều dự án đô thị, nhà ở và thương mại như Khu đô thị phía đông đường Thủy Dương - Thuận An, tổ hợp nhà ở - thương mại - dịch vụ An Đông, Đào Tấn Diamond City, Eco Garden. Bên cạnh đó, hoạt động đầu tư trong dân tiếp tục duy trì tích cực, góp phần đưa vốn ngoài nhà nước chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài quý II/2026 ước đạt 809 tỷ đồng, chiếm 8,3% tổng nguồn vốn, đạt 18,6% kế hoạch năm, giảm 18,3% so với cùng kỳ năm. Tính chung 6 tháng đầu năm, nguồn vốn này ước đạt 1.570 tỷ đồng, giảm 18,3% so với cùng kỳ. Các dự án FDI chuyển tiếp tiếp tục thực hiện và hoàn thành đưa vào sử dụng như: nhà máy sản xuất mũ bảo hiểm EON Industry Việt Nam giai đoạn 2; nhà máy sản xuất Silicon Carbide độ tinh khiết cao của công ty Heyeu VN; nhà máy sản xuất cao su chịu lực của công ty Tayo Rubex VN; …Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn có 4 dự án FDI đăng ký mới với tổng số vốn đăng ký 125,6 triệu USD, đầu tư vào kết cấu hạ tầng công nghiệp; sản xuất linh kiện điện tử; tư vấn, thiết kế kiến trúc; dịch vụ. Nhìn chung, tình hình thực hiện vốn đầu tư trên địa bàn thành phố Huế trong sáu tháng đầu năm 2026 có nhiều chuyển biến tích cực. Thành phố tiếp tục ưu tiên nguồn lực cho các dự án hạ tầng giao thông trọng điểm, kết nối đô thị với sân bay, khu kinh tế và khu công nghiệp; đồng thời đầu tư hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật đô thị, hạ tầng khu kinh tế, khu công nghiệp và chỉnh trang không gian công cộng nhằm tạo động lực phát triển và thu hút đầu tư. 5.2. Hoạt động xây dựng Hoạt động xây dựng trên địa bàn thành phố Huế trong 6 tháng đầu năm 2026 duy trì đà tăng trưởng tích cực nhờ đầu tư công được đẩy mạnh, hạ tầng đô thị và du lịch tiếp tục được đầu tư, tạo nền tảng cho ngành xây dựng phát triển trong thời gian tới. Ngay từ đầu năm, thành phố đã điều chỉnh Chương trình phát triển đô thị loại II (đô thị xanh) và phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch thành phố Huế thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050, làm cơ sở triển khai các dự án hạ tầng, chỉnh trang đô thị và phát triển không gian phục vụ du lịch, hướng tới mục tiêu xây dựng Huế trở thành đô thị di sản, văn hóa, sinh thái và thông minh. Giá trị sản xuất ngành xây dựng quý II/2026 tiếp tục tăng khá so với cùng kỳ năm trước. Theo giá hiện hành, ước đạt 6.982 tỷ đồng, tăng 19,51%; theo giá so sánh năm 2020 đạt 5.149 tỷ đồng, tăng 7,52%. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, giá trị sản xuất ngành xây dựng theo giá hiện hành ước đạt 11.608 tỷ đồng, tăng 16,60%; theo giá so sánh năm 2020 đạt 8.803 tỷ đồng, tăng 7,35% so với cùng kỳ năm trước. Tăng trưởng của ngành chủ yếu được thúc đẩy bởi hai nhóm công trình là nhà ở và công trình kỹ thuật dân dụng. Đối với công trình nhà ở, nhiều dự án khu đô thị, nhà ở thương mại và nhà ở xã hội được đẩy nhanh tiến độ thi công, cùng với các dự án nhà máy sản xuấtvà công trình giáo dục, đã góp phần làm tăng giá trị sản xuất của ngành trong những tháng đầu năm. Đối với công trình kỹ thuật dân dụng, mức tăng trưởng chủ yếu đến từ việc triển khai và đẩy nhanh tiến độ các dự án hạ tầng trọng điểm, nhất là các công trình giao thông và khu công nghiệp quy mô lớn như giải phóng mặt bằng, tái định cư phục vụ đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam, mở rộng cao tốc Hòa Liên - La Sơn và La Sơn - Cam Lộ, đường Tố Hữu nối sân bay cùng nhiều dự án hạ tầng khác. Các dự án này có quy mô vốn lớn, khối lượng thi công cao, không chỉ tạo động lực tăng trưởng cho ngành xây dựng mà còn thúc đẩy các ngành vật liệu xây dựng, vận tải và lao động, đồng thời góp phần hoàn thiện kết cấu hạ tầng, tạo nền tảng cho phát triển kinh tế - xã hội trong dài hạn. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, ngành xây dựng vẫn chịu áp lực từ giá vật liệu xây dựng, chi phí nhân công và vận chuyển tăng, làm gia tăng chi phí đầu tư và ảnh hưởng đến tiến độ thi công của một số công trình. Vì vậy, mặc dù giá trị sản xuất theo giá hiện hành tăng cao nhưng tốc độ tăng trưởng theo giá so sánh năm 2020 chỉ đạt 7,35%, phản ánh chi phí đầu vào tăng đã làm giảm mức tăng trưởng thực của ngành. 6. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp Hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Huế sáu tháng đầu năm 2026 tiếp tục duy trì xu hướng tích cực. Tính đến thời điểm báo cáo, toàn thành phố có 600 doanh nghiệp thành lập mới với tổng vốn đăng ký đạt 9.109 tỷ đồng. Theo nhận định về xu hướng có 84,6% doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất, kinh doanh khả quan hơn và giữ ổn định so với quý trước và có 92,3% doanh nghiệp dự báo tình hình sản xuất, kinh doanh trong quý tiếp theo sẽ tốt hơn và tiếp tục duy trì ổn định so với quý II năm 2026. Tính đến thời điểm báo cáo, thành phố Huế có 600 DN thành lập mới với tổng số vốn đăng ký 317 tỷ đồng, tăng 75,0% so với cùng kỳ. Trong đó: Công ty cổ phần 37 DN; Công ty TNHH hai thành viên trở lên 172 DN; Công ty TNHH một thành viên 378; Doanh nghiệp tư nhân 13 DN; với số vốn đăng ký đạt 9.109 tỷ đồng. Số doanh nghiệp hoạt động trở lại 238 DN, số doanh nghiệp đã giải thể 164 DN, số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động 599 DN. Đánh giá tổng quan về tình hình SXKD, có 84,6% số DN đánh giá SXKD quý II/2026 của họ khả quan hơn và giữ ổn định so với quý I/2026 (trong đó 38,5% đánh giá thuận lợi và 46,1% đánh giá không thay đổi); 15,4% số DN đánh giá là khó khăn hơn. Các DN nhận định SXKD của quý III/2026 tốt hơn và giữ ổn định so với quý II/2026 chiếm 92,3% (trong đó 50,8% dự báo tốt lên và 41,5% dự báo giữ ổn định), có 7,7% số DN dự báo khó khăn hơn.          Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong quý II/2026, có 66,2% cho rằng tính cạnh tranh của hàng trong nước cao đã ảnh hưởng đến hoạt động sxkd của DN. Tiếp theo đó là các yếu tố: Nhu cầu thị trường trong nước thấp (58,5%), nhu cầu thị trường quốc tế thấp (55,4%), thiếu nguyên, nhiên, vật liệu (46,2%), thiết bị công nghệ lạc hậu (32,3%), tính cạnh tranh của hàng nhập khẩu cao và Không tuyển dụng được lao động theo yêu cầu (30,8%), lãi suất vay vốn cao (24,6%), khó khăn về tài chính (23,1%), lý do khác (15,4%), chính sách pháp luật của Nhà nước (13,9%), ... 7. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Trong sáu tháng đầu năm 2026, sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn thành phố Huế tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ổn định. Mặc dù chịu ảnh hưởng cục bộ của nắng nóng và xâm nhập mặn tại một số khu vực, nhưng nhìn chung điều kiện sản xuất cơ bản thuận lợi, dịch bệnh trên cây trồng và vật nuôi được kiểm soát tốt. Các địa phương chủ động triển khai giải pháp ứng phó thời tiết cực đoan, đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp điều kiện từng vùng, góp phần bảo đảm tiến độ sản xuất. Trong đó, trồng trọt đạt kết quả tích cực, lúa vụ Đông Xuân được mùa, vụ Hè Thu gieo cấy đúng khung thời vụ, năng suất và sản lượng nhiều loại cây trồng tăng so với cùng kỳ; chăn nuôi phục hồi nhờ giá bán sản phẩm duy trì ở mức thuận lợi, tạo điều kiện tái đàn; lâm nghiệp tăng khá do nhu cầu gỗ nguyên liệu tiếp tục gia tăng; thủy sản duy trì hoạt động ổn định. 7.1. Nông nghiệp * Cây hằng năm Tính đến ngày 20/6/2026, diện tích gieo cấy lúa vụ Hè Thu đạt 25.008 ha, giảm 1,0% so với cùng kỳ. Trong vụ này, nắng nóng cục bộ xảy ra trong tháng đã ảnh hưởng đến tiến độ gieo trồng một số loại cây, nhiều khu vực thiếu nước phải chuyển đổi sang cây trồng phù hợp hơn. Diện tích gieo trồng một số cây trồng hằng năm như sau: ngô đạt 1.004 ha, tăng 10,6%; khoai lang 438 ha, tăng 12,3%; lạc 1.775 ha, giảm 13,3%; rau các loại 3.153 ha, tăng 0,4%; đậu các loại 517 ha, tăng 0,8% so với cùng kỳ. Vụ Đông Xuân năm 2026 diễn ra trong điều kiện thời tiết khá thuận lợi, không xảy ra rét đậm, rét hại và không có mưa trái mùa. Diện tích gieo trồng cây lúa thành phố đạt 27.587 ha, giảm 1,1% so với vụ Đông Xuân năm 2025. Cơ cấu giống lúa vụ Đông Xuân tập trung giống ngắn ngày và cực ngắn chiếm 97%, giống dài và trung ngày (4B, Nếp,…) chiếm 3%. Các giống lúa thuộc nhóm chất lượng cao như HT1, HN6, J02, HG12, HG244,... có diện tích khoảng 15.994 ha. Tỷ lệ giống xác nhận trên 94%. Nhờ thời tiết thuận lợi cùng việc đẩy mạnh ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, công tác phòng trừ sâu bệnh được thực hiện hiệu quả, năng suất lúa vụ Đông Xuân năm 2026 tăng khá so với cùng kỳ. Năng suất lúa ước đạt 67,0 tạ/ha, tăng 4,7 tạ/ha, tương ứng tăng 7,6% so với vụ Đông Xuân năm 2025; sản lượng ước đạt 184.916 tấn, tăng 6,3%.         Năng suất và sản lượng hầu hết cây trồng hằng năm vụ Đông Xuân 2026 tăng so với cùng kỳ. Cụ thể, năng suất ngô đạt 44,9 tạ/ha, tăng 2,5%; khoai lang đạt 64,1 tạ/ha, tăng 6,5%; lạc đạt 26,0 tạ/ha, tăng 3,6%; rau các loại đạt 129,9 tạ/ha, tăng 2,9%. Về sản lượng, ngô đạt 4.134,4 tấn, tăng 6,0%; khoai lang 2.181 tấn, tăng 7,0%; sắn 21.820 tấn, tăng 4.162,3 tấn, tăng 23,6%. Ở chiều ngược lại, sản lượng một số cây giảm, gồm lạc đạt 4.195,9 tấn, giảm 12,6%; rau các loại 23.750,1 tấn, giảm 0,1% so với cùng kỳ. Nhìn chung, các loại cây trồng được gieo trồng, chăm sóc đúng khung thời vụ, sinh trưởng tốt; năng suất và sản lượng nhiều loại cây trồng đạt khá. Thị trường tiêu thụ nông sản tương đối ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất. * Cây lâu năm Ước tính đến ngày 30/6/2026, diện tích cây lâu năm trên địa bàn thành phố đạt 9.288 ha, giảm 120,4 ha, tương ứng giảm 1,3% so với cùng kỳ. Mặ dù tổng diện tích giảm nhưng cơ cấu cây lâu năm tiếp tục chuyển dịch theo hướng nâng cao hiệu quả kinh tế. Một số loại cây ăn quả có giá trị kinh tế cao vẫn duy trì xu hướng tăng, như chuối đạt 839 ha, tăng 1,2%; cam đạt 374 ha, tăng 0,9%; bưởi, thanh trà đạt 1.508 ha, tăng 1,0% so với cùng kỳ. Riêng, diện tích cây cao su giảm 3,2%, còn 4.755 ha, giảm tập trung chủ yếu tại các xã A Lưới 4 giảm 21 ha, A Lưới 5 giảm 35 ha và Bình Điền giảm 78 ha. Trong sáu tháng đầu năm 2026, sản lượng thu hoạch cây lâu năm tăng so với cùng kỳ nhờ điều kiện thời tiết thuận lợi và công tác chăm sóc được duy trì tốt. Sản lượng chuối ước đạt 8.628 tấn, tăng 1,8%; cam đạt 947 tấn, tăng 1,4%; bưởi, thanh trà đạt 3.545 tấn, tăng 1,9%. Trong khi đó, sản lượng mủ cao su đạt 2.105 tấn, giảm 3,0% do diện tích khai thác thu hẹp và năng suất vườn cây giảm. Cơ cấu diện tích cây lâu năm tiếp tục chuyển dịch theo hướng giảm diện tích các loại cây hiệu quả thấp, mở rộng các loại cây ăn quả có giá trị kinh tế và thị trường tiêu thụ thuận lợi, góp phần nâng cao giá trị sản xuất ngành trồng trọt. * Chăn nuôi Trong sáu tháng đầu năm 2026, hoạt động chăn nuôi trên địa bàn thành phố Huế tiếp tục phát triển ổn định; dịch bệnh trên đàn vật nuôi được kiểm soát tốt, công tác tiêm phòng, tiêu độc khử trùng và kiểm soát giết mổ được triển khai đồng bộ, góp phần bảo đảm an toàn dịch bệnh và duy trì tăng trưởng của ngành chăn nuôi. Ước tính đến ngày 30/6/2026, đàn trâu đạt 15.023 con, tăng 0,8% so với cùng kỳ; đàn bò đạt 31.030 con, tăng 5,3%; đàn lợn (không bao gồm lợn con chưa tách mẹ) đạt 129.613 con, giảm 0,8%; đàn gia cầm đạt 5.077 nghìn con, tăng 1,2%. Quy mô đàn vật nuôi trên địa bàn được duy trì ổn định. Đàn bò tăng khá nhờ hiệu quả kinh tế từ chăn nuôi bò thịt và việc mở rộng quy mô sản xuất của một số doanh nghiệp; đàn gia cầm tiếp tục tăng nhờ thị trường tiêu thụ thuận lợi. Riêng đàn lợn giảm nhẹ so với cùng kỳ, nhưng với giá lợn hơi duy trì ở mức cao, tạo điều kiện cho các cơ sở chăn nuôi tái đàn và mở rộng sản xuất trong thời gian đến, góp phần bảo đảm nguồn cung thực phẩm cho thị trường trong những tháng cuối năm. Sản lượng thịt gia súc, gia cầm xuất chuồng trong sáu tháng đầu năm 2026 trên địa bàn đạt mức tăng trưởng khá nhờ hoạt động chăn nuôi ổn định, giá bán sản phẩm thuận lợi và nhu cầu tiêu dùng thực phẩm tăng. Sản lượng thịt trâu hơi ước đạt 476 tấn, tăng 1,3% so với cùng kỳ; thịt bò 673 tấn, tăng 4,3% so với cùng kỳ; thịt lợn 9.828 tấn, tăng 4,1%; thịt gia cầm 9.474 tấn, tăng 3,7%, trong đó thịt gà 5.776 tấn, tăng 4,4%; thịt vịt đạt 3.208 tấn, tăng 3,0% so với cùng kỳ. Công tác phòng chống dịch bệnh cho đàn vật nuôi: tính đến 20/6/2026, thành phố đã tiêm được 20.284 liều vắc xin Tụ huyết trùng trâu bò (63% kế hoạch), 24.728 liều vắc xin tam liên lợn (96%), 5.800 liều E.coli (96%), 450.000 liều cúm gia cầm (90%), 363.800 liều dịch tả vịt (76%), 627.595 liều vắc-xin gia cầm, 50.750 liều LMLM (82%). 7.2. Lâm nghiệp Tình hình sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn thành phố Huế sáu tháng đầu năm 2026 cơ bản ổn định. Công tác quản lý, bảo vệ rừng được tăng cường, góp phần nâng cao độ che phủ rừng, bảo vệ môi trường sinh thái và bảo đảm nguồn nguyên liệu cho chế biến lâm sản. Diện tích rừng trồng mới tập trung trong tháng ước đạt 652 ha, tăng 1,2% so với cùng kỳ. Lũy kế 6 tháng đầu năm trồng được 4.427 ha, tăng 68 ha, tương ứng tăng 1,6%, chủ yếu là rừng sản xuất (chiếm 98,6%) với các loại cây trồng chính như keo, tràm. Phần lớn diện tích được trồng gối sau khai thác; đồng thời tiếp tục thực hiện chuyển đổi từ rừng gỗ nhỏ sang rừng gỗ lớn nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế rừng trồng. Sản lượng gỗ khai thác: ước thực hiện trong tháng sản lượng gỗ khai thác đạt 98,9 nghìn m3, tăng 6,6 nghìn m3, tương ứng tăng 7,2% so với cùng kỳ. Luỹ kế 6 tháng đầu năm sản lượng khai thác gỗ đạt 436,9 nghìn m3, tăng 30,9 nghìn m3, tương ứng tăng 7,6%, là yếu tố chính đóng góp vào tăng trưởng ngành lâm nghiệp. Sản lượng tăng do nhu cầu nguyên liệu cho chế biến dăm gỗ, viên nén và bột giấy duy trì ở mức cao, thị trường tiêu thụ và giá thu mua ổn định. Trong tháng 6 không ghi nhận vụ cháy rừng. Có 7 vụ phá rừng xảy ra với diện tích thiệt hại 0,62 ha, đều là rừng tự nhiên; nguyên nhân chủ yếu do người dân chuyển đổi đất rừng sang sản xuất. Tính chung 6 tháng đầu năm, toàn thành phố xảy ra 35 vụ phá rừng, diện tích thiệt hại 4,4 ha, tăng 21 vụ và tăng 2,8 ha so với cùng kỳ. Diễn biến phá rừng vẫn còn phức tạp tại một số địa phương, đòi hỏi tiếp tục tăng cường các biện pháp quản lý, bảo vệ rừng trong thời gian tới. 7.3. Thủy sản Hoạt động thủy sản trên địa bàn thành phố Huế tháng 6 năm 2026 duy trì ổn định, không xảy ra dịch bệnh và thiệt hại lớn.Ước tính tổng sản lượng thủy sản trong tháng đạt 10.133 tấn, tăng 4,0% so với cùng kỳ. Lũy kế tổng sản lượng thủy sản 6 tháng đầu năm ước đạt 35.003 tấn, tăng 4,2% so với cùng kỳ, trong đó: sản lượng thủy sản khai thác đạt 25.744 tấn, tăng 4,2%; sản lượng nuôi trồng thủy sản đạt 9.259 tấn, tăng 4,3%. Nuôi trồng thủy sản: hoạt động nuôi trồng được kiểm soát chặt chẽ, công tác phòng, chống dịch bệnh được triển khai hiệu quả, không để xảy ra dịch bệnh lớn. Diện tích nuôi thâm canh tôm sú và tôm thẻ chân trắng trong tháng ước đạt 52 ha, tăng 3,0% so với cùng kỳ. Lũy kế 6 tháng đầu năm ước đạt 482 ha, tăng 1,7%. Sản lượng nuôi trồng thủy sản trong tháng ước đạt 3.913 tấn, tăng 3,8% so với cùng kỳ. Lũy kế 6 tháng đầu năm ước đạt 9.259 tấn, tăng 4,3%, trong đó cá 5.655 tấn, tăng 4,0%; tôm 3.167 tấn, tăng 4,9%; thủy sản khác 437 tấn, tăng 3,6% so với cùng kỳ. Khai thác thủy sản: hoạt động khai thác diễn ra trong điều kiện thời tiết thuận lợi, tập trung chủ yếu ở khai thác biển. Hiện nay, sản lượng thủy sản biển dồi dào, ngư dân tích cực vươn khơi khai thác các loài chủ yếu như cá ngừ, cá thu, cá nục, cá trích, cá hố… Tổng số tàu thuyền khai thác biển có động cơ và tàu dịch vụ hậu cần tại thời điểm 01/6/2026 là 2.197 chiếc, giảm 2,0% so với cùng kỳ, trong đó tàu có công suất từ 90CV trở lên đạt 430 chiếc, chiếm 19,6%. Nhiều tàu cá đã được đầu tư nâng cấp trang thiết bị, ngư cụ nhằm nâng cao hiệu quả khai thác và phát triển nghề cá bền vững. Sản lượng thủy sản khai thác trong tháng đạt 6.220 tấn, tăng 4,2% so với cùng kỳ; trong đó sản lượng khai thác biển trong tháng ước đạt 5.654 tấn, tăng 4,4%. Lũy kế 6 tháng đầu năm sản lượng thủy sản khai thác ước đạt 25.744 tấn, tăng 4,2% so với cùng kỳ; trong đó khai thác biển đạt 23.849 tấn, tăng 4,3%, gồm cá 20.950 tấn, tăng 4,4%; tôm 556 tấn, tăng 4,1%; thủy sản khác 2.343 tấn, tăng 3,9%. Trong kỳ, không ghi nhận trường hợp tàu cá vi phạm quy định khai thác bất hợp pháp (IUU), cho thấy hiệu quả công tác quản lý nghề cá và ý thức chấp hành của ngư dân tiếp tục được nâng cao. 8. Sản xuất công nghiệp Trong sáu tháng đầu năm 2026, hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn thành phố Huế chịu tác động của việc chi phí năng lượng tăng cao, làm gia tăng chi phí đầu vào và tạo áp lực đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp. Tuy nhiên, với sự phục hồi và tăng trưởng tích cực của một số ngành công nghiệp chủ lực như sản xuất ô tô, bia và sợi, ngành công nghiệp của thành phố vẫn duy trì được đà tăng trưởng khá. Bên cạnh đó, năng lực sản xuất tiếp tục được mở rộng khi một số dự án mới đi vào hoạt động, tiêu biểu như Nhà máy sản xuất mũ bảo hiểm Eon Industry Việt Nam, dự án sản xuất thạch anh bán dẫn của Công ty TNHH America Quartz Technology và dự án mở rộng Nhà máy sản xuất đồ chơi Billionmax Việt Nam. Các dự án này đã góp phần nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp, tạo thêm việc làm và thúc đẩy tăng trưởng của toàn ngành. Ước tính chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 6 năm 2026 tăng 10,3% so với tháng cùng kỳ; tính chung 6 tháng đầu năm 2026, chỉ số IIP tăng 10,2% so với cùng kỳ. Chỉ số IIP tháng 6 năm 2026 tăng 10,3% so với cùng kỳ, trong đó: ngành công nghiệp khai khoáng giảm 7,3%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 17,1%; sản xuất và phân phối điện giảm 7,0%; cấp nước và thu gom rác thải tăng 3,8%. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026 chỉ số IIP tăng 10,2% so với cùng kỳ, trong đó: ngành công nghiệp khai khoáng tăng 9,3%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13,4%; cấp nước và thu gom rác thải tăng 6,8%. Riêng sản xuất và phân phối điện giảm 13,2%. Các ngành công nghiệp cấp 4 trong sáu tháng đầu năm 2026 có chỉ số sản xuất tăng so với cùng kỳ: khai thác quặng kim loại (+12,0%); sản xuất đồ uống có cồn (+22,6%); sản xuất sợi (+9,3%); may trang phục (+5,1%); Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (+10,3%); sản xuất sản phẩm khác từ cao su (+16,3%); sản xuất sản phẩm từ plastic (+119,4%); sản xuất xi măng, vôi, thạch cao (+8,8%); sản xuất ô tô (+25,4%); sản xuất linh kiện điện tử (+4,9 lần); sản xuất đồ chơi (+29,3%); sản xuất khác chưa được phân vào đâu (+7,3 lần)...          Bên cạnh những dấu hiệu tích cực, hiện nay một số ngành sản xuất công nghiệp vẫn đang gặp không ít khó khăn, dự ước các ngành công nghiệp cấp 4 trong sáu tháng đầu năm 2026 có chỉ số sản xuất giảm so với cùng kỳ như: sản xuất vật liệu xây dựng từ đất sét (-9,1%); sản xuất giường, tủ, bàn ghế gỗ (-11,6%); sản xuất, truyền tải và phân phối điện (-13,2%)...         Các sản phẩm công nghiệp ước sáu tháng đầu năm 2026 tăng so với cùng kỳ: quặng inmenit và tinh quặng inmenit 11,8 nghìn tấn (+12,0%); đồ uống có cồn 172,2 triệu lít (+18,4%); sợi 64,6 nghìn tấn (+14,5%); quần áo lót cho người lớn không dệt kim hoặc đan móc 186,4 triệu cái (+5,1%); vỏ bào, dăm gỗ 464,4 nghìn tấn (+19,5%); găng tay, găng hở ngón và găng bao tay bằng cao su lưu hoá 8,3 nghìn tấn (+17,1%); hàng may mặc và đồ phụ trợ may mặc bằng plastic 8,5 nghìn tấn (+47,3%); ô tô 2.599 chiếc (+23,0%)... Các sản phẩm công nghiệp sáu tháng đầu năm 2026 giảm so với cùng kỳ: cát trắng chế biến 36,8 triệu m3 (-11,1%); giấy và bìa nhăn 2.551 tấn (-12,6%); tấm lát đường và vật liệu lát, gạch ốp tường 4.675 nghìn m2 (-23,3%); đôlômít đã nung hoặc nung kết, hỗn hợp đôlômít dạng nén 107,6 nghìn tấn (-6,2%); các sản phẩm bằng đá hoặc bằng các chất liệu khoáng khác chưa được phân vào đâu 19,3 nghìn tấn (-48,3%); điện sản xuất 857 triệu Kwh (-20,9%)… 9. Thương mại, dịch vụ Trong sáu tháng đầu năm 2026, hoạt động thương mại, dịch vụ trên địa bàn thành phố Huế duy trì đà tăng trưởng khá, nhờ nhu cầu tiêu dùng dân cư tăng, cùng sự phát triển mạnh của ngành du lịch và tác động lan tỏa từ chuỗi sự kiện văn hóa, lễ hội diễn ra liên tục trong nửa đầu năm. Nổi bật là các hoạt động thuộc khuôn khổ Festival Huế 2026 như tuần lễ Festival nghệ thuật quốc tế Huế, hội chợ Festival Huế 2026, ngày hội Sen Huế, Festival mùa Hạ, cùng các sự kiện văn hóa - du lịch đặc sắc như Tuần lễ Phật đản, lễ hội Ẩm thực chay, ngày hội làng Dương Nỗ, chương trình quảng bá “Lăng Cô - Vịnh đẹp thế giới”, ngày hội văn hóa, thể thao và du lịch các dân tộc miền núi. Bên cạnh đó, các kỳ nghỉ lễ kéo dài như Tết Nguyên đán, giỗ tổ Hùng Vương và lễ 30/4 - 01/5 đã thu hút lượng lớn du khách trong và ngoài nước đến tham quan, nghỉ dưỡng và mua sắm, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng thương mại, lưu trú, ăn uống, lữ hành và vận tải trên địa bàn thành phố. 9.1. Bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng sáu tháng đầu năm 2026 duy trì mức tăng trưởng khá, phản ánh sức mua trên thị trường được cải thiện và sự phát triển tích cực của các hoạt động dịch vụ. Đặc biệt, nhóm dịch vụ lưu trú, ăn uống và lữ hành đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn mức tăng chung, cho thấy du lịch tiếp tục là động lực quan trọng thúc đẩy khu vực thương mại, dịch vụ của thành phố. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 6/2026 ước đạt 6.603 tỷ đồng, tăng 4,0% so với tháng trước và tăng 19,8% so với cùng kỳ. Chia theo ngành kinh tế: Doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 4.512 tỷ đồng, chiếm 68,3% tổng số, tăng 1,5% so với tháng trước và tăng 14,8% so với cùng kỳ, nguyên nhân tăng so với tháng trước là do giá bán lẻ xăng dầu được điều chỉnh tăng và nhu cầu đi lại của người dân, du khách tăng trong mùa hè; thời tiết thuận lợi cho hoạt động xây dựng dân sinh và sửa chữa nhà ở; nhu cầu mua sắm phục vụ du lịch và mùa hè; các cơ sở kinh doanh vật phẩm giáo dục chuẩn bị nguồn hàng cho năm học mới. Doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống tháng 6/2026 ước đạt 1.590 tỷ đồng, chiếm 24,1%, tăng 11,9% so với tháng trước và tăng 35,9% so với cùng kỳ. Doanh thu dịch vụ lữ hành ước đạt 42 tỷ đồng, chiếm 0,6%, tăng 16,7% và tăng 35,4%. Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 459 tỷ đồng, chiếm 7,0%, tăng 3,4% và tăng 20,5%. Dự ước tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng quý II/2026 đạt 18.289 tỷ đồng, tăng 18,1% so với cùng kỳ, trong đó, doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 13.068 tỷ đồng, tăng 15,4%; dịch vụ lưu trú và ăn uống đạt 3.732 tỷ đồng, tăng 23,6%; du lịch lữ hành 109 tỷ đồng, tăng 18,0%; dịch vụ khác đạt 1.379 tỷ đồng, tăng 30,6%. Đưa tổng mức bán lẻ hàng hóa doanh thu dịch vụ tiêu dùng 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 37.456 tỷ đồng, tăng 17,9% so với cùng kỳ. Trong đó: doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 26.425 tỷ đồng, chiếm 70,5% tổng số và tăng 15,1%; dịch vụ lưu trú và ăn uống 8.082 tỷ đồng, chiếm 21,6% và tăng 26,5%; du lịch lữ hành 218 tỷ đồng, chiếm 0,6% và tăng 21,0%; dịch vụ khác 2.731 tỷ đồng, chiếm 7,3% và tăng 22,6%. 9.2. Vận tải hành khách và hàng hóa Trong sáu tháng đầu năm 2026, các hoạt động văn hóa, du lịch, lễ hội diễn ra sôi động cùng với sự gia tăng lượng khách du lịch đến Huế đã tác động tích cực đến hoạt động vận tải hành khách. Đồng thời, nhiều dự án đầu tư xây dựng được triển khai trên địa bàn đã làm gia tăng nhu cầu vận chuyển nguyên vật liệu, thiết bị phục vụ thi công, góp phần thúc đẩy vận tải hàng hóa tăng trưởng khá. Dự ước hành khách vận chuyển tháng 6/2026 đạt 4,5 triệu hành khách, tăng 3,5% so với tháng trước và tăng 23,0% so với cùng kỳ; hành khách luân chuyển đạt 222,9 triệu hành khách.km, tăng 3,3% so với tháng trước và tăng 23,8% so với cùng kỳ. Dự ước vận tải hành khách quý II/2026 đạt 13,2 triệu hành khách, tăng 20,5% so với cùng kỳ và 531,8 triệu hành khách.km, tăng 21,6%. Đưa vận tải hành khách 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 25,5 triệu hành khách, tăng 20,9% so với cùng kỳ và luân chuyển ước đạt 1.250,9 triệu hành khách.km, tăng 21,4%. Dự ước hàng hóa vận chuyển tháng 6/2026 ước đạt 2,4 triệu tấn, tăng 2,0% so với tháng trước và tăng 13,8% so với cùng kỳ; hàng hóa luân chuyển đạt 202,5 triệu tấn.km, tăng 2,2% so với tháng trước và tăng 13,3% so với cùng kỳ. Dự ước vận tải hàng hóa quý II/2026 đạt 7,2 triệu tấn, tăng 14,3% và 595,5 triệu tấn.km, tăng 13,8% so với cùng kỳ. Đưa hàng hóa vận chuyển 6 tháng năm 2026 ước đạt 14,2 triệu tấn, tăng 15,1% và luân chuyển hàng hóa đạt 1.176,4 triệu tấn.km, tăng 14,6% so với cùng kỳ. Dự ước doanh thu vận tải và bốc xếp tháng 6 năm 2026 đạt 626,7 tỷ đồng, tăng 2,5% so với tháng trước và tăng 19,8% so với cùng kỳ. Doanh thu vận tải, bốc xếp quý II/2026 ước đạt 1.834,7 tỷ đồng, tăng 19,2% so với cùng kỳ. Đưa doanh thu vận tải, bốc xếp 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 3.588,3 tỷ đồng, tăng 19,7% so với cùng kỳ. Chia theo loại hình dịch vụ: doanh thu vận tải hành khách ước đạt 798,5 tỷ đồng, tăng 23,4%; vận tải hàng hóa ước đạt 2.437,1 tỷ đồng, tăng 16,3%; dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 352,7 tỷ đồng, tăng 38,2%. Trong đó doanh thu vận tải bao gồm: đường bộ đạt 3.232,2 tỷ đồng, tăng 18,0%; đường sông đạt 3,4 tỷ đồng, tăng 25,0%. 9.3. Lượt khách các cơ sở lưu trú phục vụ và du lịch lữ hành Hoạt động du lịch trên địa bàn thành phố trong sáu tháng đầu năm 2026 diễn ra khá sôi động nhờ hiệu ứng tích cực từ các kỳ nghỉ lễ, Festival bốn mùa và nhiều chương trình kích cầu du lịch được tổ chức đồng bộ. Các cơ sở lưu trú, lữ hành và dịch vụ du lịch tiếp tục nâng cao chất lượng phục vụ, đa dạng hóa sản phẩm du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của du khách. Dự ước lượt khách do cơ sở lưu trú phục vụ tháng 6/2026 đạt 267,7 nghìn lượt khách, tăng 4,6% so với tháng trước và tăng 25,1% so với cùng kỳ. Trong đó, lượt khách ngủ qua đêm tháng 6/2026 ước đạt 223 nghìn lượt khách, tăng 3,4% so với tháng trước và tăng 27,5% so với cùng kỳ; lượt khách trong ngày đạt 44,7 nghìn lượt khách, tăng 11,2% và tăng 14,4%. Lượt khách lưu trú quý II/2026 đạt 784,6 nghìn lượt khách, tăng 22,2%; lượt khách qua đêm quý II/2026 đạt 660,5 nghìn lượt khách, tăng 24,3%; lượt khách trong ngày đạt 124,1 nghìn lượt khách, tăng 11,9%. Đưa lượt khách do các cơ sở lưu trú phục vụ sáu tháng đầu năm 2026 đạt 1.512,1 nghìn lượt, tăng 21,1% so với cùng kỳ. Trong đó, lượt khách ngủ qua đêm sáu tháng đầu năm đạt 1.275,4 nghìn lượt, tăng 23,4% so cùng kỳ. Trong lượt khách ngủ qua đêm, khách quốc tế 457,8 nghìn lượt, tăng 19,4%; khách trong nước 817,6 nghìn lượt, tăng 25,8% so với cùng kỳ. Lượt khách trong ngày sáu tháng đầu năm 2026 đạt 236,7 nghìn lượt, tăng 10,1% so với cùng kỳ. Ngày khách dự ước tháng 6/2026 đạt 386,3 nghìn ngày, tăng 3,8% so với tháng trước và tăng 31,9% so với cùng kỳ. Trong đó: Ngày khách quốc tế đạt 79,8 nghìn ngày, giảm 16,8% so với tháng trước và tăng 18,6% so với cùng kỳ; ngày khách trong nước đạt 306,5 nghìn ngày, tăng 11,0% so với tháng trước và tăng 35,8% so với cùng kỳ. Ngày khách dự ước quý II đạt 1.097,4 nghìn ngày, tăng 23,5%; chia ra: ngày khách quốc tế quý II/2026 ước đạt 301,3 nghìn ngày, tăng 11,7%; ngày khách trong nước quý II đạt 796,1 nghìn ngày, tăng 28,6%. Đưa ngày khách dự ước sáu tháng đầu năm đạt 2.164,7 nghìn ngày, tăng 25,1% so với cùng kỳ. Trong đó: Ngày khách quốc tế đạt 808,5 nghìn ngày, tăng 20,6%; ngày khách trong nước đạt 1.356,2 nghìn ngày, tăng 28,1%.Lượt khách phục vụ của các cơ sở lữ hành thực hiện tháng 6/2026 ước đạt 22,4 nghìn lượt, tăng 9,8% với tháng trước và tăng 31,8% so với cùng kỳ; lượt khách lữ hành quý II ước đạt 64,6 nghìn lượt, tăng 24,7%; đưa lượt khách sáu tháng đầu năm ước đạt 127,7 nghìn lượt, tăng 21,4% so với cùng kỳ. Ngày khách theo tour ước thực hiện tháng 6/2026 là 51,3 nghìn ngày, tăng 7,1% so với tháng trước và tăng 31,8% so với cùng kỳ; ngày khách theo tour quý II/2026 ước đạt 149,5 nghìn ngày, tăng 30,3%; đưa ngày khách theo tour sáu tháng đầu năm ước đạt 279,7 nghìn ngày khách, tăng 24,4% so với cùng kỳ.10. Các vấn đề xã hội10.1. Lao động việc làm Trong sáu tháng đầu năm 2026, thành phố đã giải quyết việc làm cho 10.985 lao động (đạt 61,03% Kế hoạch), trong đó đưa 1.320 người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (đạt 55% kế hoạch). Bên cạnh đó, sự khởi sắc của các hoạt động dịch vụ và du lịch, đã thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước, góp phần gia tăng nhu cầu lao động trong các ngành dịch vụ, lưu trú, ăn uống và vận tải, qua đó tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động và thúc đẩy phát triển thị trường lao động trên địa bàn.10.2. Đời sống dân cưTrong sáu tháng đầu năm 2026, tình hình kinh tế xã hội trên địa bàn thành phố tiếp tục duy trì đà tăng trưởng và phát triển tích cực, tạo nền tảng thuận lợi cho việc nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân. Sự phát triển của các ngành kinh tế đã góp phần tạo thêm việc làm, nâng cao thu nhập và cải thiện điều kiện sống của người dân. Bên cạnh đó, các chính sách an sinh xã hội và hỗ trợ giải quyết việc làm được triển khai kịp thời, đầy đủ và đúng đối tượng. Tổng hợp kết quả khảo sát mức sống dân cư 6 tháng năm 2026, thu nhập bình quân đầu người của toàn thành phố tăng 11,2% so với cùng kỳ. 10.3. Chính sách xã hội Chính sách người có công: Công tác chăm lo người có công với cách mạng tiếp tục được thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng đối tượng và đúng quy định. Sáu tháng đầu năm 2026, toàn thành phố chi trả trợ cấp hàng tháng và hỗ trợ đột xuất với tổng số tiền 252,1 tỷ đồng. Trong đó, dịp tết Nguyên đán đã trao tặng 60.231 suất quà, tổng kinh phí 17,7 tỷ đồng. Chương trình “Hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát cho con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học” trên địa bàn thành phố được triển khai hiệu quả. Thành phố đã phê duyệt danh sách 83 hộ cần hỗ trợ, với tổng kinh phí 3,7 tỷ đồng; trong đó có 40 hộ xây mới và 43 hộ sửa chữa nhà ở. Đây là hoạt động có ý nghĩa nhân văn sâu sắc, thể hiện trách nhiệm, tình cảm và đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa”.Bảo trợ xã hội: Các chính sách đối với những đối tượng bảo trợ xã hội trên địa bàn thành phố tiếp tục được triển khai và thực hiện có hiệu quả. Hỗ trợ cho các đối tượng bảo trợ xã hội theo Nghị định 20/2021/NĐ-CP trong 6 tháng đầu năm, thành phố đã chi trả với tổng số tiền là 338,4 tỷ đồng. Việc chi trả được thực hiện kịp thời, đầy đủ, đúng đối tượng, đảm bảo mức hỗ trợ theo quy định, góp phần ổn định và nâng cao đời sống người dân. Đến nay trên địa bàn thành phố có 79.631 đối tượng bảo trợ xã hội đang hưởng trợ cấp xã hội, trợ cấp hưu trí xã hội tại cộng đồng, với tổng kinh phí chi trả 52,1 tỷ đồng/tháng.Công tác giảm nghèo: thành phố triển khai nhiều chính sách hỗ trợ đối với hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn và các hộ chính sách xã hội khác không trùng với các đối tượng tại Nghị định 20/2021/NĐ-CP. Các chính sách tập trung vào những lĩnh vực thiết yếu như hỗ trợ giáo dục, tín dụng ưu đãi, đào tạo nghề, giải quyết việc làm, phát triển sản xuất, hỗ trợ về nhà ở. Sáu tháng đầu năm đã hỗ trợ 20,7 tỷ đồng, giảm 16,5% so với cùng kỳ năm 2025; qua đó khẳng định nỗ lực của thành phố trong việc duy trì chính sách giảm nghèo bền vững và bảo đảm mọi đối tượng khó khăn đều được quan tâm, hỗ trợ kịp thời.10.4. Giáo dục và đào tạoNăm học 2025-2026, thành phố có 566 trường mầm non và phổ thông (trường Mầm non: 206; trường Tiểu học: 191; trường THCS: 129 (trong đó TH&THCS: 19, trường THCS: 110); trường THPT: 40 (trong đó trường THCS&THPT:2; trường TH&THCS&THPT: 2); có 4 trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên khu vực 1, 2, 3, 4 và 1 trung tâm Giáo dục thường xuyên thành phố. Hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học được quan tâm đầu tư. Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia đạt 78,48%, trong đó: cấp MN 70,5%, cấp TH 89,5%, cấp THCS 82,2% và cấp THPT 55%.Năm học 2025-2026, thành phố Huế tiếp tục khẳng định vị thế là địa phương có chất lượng giáo dục mũi nhọn hàng đầu cả nước. Tại Kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia THPT, có 90/108 học sinh đạt giải, đạt tỷ lệ 83,3% (tỷ lệ chung toàn quốc 59%), tăng 4,6% so với năm học 2024–2025 (78,7%). Kết quả gồm 04 giải Nhất, 20 giải Nhì, 34 giải Ba và 32 giải Khuyến khích; 100% môn thi có học sinh đạt giải. Trường THPT Chuyên Khoa học Huế có 37 học sinh dự thi, trong đó có 04 học sinh đạt giải. Có 05 học sinh được lựa chọn vào vòng 2 để tiếp tục bồi dưỡng, tuyển chọn tham gia các đội tuyển dự thi Olympic quốc tế, gồm: Tin học (01), Vật lí (02), Sinh học (01), Hóa học (01). Trong đó có 01 em được chọn tham gia Kỳ thi Olympic Tin học Châu Á – Thái Bình Dương. Có 01 học sinh đạt giải Nhì cuộc thi Quý chương trình Đường lên đỉnh Olympia năm thứ 26 (học sinh Trường THPT Nguyễn Huệ).Chiều ngày 12/6, diễn ra Vòng Bán kết cuộc thi “Giải pháp đổi mới sáng tạo Đại học Huế lần thứ 2, năm 2026”. Quy tụ 20 đội thi tiêu biểu được tuyển chọn từ cấp cơ sở, đại diện cho tinh thần đổi mới sáng tạo của đội ngũ viên chức, người lao động, sinh viên toàn Đại học Huế. Nhiều dự án được đánh giá cao nhờ tính sáng tạo, khả năng ứng dụng thực tiễn, tiềm năng phát triển và tác động tích cực đối với cộng đồng. 10.5. Tình hình y tế, dịch bệnh Sở Y tế đã ban hành Kế hoạch 1249/KH-SYT ngày 16/03/2026 về kế hoạch phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2026 trên địa bàn thành phố Huế. Đồng thời, để chủ động triển khai các hoạt động phòng, chống dịch, không để dịch bệnh bùng phát và lây lan diện rộng, Sở Y tế đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo triển khai các biện pháp phòng, chống dịch bệnh, đảm bảo tất cả ca bệnh được phát hiện từ sớm.Hoạt động khám chữa bệnh BHYT trên toàn thành phố 6 tháng đầu năm 2026: Tổng số lượt khám chữa bệnh BHYT là 1.028.297 lượt, trong đó 896.788 lượt khám chữa bệnh ngoại trú và 131.509 lượt khám chữa bệnh nội trú.Tháng 6/2026, trên địa bàn có 62 ca sốt xuất huyết, tăng 44 ca so cùng kỳ; có 14 ca mắc tay chân miệng, giảm 7 ca so với cùng kỳ. Sáu tháng đầu năm, trên địa bàn có 137 ca sốt xuất huyết, tăng 8 ca so cùng kỳ; có 186 ca mắc tay chân miệng, tăng 57 ca so với cùng kỳ; 4 ca liên cầu lợn, tăng 4 ca so với cùng kỳ. Tháng 5/2026, trên địa bàn đã phát hiện 5 ca nhiễm mới HIV, giảm 7 ca so cùng kỳ; 1 ca chuyển qua AIDS, giảm 1 ca so với cùng kỳ; không có ca tử vong, bằng cùng kỳ. Năm tháng đầu năm, trên địa bàn có 28 ca nhiễm mới HIV, giảm 17 ca so cùng kỳ; 5 ca chuyển qua AIDS, giảm 6 ca so với cùng kỳ; 1 ca tử vong, giảm 1 ca so với cùng kỳ. Hiện tại, trên địa bàn có 605 bệnh nhân đang được quản lý và điều trị tại các cơ sở y tế, trong đó có 600 bệnh nhân điều trị ARV.Tháng 6/2026, trên địa bàn xảy ra 1 vụ ngộ độc thực phẩm, tăng 1 vụ so với cùng kỳ, làm 4 người bị ngộ độc và không có người chết. Sáu tháng đầu năm, trên địa bàn xảy ra 3 vụ ngộ độc thực phẩm, tăng 3 vụ so với cùng kỳ, làm 29 người bị ngộ độc và không có người chết.10.6. Hoạt động văn hóa, thể thao Trong 6 tháng đầu năm 2026, tổ chức thành công các lễ hội, sự kiện văn hóa: Lễ hội Đền Huyền Trân năm 2026 với chủ đề “Ngưỡng vọng tiền nhân - Dấu thiêng mở cõi”; Lễ hội Điện Huệ Nam tháng 3 Âm lịch. Ngày hội Văn hóa, Thể thao và Du lịch các dân tộc miền núi thành phố Huế từ ngày 29/5/2026 đến ngày 31/5/2026 tại các xã A Lưới 1, A Lưới 2, A Lưới 3 với nhiều hoạt động phong phú, sôi động, thu hút hơn 20.000 du khách và Nhân dân tham gia.Tổ chức và phối hợp tổ chức nhiều giải thể thao quốc gia trên địa bàn thành phố, tiêu biểu như: Giải Cờ vua - Cờ tướng trẻ miền Trung lần thứ XXII và Giải Bơi, Lặn vô địch quốc gia (bể 25m) năm 2026; Giải vô địch Đá cầu xuất sắc quốc gia; Giải vô địch các Câu lạc bộ Vật cổ điển, Vật tự do quốc gia, Giải vô địch Bóng rổ 3x3 U20, U23 quốc gia. Kết quả thi đấu đạt nhiều thành tích nổi bật với 250 huy chương các loại, gồm 74 HCV, 67 HCB và 109 HCĐ. Bên cạnh đó, tổ chức nhiều hoạt động thể thao quần chúng nổi bật như các hoạt động mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ; Tháng hoạt động thể dục thể thao cho mọi người và Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân; Giải Việt dã truyền thống thành phố Huế lần thứ XXXIV; Giải Marathon VNExpress Huế 2026 với hơn 8.000 người tham dự. Đồng thời, phối hợp tổ chức nhiều giải thể thao phong trào, giải truyền thống và giải học sinh như Giải Pickleball Huế mở rộng, Giải chạy “Chinh phục đỉnh Bạch Mã”, Giải bóng đá truyền thống học sinh THPT thành phố Huế lần thứ VI năm 2026. Phong trào TDTT cho người cao tuổi, người khuyết tật và gia đình thể thao tiếp tục được quan tâm; Chương trình bơi an toàn, phòng chống đuối nước trẻ em giai đoạn 2021 - 2030 được duy trì triển khai hiệu quả. Các hoạt động thể thao quần chúng góp phần nâng cao đời sống tinh thần, tăng cường sức khỏe nhân dân, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh và quảng bá hình ảnh thành phố Huế.10.7. Tai nạn giao thôngTheo báo cáo của Công an thành phố, từ 15/5/2026 đến 14/6/2026, trên địa bàn đã xảy ra 24 vụ tai nạn giao thông, tăng 2 vụ so với cùng kỳ; làm 9 người chết, giảm 9 người so với cùng kỳ; làm bị thương 20 người, tăng 6 người so cùng kỳ. Sáu tháng đầu năm, trên địa bàn xảy ra 90 vụ tai nạn giao thông, giảm 25 vụ so với cùng kỳ; làm chết 53 người, giảm 4 người và làm bị thương 58 người, giảm 26 người so với cùng kỳ.10.8. Tình hình cháy nổ và bảo vệ môi trườngTrong tháng 6/2026 trên địa bàn xảy ra 4 vụ cháy; tăng 3 vụ so cùng kỳ, bằng tháng trước. Các vụ cháy xảy ra tại nhà dân, xe tải và rừng thông; không có thiệt hại về người, thiệt hại ước khoảng 89 triệu đồng. Sáu tháng đầu năm, trên địa bàn xảy ra 16 vụ cháy, tăng 10 vụ so với cùng kỳ, làm 1 người chết, tổng giá trị thiệt hại 808,6 triệu đồng.Trong tháng 6/2026 trên địa bàn xảy ra 3 vụ vi phạm môi trường, giảm 3 vụ so với cùng kỳ, tăng 1 vụ so với tháng trước. Các hình thức vi phạm: 1 vụ xả nước thải vượt quy chuẩn kỹ thuật, 2 vụ khai thác khoáng sản trái phép. Sáu tháng đầu năm, trên địa bàn xảy ra 24 vụ, giảm 47 vụ; tiến hành xử lý 23 vụ với số tiền xử phạt 3339,1 triệu đồng.10.9. Thiệt hại do thiên taiTháng 6/2026 trên địa bàn xảy ra 1 vụ thiên tai, bằng cùng kỳ, tăng 1 vụ so với tháng trước. Cụ thể, vào ngày 18/6 trên địa bàn đã xảy ra mưa dông kèm sét và gió mạnh. Tình hình thiệt hại, về người: có 1 người bị thương, về nhà ở: 18 nhà bị tốc mái, về nông nghiệp: 112 cây xanh và 30 ha cây ăn quả bị thiệt hại, gãy đổ. Tổng giá trị thiệt hại ước tính khoảng 1,45 tỷ đồng. Chính quyền địa phương đã tổ chức, huy động lực lượng hỗ trợ người dân khắc phục hậu quả do thiên tai gây ra, sớm ổn định cuộc sống. Sáu tháng đầu năm, trên địa bàn xảy ra 1 vụ thiên tai, giảm 3 vụ so với cùng kỳ.

BÁO CÁO TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI THÁNG 4 VÀ 4 THÁNG ĐẦU NĂM 2026
  •   18/05/2026 08:40

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sảnTrong tháng 4/2026, sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn thành phố Huế duy trì ổn định và bám sát kế hoạch đề ra nhờ điều kiện thời tiết thuận lợi và công tác chỉ đạo kịp thời. Lĩnh vực trồng trọt bước vào giai đoạn thu hoạch vụ Đông Xuân, các địa phương đang tập trung chăm sóc, thu hoạch và bảo vệ năng suất cây trồng. Công tác theo dõi sâu bệnh và phòng, chống dịch bệnh trên vật nuôi được triển khai đồng bộ, tổng đàn lợn ước tăng 2,9%. Sản xuất lâm nghiệp giữ mức ổn định, sản lượng gỗ khai thác ước tăng 4,9% so với cùng kỳ. Hoạt động nuôi trồng và khai thác thủy sản tiếp tục được duy trì, trong đó sản lượng khai thác biển ước tăng 4,8% so với cùng kỳ.1.1. Nông nghiệp * Trồng trọt Sản xuất trồng trọt diễn ra đúng thời vụ, thời tiết trong tháng nhìn chung thuận lợi, tạo điều kiện cho sản xuất trồng trọt diễn ra đúng thời vụ; hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng nhu cầu tưới tiêu, cùng với sự chỉ đạo kịp thời của ngành nông nghiệp và chính quyền địa phương đã hỗ trợ tích cực cho sản xuất. Cây lúa đang trong giai đoạn chín, dự kiến hoàn thành thu hoạch vào cuối tháng 4/2026. Các loại cây hằng năm sinh trưởng, phát triển tốt, chưa ghi nhận sâu bệnh hại đáng kể. Đối với rau màu, người dân chủ động luân canh, vừa thu hoạch vừa gieo trồng, bảo đảm nguồn cung liên tục; năng suất, sản lượng tăng so với cùng kỳ, giá cả ổn định, góp phần tạo tâm lý yên tâm sản xuất. Các mô hình sản xuất theo hướng hữu cơ, VietGAP và liên kết chuỗi tiếp tục được duy trì, mở rộng; công tác chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh được tăng cường. Tuy nhiên, tình trạng chuyển mùa và nắng nóng cục bộ vẫn ảnh hưởng đến một số diện tích, tiềm ẩn nguy cơ phát sinh sâu bệnh trên cây trồng. Gieo cấy lúa vụ Đông Xuân 2026 toàn thành phố đạt 27.587 ha, giảm 1,1% so với vụ Đông Xuân năm trước. Diện tích gieo trồng các loại cây hằng năm khác lũy kế đến tháng 4 như: ngô ước đạt 1.004 ha, tăng 10,6%; khoai lang 397 ha, tăng 4,7%; lạc 1.775 ha, giảm 13,3%; rau các loại ước đạt 2.908 ha, tăng 1,2%; đậu các loại 517 ha, tăng 0,8% so với cùng kỳ. * Chăn nuôiTrong tháng 4/2026, hoạt động chăn nuôi trên địa bàn thành phố tiếp tục duy trì ổn định và đạt kết quả tích cực. Giá bán các sản phẩm chăn nuôi như lợn hơi, bò hơi và gia cầm duy trì ở mức cao so với cùng kỳ, tạo động lực để doanh nghiệp và hộ chăn nuôi đẩy mạnh tái đàn, mở rộng quy mô sản xuất. Bên cạnh đó, tình hình dịch bệnh được kiểm soát tốt, góp phần bảo đảm an toàn đàn vật nuôi và ổn định sản xuất.Ước đến ngày 30/4/2026, tổng đàn gia súc, gia cầm có xu hướng tăng ở hầu hết các loại vật nuôi: đàn trâu đạt 15.198 con, tăng 0,5% so với cùng kỳ; đàn bò 30.739 con, tăng 4,4%; đàn lợn 159.850 con tăng 2,9%; đàn gia cầm 5.251 nghìn con, tăng 4,1%, trong đó đàn gà 3.713 nghìn con, tăng 4%.Công tác phòng, chống dịch bệnh được triển khai đồng bộ, với tiến độ tiêm phòng đạt khá ở nhiều loại vắc xin. Tính đến 20/4/2026, toàn thành phố đã tiêm được 19.304 liều vắc xin Tụ huyết trùng trâu bò (đạt 59% kế hoạch), 18.939 liều vắc xin tam liên lợn (đạt 76% kế hoạch), 4.400 liều E.coli (đạt 73% kế hoạch), 382.100 liều cúm gia cầm ( đạt 78% kế hoạch), 314.300 liều dịch tả vịt (đạt 66% kế hoạch), 524.435 liều vắc-xin các loại gia cầm, 17.400 liều LMLM (đạt 28% kế hoạch) và 24.763 liều dại (đạt 41% kế hoạch)Nhìn chung, chăn nuôi tiếp tục là điểm sáng của ngành nông nghiệp. Trong thời gian tới cần chú trọng kiểm soát chi phí đầu vào, ổn định thị trường tiêu thụ và nâng cao hiệu quả sản xuất nhằm đảm bảo phát triển bền vững.1.2. Lâm nghiệpTrong tháng 4/2026, sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn thành phố Huế tiếp tục được duy trì ổn định, cả về trồng rừng và khai thác gỗ. Kế hoạch phát triển rừng trồng sản xuất gỗ lớn giai đoạn 2026-2030 đã được ban hành và đang trong giai đoạn chuẩn bị, với mục tiêu đến năm 2030 đạt 20.000 ha rừng trồng gỗ lớn và 25.000 ha rừng được cấp chứng chỉ quản lý bền vững FSC, tạo nền tảng cho phát triển lâm nghiệp bền vững.Công tác trồng rừng bám sát kế hoạch đề ra. Trong tháng, diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 806 ha, giảm nhẹ 0,7% so với cùng kỳ; lũy kế đến cuối tháng đạt 2.956 ha, tăng 0,5%. Nguyên nhân giảm trong tháng chủ yếu do nắng nóng kéo dài, một số hộ dân giãn tiến độ trồng để chờ điều kiện thời tiết thuận lợi hơn; tuy nhiên, tiến độ chung vẫn đảm bảo kế hoạch năm và thời vụ trồng rừng.Hoạt động khai thác gỗ tiếp tục tăng trưởng khá. Sản lượng gỗ khai thác trong tháng ước đạt 67.450 m³, tăng 4,9% so với cùng kỳ; lũy kế đạt 249.420 m³, tăng 7,7%. Nguyên nhân chủ yếu do nhu cầu nguyên liệu của các nhà máy chế biến gỗ tăng, thúc đẩy người dân khai thác các diện tích rừng đến tuổi, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế lâm nghiệp.Công tác quản lý, bảo vệ rừng tiếp tục được triển khai, trong tháng không xảy ra cháy rừng. Tuy nhiên, tình trạng phá rừng còn diễn biến phức tạp với 12 vụ, diện tích thiệt hại 2,156 ha; lũy kế từ đầu năm đến nay là 17 vụ, diện tích 2,429 ha, tăng so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu do người dân chuyển đổi mục đích sử dụng đất sang sản xuất nương rẫy. Do vậy trong thời gian đến, cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ rừng.1.3. Thủy sản Tình hình sản xuất thủy sản trong tháng được duy trì ổn định. Thời tiết thuận lợi, nhu cầu tiêu dùng và giá cả thị trường bình ổn đã giúp người dân và doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư phát triển sản xuất. Dự ươc sản lượng thủy sản tháng 4 đạt 6.353 tấn, tăng 4,9% so với cùng kỳ. Lũy kế bốn tháng đầu năm sản lượng thuỷ sản ước đạt 16.568 tấn, tăng 4,1% so với cùng kỳ, trong đó: sản lượng thủy sản khai thác biển đạt 12.460 tấn, tăng 4,0%; sản lượng nuôi trồng thủy sản đạt 3.130 tấn, tăng 4,6%.Với lợi thế có hệ thống đầm phá Tam Giang - Cầu Hai rộng lớn, bờ biển dài, thành phố Huế tập trung phát triển các mô hình nuôi tôm sú, tôm thẻ chân trắng thâm canh và các loại thủy sản khác, đồng thời áp dụng kỹ thuật tiên tiến để tăng năng suất và giảm thiểu rủi ro bệnh dịch. Diện tích nuôi trồng thủy sản thâm canh tháng 4/2026 ước đạt 78 ha, tăng 5,4% so với cùng kỳ, toàn bộ diện tích thả nuôi là tôm thẻ chân trắng. Lũy kế tổng diện tích nuôi trồng thủy sản thâm canh bốn tháng đầu năm 2026 ước đạt 256 ha, tăng 4,5% so với cùng kỳ.Hoạt động khai thác thủy sản trong tháng diễn ra trong điều kiện thời tiết rất thuận lợi. Đây thời điểm này các tàu thuyền tích cực vươn khơi bám biển bắt đầu cho mùa vụ khai thác sôi động với nguồn lợi thủy sản dồi dào hơn. Sản lượng thủy sản khai thác biển trong tháng 4 năm 2026 ước đạt 4.880 tấn tấn, tăng 4,8% so cùng kỳ; trong đó sản lượng cá khai thác biển 4.275 tấn, tăng 4,9%, sản lượng tôm khai thác biển 108 tấn, tăng 4,9%, sản lượng thủy sản khác khai thác biển 497 tấn, tăng 4,6% so cùng kỳ năm trước. Lũy kế sản lượng thủy sản khai thác biển trong bốn tháng đầu năm ước đạt 12.460 tấn, tăng 475 tấn, tăng 4% so cùng kỳ năm trước. 2. Sản xuất công nghiệpTình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn thành phố Huế trong tháng 4 năm 2026 chịu tác động của nhiều yếu tố, trong đó giá năng lượng tăng cao đã tạo áp lực đáng kể lên chi phí sản xuất, mặt bằng giá cả cũng như năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Tuy vậy, toàn ngành vẫn duy trì đà tăng trưởng tích cực. Đạt kết quả đó chủ yếu do một số ngành sản xuất công nghiệp chủ lực của thành phố ghi nhận mức tăng trưởng khá ngay từ đầu năm, như sản xuất ô tô, sản xuất bia, sản xuất sợi,…Bên cạnh đó, việc bổ sung năng lực sản xuất từ một số dự án mới như Nhà máy sản xuất mũ bảo hiểm Eon Industry Việt Nam, sản phẩm thạch anh bán dẫn của Công ty TNHH America Quartz Technology, cùng với việc mở rộng Nhà máy sản xuất đồ chơi Billionmax Việt Nam đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng chung của ngành.Ước tính, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 4 năm 2026 tăng 15,1% so với cùng kỳ năm trước.Chỉ số IIP tháng 4 năm 2026 tăng 15,1% so với cùng kỳ, trong đó: ngành công nghiệp khai khoáng giảm 1,2%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 16,0%; sản xuất và phân phối điện tăng 9,9%; cấp nước và thu gom rác thải tăng 11,4%. Tính chung bốn tháng đầu năm 2026 chỉ số IIP tăng 13,1% so với năm trước, trong đó: ngành công nghiệp khai khoáng tăng 15,8%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 15,4%; cấp nước và thu gom rác thải tăng 5,6%. Riêng sản xuất và phân phối điện giảm 3,6%.Các ngành công nghiệp cấp 4 trong bốn tháng đầu năm 2026 có chỉ số sản xuất tăng so với cùng kỳ: Khai thác quặng kim loại (+15,50%); sản xuất đồ uống có cồn (+31,1%); sản xuất sợi (+7,4%); sản xuất sản phẩm khác từ cao su (+11,5%); sản xuất sản phẩm từ plastic (+22,9%); sản xuất linh kiện điện tử (+8,4 lần); sản xuất đồ chơi (+28,4%); sản xuất khác chưa được phân vào đâu (+4,4 lần); sản xuất ô tô (+52,3%)...Bên cạnh những dấu hiệu tích cực, hiện nay một số ngành sản xuất công nghiệp vẫn đang gặp không ít khó khăn, dự ước các ngành công nghiệp cấp 4 trong bốn tháng đầu năm 2026 có chỉ số sản xuất giảm so với cùng kỳ: Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (-7,3%); in ấn (-10,9%); sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất (-9,6%); sản xuất vật liệu xây dựng từ đất sét (-6,7%); sản xuất giường, tủ, bàn ghế gỗ (-11,7%); sản xuất, truyền tải và phân phối điện (-3,6%)...Các sản phẩm công nghiệp ước bốn tháng đầu năm 2026 tăng so với cùng kỳ năm trước: Quặng inmenit và tinh quặng inmenit 7,7 nghìn tấn (+15,5%); tôm đông lạnh 1,2 nghìn tấn (+22,1%); bánh làm từ bột khác bảo quản được 1,6 nghìn tấn (+37,6%); đồ uống có cồn 110,7 triệu lít (+28,9%); sợi 37,8 nghìn tấn (+7,4%); quần áo lót cho người lớn không dệt kim hoặc đan móc 124,2 triệu cái (+4,8%); Găng tay, găng hở ngón và găng bao tay bằng cao su lưu hoá 5,1 nghìn tấn (+11,5%); Ô tô 1.327 chiếc (+94,6%)...Các sản phẩm công nghiệp bốn tháng đầu năm 2026 giảm so với cùng kỳ: Vỏ bào, dăm gỗ 290,7 nghìn tấn (-7,3%); sản phẩm in 68,2 triệu trang (-10,8%); cao su tổng hợp và các chất thay thế cao su dẫn xuất từ dầu, ở dạng nguyên sinh hoặc tấm lá hoặc dải 2,1 nghìn tấn (-8,1%); tấm lát đường và vật liệu lát, gạch ốp tường 3,1 triệu m2 (-6,9%); điện sản xuất 504,5 triệu Kwh (-9,2%)…Chỉ số sử dụng lao động thán 4/2026 ước tăng 0,7% so với tháng trước và tăng 10,1% so với cùng kỳ. Tính chung chỉ số sử dụng lao động bốn tháng đầu năm 2026 tăng 8,5% so với cùng kỳ, trong đó tập trung vào một số ngành: Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (+24,1%); sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic (+20,4%); sản xuất xe có động cơ (+23,1%); công nghiệp chế biến, chế tạo khác (+1,2 lần). Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số sử dụng lao động giảm đó là: Sản xuất chế biến thực phẩm (-11,0%); sản xuất trang phục (-9,5%); sản xuất da và các sản phẩm có liên quan (-3,9%); sản xuất kim loại (-33,3%); sản xuất giường, tủ, bàn, ghế (-2,8%)…3. Vốn đầu tư ngân sách do địa phương quản lýTình hình thực hiện vốn ngân sách do địa phương quản lý bốn tháng đầu năm 2026 tiếp tục chuyển biến tích cực, với tiến độ thi công các công trình trọng điểm được tăng tốc. Các đơn vị chủ động phối hợp, đẩy nhanh triển khai các hạng mục chuyển tiếp, qua đó tạo khối lượng thực hiện ngày càng rõ nét. Công tác chỉ đạo, điều hành được triển khai quyết liệt ngay từ đầu năm, bảo đảm các dự án hạ tầng chiến lược bám sát quy hoạch và yêu cầu kỹ thuật, qua đó góp phần đưa vốn ngân sách thực hiện trong tháng 4 ước tăng 7,8% so với cùng kỳ.Nguồn vốn ngân sách Nhà nước đầu tư trên địa bàn thành phố Huế do địa phương quản lý thực hiện trong tháng 4/2026 đạt 469 tỷ đồng, đạt 7,3% kế hoạch năm, tăng 7,8% so cùng kỳ. Trong đó, vốn NSNN cấp thành phố ước đạt 397 tỷ đồng, đạt 6,9% kế hoạch, tăng 9,4% so cùng kỳ. Đưa nguồn vốn ngân sách Nhà nước trên địa bàn bốn tháng đầu năm ước đạt 1.438 tỷ đồng, đạt 22,3% kế hoạch năm, tăng 3,5% so với cùng kỳ. Trong đó, vốn NSNN cấp tỉnh bốn tháng đầu năm ước đạt 1.199 tỷ đồng, đạt 21% kế hoạch năm, tăng 10,1% so với cùng kỳ.Nguồn vốn đầu tư ngân sách do địa phương quản lý trong tháng 4/2026 tiếp tục tập trung vào các công trình trọng điểm nhằm đẩy nhanh tiến độ thi công. Trong đó, dự án tuyến đường bộ ven biển qua thành phố và cầu qua cửa Thuận An đang tập trung triển khai thi công đường dẫn đầu cầu phía phường Thuận An và phấn đấu thông xe vào dịp 30/4/2026; các chủ đầu tư đang đôn đốc các nhà thầu thi công gấp rút trong điều kiện thời tiết thuận lợi các tháng đầu năm: dự án đường vành đai 3 đang thực hiện điều chỉnh quy mô với đoạn tuyến phía bắc và triển khai thi công mặt bằng tại các phường Kim Long, Thuận Hóa, Thủy Xuân, Hương An; Dự án đường Nguyễn Hoàng khởi công tháng 1/2026 đang triển khai thi công mở rộng đường; công trình Trường phổ thông nội trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở tại xã A Lưới 3 và 4; các công trình đầu tư xây dựng hạ tầng để di dời, tái định cư (các khu tái định cư, nghĩa trang, chợ, trường học) phục vụ giải phóng mặt bằng Đường sắt tốc độ cao theo trục Bắc - Nam… Bên cạnh đó, một số dự án lớn như cầu Cồn Hến, cầu qua phá Tam Giang và các dự án tạo quỹ đất tái định cư, bảo tồn Kinh thành Huế giai đoạn 2… cũng đang được triển khai các thủ tục đầu tư và thi công theo kế hoạch. Nhìn chung, nguồn vốn ngân sách nhà nước tiếp tục ưu tiên cho các dự án chuyển tiếp quy mô lớn. Công tác chỉ đạo, điều hành được thực hiện quyết liệt, góp phần tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ. Đồng thời, nhiều dự án giai đoạn 2026-2030 đang hoàn thiện hồ sơ để sớm khởi công, tạo động lực phát triển hạ tầng đô thị và nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư trên địa bàn.4. Thương mại, dịch vụ và giá cảTháng 4/2026 tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn thành phố tiếp tục ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực, các hoạt động thương mại, vận tải, dịch vụ và du lịch diễn ra sôi động góp phần thúc đẩy tiêu dùng và lưu thông hàng hóa. Chuỗi hoạt động trong khuôn khổ Festival Huế 2026 được tổ chức phong phú, đặc sắc, kết hợp các không gian văn hóa truyền thống và hoạt động vui chơi giải trí mang đậm bản sắc dân gian. Đặc biệt, trong dịp nghỉ lễ Giỗ Tổ Hùng Vương và kỳ nghỉ 30/4–01/5, lượng khách du lịch trong và ngoài nước đến Huế tăng cao, góp phần tích cực vào tăng trưởng chung của thành phố.4.1. Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùngTháng 4 tiếp tục là cao điểm của các hoạt động lễ hội, nổi bật là chương trình Lễ hội Mùa Hạ gắn với kỳ nghỉ 30/4–01/5, thu hút lượng lớn du khách đến Huế tham quan, mua sắm. Cùng với đó, các chương trình kích cầu, khuyến mãi của hệ thống phân phối tiếp tục phát huy hiệu quả, góp phần thúc đẩy sức mua trên thị trường. Dự ướ tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 4 tăng 17,5% so với cùng kỳ.Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 4/2026 ước đạt 6.217 tỷ đồng, tăng 2,6% so với tháng trước và tăng 17,5% so với cùng kỳ. Chia theo ngành kinh tế: Bán lẻ hàng hóa ước đạt 4.438 tỷ đồng, chiếm 71,4% trong tổng số, tăng 1,6% so với tháng trước và tăng 15,4% so với cùng kỳ. Nguyên nhân tăng so với tháng trước do tháng 4/2026 là tháng diễn ra nhiều lễ hội lớn, do đó nhu cầu mua sắm trong dịp lễ tăng và tháng 4 nhu cầu xây dựng tiếp tục tăng làm cho nhóm hàng này cũng tăng mạnh so với tháng trước. Doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống tháng 4 ước đạt 1.297 tỷ đồng, chiếm 20,9%, tăng 6,9% so với tháng trước và tăng 23,7% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ lữ hành đạt 33 tỷ đồng, chiếm 0,5%, tương ứng tăng 3,1% và tăng 23,0%; doanh thu dịch vụ khác đạt 449 tỷ đồng, chiếm 7,2%, tăng 0,9% và tăng 21,0%.Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng bốn tháng đầu năm 2026 đạt 24.520 tỷ đồng, tăng 17,8% so với cùng kỳ, trong đó doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 17.506 tỷ đồng, chiếm 71,4% trong tổng số và tăng 15,4% so với cùng kỳ; dịch vụ lưu trú và ăn uống đạt 5.044 tỷ đồng, chiếm 20,6% và tăng 24,0%; dịch vụ lữ hành đạt 141 tỷ đồng, chiếm 0,6% và tăng 18,4%; dịch vụ khác đạt 1.829 tỷ đồng, chiếm 7,5% và tăng 24,5%. 4.2. Vận tải hành khách và hàng hóaHoạt động vận tải trên địa bàn thành phố Huế trong tháng 4/2026 diễn ra sôi động, với việc tăng cường phương tiện phục vụ dịp lễ 30/4–01/5 và khởi động du lịch thuyền điện trên sông Ngự Hà nhằm khôi phục giao thông đường thủy và tạo điểm nhấn du lịch. Nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hóa gia tăng trong mùa cao điểm du lịch đã thúc đẩy hoạt động vận tải tăng khá. Tuy nhiên với giá nhiên liệu tăng làm chi phí vận hành của các đơn vị vận tải gia tăng, tạo áp lực nhất định lên hoạt động kinh doanh.Dự ước tháng 4/2026 hành khách vận chuyển đạt 4,3 triệu hành khách, tăng 3,7% so với tháng trước và tăng 20,5% so với cùng kỳ; hành khách luân chuyển đạt 209,3 triệu hành khách.km, tăng 3,3% so với tháng trước và tăng 21,0% so với cùng kỳ. Tính chung bốn tháng đầu năm 2026, vận tải hành khách ước đạt 16,6 triệu hành khách, tăng 20,3% so với cùng kỳ và luân chuyển ước đạt 812,9 triệu hành khách.km, tăng 20,6%.Dự ước hàng hóa vận chuyển tháng 4/2026 đạt 2,4 triệu tấn, tăng 1,2% so với tháng trước và tăng 15,1% so với cùng kỳ; hàng hóa luân chuyển đạt 196,9 triệu tấn.km, tăng 1,6% so với tháng trước và tăng 15,2% so với cùng kỳ. Tính chung bốn tháng đầu năm 2026, vận tải hàng hóa ước đạt 9,3 triệu tấn tăng 15,7% so với cùng kỳ và luân chuyển ước đạt 777,8 triệu tấn.km, tăng 15,3%.Dự ước doanh thu vận tải, kho bãi và bưu chính chuyển phát tháng 4/2026 đạt 602,1 tỷ đồng, tăng 2,2% so với tháng trước và tăng 19,7% so với cùng kỳ. Đưa doanh thu vận tải, bốc xếp bốn tháng đầu năm 2026 ước đạt 2.355,7 tỷ đồng, tăng 20,1% so cùng kỳ. Chia theo loại hình dịch vụ: doanh thu vận tải hành khách ước đạt 515,5 tỷ đồng, tăng 21,6%; vận tải hàng hóa ước đạt 1.606,8 tỷ đồng, tăng 17,1%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 233,4 tỷ đồng, tăng 41,3%. Trong đó doanh thu vận tải bao gồm: đường bộ đạt 2.120,1 tỷ đồng, tăng 18,2%; đường sông đạt 2,2 tỷ đồng, tăng 24,6%.4.3. Lượt khách các cơ sở lưu trú phục vụ và du lịch lữ hànhTháng 4, hoạt động du lịch trên địa bàn tiếp tục diễn ra sôi động nhờ hiệu ứng lan tỏa từ mùa cao điểm Tết Nguyên đán, cùng chuỗi sự kiện chào mừng dịp lễ 30/4–01/5, Lễ hội Mùa Hạ và Tuần lễ Festival Nghệ thuật Quốc tế Huế 2026. Các hoạt động kích cầu du lịch được tổ chức đồng bộ, hiệu quả, các lĩnh vực lưu trú, ăn uống, lữ hành và dịch vụ hỗ trợ du lịch có sự phối hợp chặt chẽ, chủ động nâng cao chất lượng sản phẩm và đa dạng hóa trải nghiệm nhằm thu hút và giữ chân du khách, qua đó thúc đẩy lượt khách lưu trú tăng lên.Dự ước lượt khách do cơ sở lưu trú phục vụ tháng 4/2026 đạt 263,7 nghìn lượt khách, tăng 1,0% so với tháng trước và tăng 20,5% so với cùng kỳ. Trong đó, lượt khách ngủ qua đêm tháng 4/2026 ước đạt 225,7 nghìn lượt khách, tăng 1,1% so với tháng trước và tăng 23,2% so với cùng kỳ; lượt khách trong ngày đạt 38,0 nghìn lượt khách, tăng 0,8% so với tháng trước và tăng 6,4% so với cùng kỳ. Đưa lượt khách do các cơ sở lưu trú phục vụ bốn tháng đầu năm 2026 đạt 991,2 nghìn lượt, tăng 20,2% so với cùng kỳ. Trong đó, lượt khách ngủ qua đêm bốn tháng đầu năm đạt 840,6 nghìn lượt, tăng 22,7% so cùng kỳ; lượt khách trong ngày đạt 150,6 nghìn lượt, tăng 7,8% so với cùng kỳ. Trong lượt khách ngủ qua đêm, khách quốc tế 379,3 nghìn lượt, tăng 24,4%; khách trong nước 461,3 nghìn lượt, tăng 21,3% so với cùng kỳ.Ngày khách dự ước tháng 4/2026 đạt 383,9 nghìn ngày, tăng 1,0% so với tháng trước và tăng 26,0% so với cùng kỳ. Trong đó: Ngày khách quốc tế đạt 187,4 nghìn ngày, giảm 1,3% so với tháng trước và tăng 45,1% so với cùng kỳ; ngày khách trong nước đạt 196,4 nghìn ngày, tăng 3,2% so với tháng trước và tăng 11,9% so với cùng kỳ. Đưa ngày khách dự ước bốn tháng đầu năm đạt 1.428,2 nghìn ngày, tăng 24,7% so với cùng kỳ. Trong đó: Ngày khách quốc tế đạt 678,6 nghìn ngày, tăng 28,0%; ngày khách trong nước đạt 749,6 nghìn ngày, tăng 21,8%.Lượt khách phục vụ của các cơ sở lữ hành thực hiện tháng 4/2026 ước đạt 22,8 nghìn lượt, tăng 5,6% với tháng trước và tăng 25,1% so với cùng kỳ; đưa lượt khách bốn tháng đầu năm ước đạt 85,9 nghìn lượt, tăng 20,0 so với cùng kỳ. Ngày khách theo tour ước thực hiện tháng 4/2026 là 47,5 nghìn ngày, tăng 5,8% so với tháng trước và tăng 25,1% so với cùng kỳ. Đưa ngày khách theo tour bốn tháng đầu năm ước đạt 177,7 nghìn ngày khách, tăng 20,0% so với cùng kỳ.4.4. Giá cả- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)Chỉ số giá tiêu dùng chung toàn thành phố tháng 4/2026 tăng 0,50% so với tháng trước. Nguyên nhân tăng chủ yếu là do tác động của nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng khi giá gas và điện sinh hoạt tăng mạnh. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 8 nhóm hàng tăng giá: Nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 2,73%; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,76%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,54%; Đồ uống và thuốc lá tăng 0,43%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,32%; May mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,28%; Thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,06%; Bưu chính viễn thông tăng 0,05%. Có 3 nhóm hàng giảm giá: Giao thông giảm 0,67%; Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,18%; Giáo dục giảm 0,01%.Chỉ số giá tiêu dùng chung toàn thành phố tháng 4/2026 tăng 4,14% so với tháng 12 năm trước và tăng 6,34% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân bốn tháng đầu năm 2026 tăng 4,94% so với bình quân cùng kỳ năm trước, nguyên nhân chủ yếu là do một số nhóm hàng hóa và dịch vụ tăng như: nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 8,74%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 5,95%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 5,54%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,28%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 3,89%; giáo dục tăng 3,77%.- Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ Chỉ số giá vàng tháng 4/2026 giảm 7,22% so với tháng trước, tăng 10,70% so với tháng 12 năm trước và tăng 53,69% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 4/2026 tăng 0,17% so với tháng trước, giảm 0,18% so với tháng 12 năm trước và tăng 1,39% so với cùng kỳ năm trước.5. Tài chính, ngân hàng2.1. Tài chínhTổng thu ngân sách trên địa bàn bốn tháng đầu năm 2026 ước đạt 5.055 tỷ đồng, bằng 31,6% dự toán năm, cho thấy tiến độ thu cơ bản đảm bảo yêu cầu, bám sát kịch bản điều hành ngân sách ngay từ đầu năm. Trong đó, thu nội địa đạt 4.512,8 tỷ đồng, bằng 31,1% dự toán, khẳng định vai trò trụ cột của khu vực kinh tế trong nước trong việc tạo nguồn thu bền vững cho ngân sách; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 535,7 tỷ đồng, bằng 36,9% dự toán.Trong thu nội địa: thu doanh nghiệp Nhà nước ước đạt 162 tỷ đồng, bằng 31,8% dự toán; thu doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 1.665 tỷ đồng, bằng 36,3% dự toán; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 853 tỷ đồng, bằng 37,1% dự toán; thuế thu nhập cá nhân 272 tỷ đồng, bằng 36,3% dự toán; thuế bảo vệ môi trường 15 tỷ đồng, bằng 33,0% dự toán.Song song với nhiệm vụ thu, việc điều hành chi ngân sách địa phương cũng được triển khai chặt chẽ với tổng chi ước đạt 4.478,9 tỷ đồng, tương đương 24,2% dự toán năm. Trong cơ cấu chi, chi thường xuyên chiếm tỷ trọng chủ đạo với 3.331,0 tỷ đồng, đạt 28,7% dự toán nhằm đảm bảo vận hành bộ máy và các hoạt động an sinh xã hội. Đối với chi đầu tư phát triển, đã giải ngân được 809,2 tỷ đồng, đạt 17,6% dự toán, còn chậm so với yêu cầu thúc đẩy tăng trưởng.2.2. Ngân hàngHoạt động tín dụng trên địa bàn thành phố Huế được điều hành bám sát định hướng của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước, đặc biệt là việc triển khai Chương trình tín dụng 140 nghìn tỷ đồng theo Nghị quyết 33/NQ-CP và các cơ chế hỗ trợ như cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giữ nguyên nhóm nợ theo quy định. Các chính sách này đã góp phần tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và người dân, đồng thời hỗ trợ phục hồi thị trường, nhất là lĩnh vực bất động sản, khu vực có tác động lan tỏa lớn đến nền kinh tế.Tổng nguồn vốn huy động đến cuối tháng 4/2026 ước đạt 92,5 nghìn tỷ đồng, tăng 2,89% so với cuối năm 2025; tổng dư nợ tín dụng đạt 98,7 nghìn tỷ đồng, tăng 3,02%. Mức tăng trưởng này khá khiêm tốn, phản ánh nhu cầu hấp thụ vốn của nền kinh tế chưa thực sự mạnh, đồng thời cho thấy các tổ chức tín dụng vẫn duy trì xu hướng thận trọng trong cấp tín dụng nhằm kiểm soát rủi ro.Các TCTD trên địa bàn thành phố Huế tiếp tục chú trọng cho vay các lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ. Tính đến cuối tháng 04/2026: Tín dụng đối với nông nghiệp nông thôn ước đạt 19.000 tỷ đồng, tăng 5,76% so với cuối năm 2025; Tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa ước đạt 18.000 tỷ đồng, tăng 4,46% so với cuối năm 2025; Tín dụng đối với xuất khẩu ước đạt 6.000 tỷ đồng, tăng 4,11% so với cuối năm 2025; Cho vay công nghiệp hỗ trợ ước đạt 7.200 tỷ đồng, tăng 358,89%% so với cuối năm 2025. Trên địa bàn chưa phát sinh có dư nợ cho vay doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao.6. Các vấn đề xã hội6.1. Giáo dục - Đào tạo Trong tháng 4 năm 2026, lĩnh vực giáo dục - đào tạo trên địa bàn Huế tiếp tục được duy trì nề nếp, đúng kế hoạch. Đây là thời điểm các cơ sở giáo dục tập trung hoàn thành chương trình giảng dạy, đồng thời tăng cường ôn tập, củng cố kiến thức cho học sinh, chuẩn bị cho các kỳ kiểm tra cuối kỳ và kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông sắp tới.Ngành Giáo dục và Đào tạo triển khai nhiều hoạt động thi đua, hội thi nhằm nâng cao chất lượng dạy và học: cuộc thi “Học sinh, sinh viên với ý tưởng khởi nghiệp” lần thứ VIII dự án “Cháo An Vị” của nhóm sinh viên Trường Đại học Y - Dược, Đại học Huế xuất sắc đạt giải Ba. Hội thao Giáo dục quốc phòng và an ninh học sinh THPT toàn quốc lần thứ IV năm 2026 tại TP. Hồ Chí Minh. Đoàn Huế gồm 18 vận động viên (6 nữ, 12 nam), được tuyển chọn từ những học sinh đạt thành tích cao tại hội thao cấp thành phố năm 2026.Chất lượng giáo dục tiếp tục được duy trì. Theo kết quả kỳ thi chọn đội tuyển quốc gia dự thi Olympic quốc tế và khu vực năm 2026, học sinh trường chuyên Quốc Học được chọn vào đội tuyển Olympic Tin học châu Á - Thái Bình Dương, khẳng định vị thế của giáo dục Huế trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi.Ngày 18/4, Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế tổ chức “Ngày hội việc làm năm 2026” với sự tham gia của 21 đơn vị tuyển dụng, 717 vị trí việc làm và 156 vị trí thực tập. Sự kiện thu hút hơn 1.000 lượt sinh viên tham gia phỏng vấn, chủ yếu là sinh viên năm thứ 3 và thứ 4. Hoạt động góp phần tăng cường kết nối giữa cơ sở đào tạo và thị trường lao động.6.2. Tình hình y tếTháng 4/2026, trên địa bàn có 13 ca sốt xuất huyết, giảm 10 ca so cùng kỳ; có 86 ca mắc tay chân miệng, tăng 55 ca so với cùng kỳ; 2 ca mắc liên cầu lợn, tăng 2 ca so với cùng kỳ. Bốn tháng đầu năm, trên địa bàn có 57 ca sốt xuất huyết, giảm 42 ca so cùng kỳ; có 133 ca mắc tay chân miệng, tăng 61 ca so với cùng kỳ; 3 ca liên cầu lợn, tăng 3 ca so với cùng kỳ.Tháng 3/2026, trên địa bàn đã phát hiện 5 ca nhiễm mới HIV, giảm 3 ca so cùng kỳ; 2 ca chuyển qua AIDS, tăng 1 ca so với cùng kỳ; 1 ca tử vong, bằng cùng kỳ. Ba tháng đầu năm, trên địa bàn có 15 ca nhiễm mới HIV, giảm 13 ca so cùng kỳ; 3 ca chuyển qua AIDS, giảm 4 ca so với cùng kỳ; 1 ca tử vong, giảm 1 ca so cùng kỳ. Hiện tại, trên địa bàn có 604 bệnh nhân đang được quản lý và điều trị tại các cơ sở y tế, trong đó có 599 bệnh nhân điều trị ARV.Tháng 4/2026, trên địa bàn xảy ra 2 vụ ngộ độc thực phẩm, tăng 2 vụ so cùng kỳ, làm 25 người bị ngộ độc, không có người chết. Bốn tháng đầu năm, trên địa bàn xảy ra 4 vụ ngộ độc thực phẩm, tăng 4 vụ so với cùng kỳ, làm 25 người bị ngộ độc và không có người chết.6.3. Hoạt động văn hóa, thể thaoTình hình văn hóa – thể thao trong tháng diễn ra sôi nổi, hưởng ứng mùa du lịch cao điểm và chuỗi hoạt động lễ hội truyền thống. Các hoạt động được tổ chức phong phú, đa dạng, vừa đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa, giải trí của người dân và du khách, vừa góp phần quảng bá hình ảnh địa phương.Sáng 18/4, Lễ hội Điện Huệ Nam chính thức khai hội, mở màn Festival mùa Hạ - Festival Huế 2026. Lễ hội Điện Huệ Nam được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2025. Lễ hội không chỉ tôn vinh nét đẹp tín ngưỡng thờ Mẫu mà còn góp phần lan tỏa giá trị văn hóa, hướng đến không gian lễ hội văn minh, giàu bản sắc.Tổ chức thành công nhiều giải thể thao cấp quốc gia và địa phương, nổi bật gồm: Các chặng đua tại thành phố Huế trong khuôn khổ Giải đua xe đạp toàn quốc tranh cúp Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ 38 năm 2026, góp phần tạo không khí sôi động và quảng bá hình ảnh thành phố. Giải bóng bàn đồng đội CLB Nguyễn Trãi mở rộng lần I. Giải vô địch đá cầu xuất sắc Quốc Gia 2026, giải đấu lần đầu được bộ môn đá cầu Việt Nam tổ chức, thành phố Huế là đơn vị đầu tiên đăng cai. Giải bơi vô địch quốc gia, giải Lặn vô địch quốc gia, quy tụ nhiều VĐV xuất sắc trên toàn quốc.Các sự kiện thể thao quy mô lớn như VnExpress Marathon Huế 2026, Kun Marathon 2026 đã góp phần làm phong phú thêm nội dung của Festival Huế, đồng thời tạo động lực thúc đẩy phát triển du lịch, dịch vụ và kinh tế địa phương. Việc kết hợp giữa thể thao – văn hóa – giáo dục môi trường thể hiện xu hướng tổ chức sự kiện hiện đại, bền vững và có sức lan tỏa cao.Đến nay, 100% xã, phường đã triển khai tổ chức Đại hội cấp cơ sở, đảm bảo tiến độ, an toàn, tiết kiệm và thu hút đông đảo người dân tham gia. Ở cấp thành phố, đã tổ chức thi đấu 14/18 môn; công tác chuẩn bị Lễ khai mạc dự kiến tổ chức vào tháng 9/2026 đang được triển khai tích cực6.4. Tai nạn giao thôngTheo báo cáo của Ban ATGT thành phố, từ 15/03/2026 đến 14/04/2026, trên địa bàn đã xảy ra 17 vụ tai nạn giao thông, giảm 4 vụ so với cùng kỳ; làm 10 người chết, tăng 5 người so với cùng kỳ; làm bị thương 9 người, giảm 6 người so với cùng kỳ. Bốn tháng đầu năm, trên địa bàn xảy ra 56 vụ tai nạn giao thông, giảm 27 vụ so với cùng kỳ; làm chết 40 người, tăng 7 người và làm bị thương 31 người, giảm 30 người so với cùng kỳ.6.5. Tình hình cháy nổ và bảo vệ môi trườngTrong tháng 4/2026 trên địa bàn xảy ra 4 vụ cháy; tăng 3 vụ so cùng kỳ, tăng 2 vụ so với tháng trước. Các vụ cháy xảy ra tại nhà dân và xe tải; nguyên nhân do sự cố hệ thống điện; thiệt hại ước khoảng 80 triệu đồng, làm 1 người chết. Bốn tháng đầu năm, trên địa bàn xảy ra 8 vụ cháy, tăng 5 vụ so với cùng kỳ, làm 1 người chết, tổng giá trị thiệt hại 85,4 triệu đồng.Trong tháng 4/2026 trên địa bàn xảy ra 3 vụ vi phạm môi trường, giảm 8 vụ so với cùng kỳ, tăng 1 vụ so với tháng trước. Các hình thức vi phạm: 1 vụ xả nước thải vượt quy chuẩn kỹ thuật và 2 vụ xả khí thải vượt quy chuẩn kỹ thuật; tiến hành xử lý 3 vụ với số tiền xử phạt 469,2 triệu đồng. Bốn tháng đầu năm, trên địa bàn xảy ra 19 vụ, giảm 34 vụso với cùng kỳ; tiến hành xử lý 21 vụ với số tiền xử phạt 2384,1 triệu đồng.6.6. Thiệt hại do thiên taiTháng 4/2026 không xảy ra thiên tai, giảm 2 vụ so với cùng kỳ, bằng tháng trước. Bốn tháng đầu năm, trên địa bàn không xảy ra thiên tai, giảm 2 vụ so với cùng kỳ./.Nguồn Thống kê thành phố Huế

BÁO CÁO KINH TẾ XÃ HỘI QUÝ I NĂM 2026
  •   10/04/2026 08:04

Thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2026; Công điện số 06/CĐ-TTg ngày 24/01/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm nhằm thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2026; Nghị quyết số 01-NQ/TU của Thành ủy, Nghị quyết số 113//NQ-HĐND của HĐND thành phố về nhiệm vụ và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026; Quyết định số 01/QĐ-UBND của UBND thành phố về việc triển khai thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026. Kết quả đạt được trên các ngành, lĩnh vực trên địa bàn thành phố trong quí I năm 2026 như sau:- Tổng sản phẩm trên địa bàn ước tăng 9,01% so với cùng kỳ;- Chỉ số sản xuất công nghiệp ước tăng 13,1%;- Doanh thu bán lẻ hàng hóa ước tăng 16,2%;- Lượt khách do cơ sở lưu trú phục vụ ước tăng 18,3%;- Tổng vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn ước tăng 13,3%;- Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước tăng 28,0%.1. Tăng trưởng kinh tế Tổng sản phẩm trên địa bàn thành phố quý I/2026 ước tăng 9,01% so với cùng kỳ, phản ánh xu hướng phục hồi và phát triển tích cực trong bối cảnh kinh tế còn nhiều biến động. Đây là mức tăng trưởng khá, xét trên phạm vi cả nước Huế xếp thứ 14 trong tổng số 34 địa phương, trong khu vực Bắc Trung Bộ Thành phố xếp thứ 3 trên 5 địa phương, đối với các thành phố trực thuộc Trung ương xếp thứ 2 trong số 6 thành phố. Trong đó: Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,62%, đóng góp 0,28 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,31%, đóng góp 3,21 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 9,01%, đóng góp 4,79 điểm phần trăm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 7,59%, đóng góp 0,73 điểm phần trăm trong tăng trưởng kinh tế toàn thành phố. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục tăng trưởng ổn định, khẳng định vai trò là trụ đỡ quan trọng của nền kinh tế. Sản xuất nông nghiệp được tổ chức hợp lý, tập trung vào các cây trồng chủ lực nhằm nâng cao năng suất và chất lượng; chăn nuôi phát triển theo hướng bền vững, đáp ứng tốt nhu cầu tiêu dùng tại địa phương; lĩnh vực lâm nghiệp được triển khai đồng bộ từ trồng, chăm sóc đến bảo vệ rừng, góp phần nâng cao độ che phủ và cải thiện môi trường sinh thái; hoạt động thủy sản duy trì ổn định với sản lượng nuôi trồng và khai thác được giữ vững. Cụ thể, ngành nông nghiệp tăng 4,75%, đóng góp 0,15 điểm phần trăm; ngành lâm nghiệp tăng 5,94%, đóng góp 0,07 điểm phần trăm; và ngành thủy sản tăng 3,49%, đóng góp 0,06 điểm phần trăm. Mặc dù tốc độ tăng trưởng chưa cao, khu vực này vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc ổn định kinh tế - xã hội trên địa bàn. Khu vực công nghiệp - xây dựng ghi nhận mức tăng trưởng khá cao, trong đó ngành công nghiệp tăng 11,27%, đóng góp 2,83 điểm phần trăm, tuy nhiên sự phát triển giữa các ngành còn thiếu đồng đều. Công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt với mức tăng 15,13%, khẳng định là động lực chủ yếu của tăng trưởng nhờ khả năng mở rộng sản xuất và thích ứng thị trường. Ngược lại, ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt giảm 11,18%, trở thành yếu tố kìm hãm tốc độ tăng chung, đồng thời cho thấy sự phụ thuộc lớn của ngành này vào điều kiện thời tiết. Khu vực dịch vụ tiếp tục là động lực tăng trưởng chủ yếu, với mức tăng tương đối đồng đều và ổn định giữa các ngành. Các lĩnh vực gắn với tiêu dùng và du lịch phục hồi mạnh mẽ, nổi bật là ngành bán buôn, bán lẻ hàng hoá tăng 9,66% so với cùng kỳ, đóng góp 0,85 điểm phần trăm; dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng 12,78%, đóng góp 0,98 điểm; vận tải kho bãi tăng 15,17%, đóng góp 0,51 điểm; nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 8,69%, đóng góp 0,06 điểm… Điều này cho thấy nhu cầu tiêu dùng trong nước và hoạt động du lịch đang từng bước phục hồi rõ nét. Bên cạnh đó, các lĩnh vực như tài chính, bất động sản, giáo dục và y tế tiếp tục duy trì tăng trưởng ổn định, góp phần củng cố vai trò dẫn dắt của khu vực dịch vụ trong cơ cấu kinh tế. Cơ cấu kinh tế quý I/2026, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 5,94%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 28,90%; khu vực dịch vụ chiếm 55,59%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 9,58% (cơ cấu tương ứng của cùng kỳ năm 2025 là: 6,20%; 29,20%; 54,90% và 9,70%). 2. Tài chính, ngân hàng, bảo hiểm2.1. Tài chínhTổng thu ngân sách trên địa bàn trong quý I/2026 ước đạt 3.700 tỷ đồng, bằng 23,1% dự toán năm, cho thấy tiến độ thu cơ bản đảm bảo yêu cầu, bám sát kịch bản điều hành ngân sách ngay từ đầu năm. Trong đó, thu nội địa đạt 3.294,2 tỷ đồng, bằng 22,7% dự toán, khẳng định vai trò trụ cột của khu vực kinh tế trong nước trong việc tạo nguồn thu bền vững cho ngân sách; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 399,7 tỷ đồng, bằng 27,6% dự toán.Trong thu nội địa: thu doanh nghiệp Nhà nước ước đạt 109 tỷ đồng, bằng 21,4% dự toán; thu doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 1.185 tỷ đồng, bằng 25,8% dự toán; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 600 tỷ đồng, bằng 30,3% dự toán; thuế thu nhập cá nhân 195 tỷ đồng, bằng 26,0% dự toán; thuế bảo vệ môi trường 95 tỷ đồng, bằng 23,8% dự toánSong song với nhiệm vụ thu, việc điều hành chi ngân sách địa phương cũng được triển khai chặt chẽ với tổng chi ước đạt 3.139,5 tỷ đồng, tương đương 17,0% dự toán năm. Trong cơ cấu chi, chi thường xuyên chiếm tỷ trọng chủ đạo với 1.414,0 tỷ đồng, đạt 20,8% dự toán nhằm đảm bảo vận hành bộ máy và các hoạt động an sinh xã hội. Đối với chi đầu tư phát triển, đã giải ngân được 664 tỷ đồng, đạt 14,4% dự toán, còn chậm so với yêu cầu thúc đẩy tăng trưởng.2.2. Bảo hiểmNhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, các doanh nghiệp bảo hiểm đã tập trung triển khai đồng bộ nhiều giải pháp trọng tâm. Trong đó, đẩy mạnh tăng trưởng toàn diện trên tất cả các kênh bán hàng gắn với tiêu chí chất lượng được xác định là nhiệm vụ xuyên suốt; đồng thời, lấy sự khác biệt trong quản trị doanh nghiệp và tổ chức kênh phân phối làm lợi thế cạnh tranh. Các doanh nghiệp cũng tích cực đa dạng hóa phương thức thu phí trực tuyến, linh hoạt gia hạn thời gian đóng phí nhằm hỗ trợ khách hàng trong những giai đoạn gặp khó khăn.Cùng với đó, công tác kiểm soát nội bộ tiếp tục được tăng cường, gắn với việc xây dựng và lan tỏa văn hóa quản trị rủi ro, đảm bảo tuân thủ chặt chẽ các quy định của cơ quan quản lý nhà nước. Đặc biệt, quyền lợi và trải nghiệm của khách hàng luôn được đặt ở vị trí trung tâm, thể hiện qua việc không ngừng nâng cao chất lượng tư vấn, cải tiến sản phẩm, dịch vụ và mở rộng, đa dạng hóa các kênh phân phối.Trước những tín hiệu tích cực của thị trường, sau giai đoạn tập trung đầu tư vào nguồn nhân lực và hệ thống nhằm nâng cao chất lượng phục vụ, các doanh nghiệp bảo hiểm đã sẵn sàng bước vào chu kỳ tăng trưởng mới trong năm 2026. Dự kiến, doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường trong quý I sẽ đạt mức tăng trưởng khá, ước khoảng 6,0% - 7,0% so với cùng kỳ.3. Giá cả, lạm phát- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)Chỉ số giá tiêu dùng trên địa bàn thành phố quý I/2026 tăng 4,49% so với cùng kỳ, chủ yếu do nhu cầu tiêu dùng tăng cao trong dịp Tết và đầu năm. Bên cạnh đó, giá nhà thuê tăng khi Huế trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, cùng với biến động tăng của giá nhiên liệu, đặc biệt là xăng dầu, đã tác động lan tỏa làm chi phí vận tải tăng, kéo theo nhóm giao thông tăng. Ngoài ra, giá vàng và đô la Mỹ biến động theo thị trường thế giới và trong nước, trong đó giá vàng tăng mạnh 82,28% và giá đô la Mỹ tăng 2,71% so với cùng kỳ.Chỉ số giá tiêu dùng thành phố tháng 3/2026 tăng 0,80% so với tháng trước, nguyên nhân chủ yếu do tác động của nhóm giao thông khi giá xăng dầu tăng mạnh. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 7 nhóm hàng tăng giá: Giao thông tăng 11,45%; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,42%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,23%; Nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,18%; Thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,10%; Giáo dục tăng 0,02%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,01%. Có 4 nhóm hàng giảm giá: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,55%, Đồ uống và thuốc lá giảm 0,85%, May mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,43%; Thông tin và truyền thông giảm 0,14%Chỉ số giá tiêu dùng tháng 3/2026 tăng 3,65% so với tháng 12 năm trước và tăng 6,19% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân quý I/2026 tăng 4,49% so với bình quân cùng kỳ năm trước. Các nhóm hàng hóa dịch vụ có chỉ số giá bình quân quý I/2026 tăng so cùng kỳ năm trước gồm: nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 8,27%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 5,50%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 5,32%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,40%; giáo dục tăng 3,78%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 3,75%. Các nhóm còn lại tăng giảm không đáng kể.- Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ Chỉ số giá vàng tháng 3/2026 tăng 1,78% so với tháng trước, tăng 19,31% so với tháng 12 năm trước và tăng 81,74% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân quý I/2026 tăng 82,28% so với bình quân cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 3/2026 tăng 0,59% so với tháng trước, giảm 0,35% so với tháng 12 năm trước và tăng 2,38% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân quý I/2026 tăng 2,71% so với bình quân cùng kỳ năm trước. 4. Hoạt động xuất nhập khẩu Hoạt động xuất nhập khẩu trên địa bàn trong quý I/2026 khởi sắc, phản ánh rõ nét sự phục hồi của sản xuất công nghiệp và xu hướng mở rộng thị trường. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước đạt 766,4 triệu USD, tăng khoảng 28,8% so với cùng kỳ; trong đó xuất siêu đạt 75,4 triệu USD, tăng 20,4%. Những kết quả này cho thấy quy mô xuất khẩu tiếp tục được nâng lên, giữ vai trò là động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đồng thời khẳng định hiệu quả hoạt động của khu vực doanh nghiệp cũng như sự cải thiện về năng lực sản xuất và khả năng tham gia thị trường quốc tế. 4.1. Xuất khẩu Kim ngạch xuất khẩu (KNXK) hàng hóa trong quý I/2026 ước đạt 420,9 triệu USD tăng 28,0% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực doanh nghiệp 100% vốn trong nước ước đạt 287,3 triệu USD, tăng 43,5%, tiếp tục giữ vai trò chủ lực; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 133,6 triệu USD, tăng 3,9% so với cùng kỳ. Các nhóm hàng xuất khẩu chủ lực của thành phố cụ thể như sau: - Nhóm hàng nông, thuỷ sản: KNXK ước đạt 51,2 triệu USD, tăng gần gấp 2 lần so với cùng kỳ và chiếm tỷ trọng 12,2%. - Nhóm hàng công nghiệp chế biến: KNXK ước đạt 257,1 triệu USD, tăng 3,9% so với cùng kỳ và chiếm tỷ trọng 61,1%. - Nhóm các hàng hóa khác như hương và bột hương, bia, rượu sa kê, hàng thủ công mỹ nghệ, bao bì xi măng,…: KNXK ước đạt 112,6 triệu USD, tăng gấp 2 lần so với cùng kỳ. Thị trường xuất khẩu: Trong quý I/2026, doanh nghiệp đã xuất khẩu đến khoảng 45 quốc gia và vùng lãnh thổ như Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, ASEAN, các nước Châu Âu,…  4.2. Nhập khẩu Kim ngạch nhập khẩu (KNNK) hàng hóa trong quý I/2026 ước đạt 345,5 triệu USD tăng 29,8% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực doanh nghiệp 100% vốn trong nước ước đạt 262,3 triệu USD, tăng 43,8%; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 83,2 triệu USD, giảm 0,7% so với cùng kỳ. Các mặt hàng nhập khẩu tiếp tục phục vụ cho hoạt động sản xuất, xuất khẩu của các doanh nghiệp, cụ thể: - Nhóm hàng cần nhập khẩu: KNNK ước đạt 150,11 triệu USD, tăng 2,69% so với cùng kỳ và chiếm tỷ trọng 43,5%, trong đó: nguyên phụ liệu dệt may ước đạt 144,6 triệu USD, tăng 0,9%; máy móc thiết bị dụng cụ phụ tùng ước đạt 3,7 triệu USD tăng 39,7%. - Nhóm hàng cần kiểm soát nhập khẩu: linh kiện phụ tùng ô tô ước đạt 88,0 triệu USD tăng 78,0% so với cùng kỳ và chiếm tỷ trọng 25,4% - Nhóm hàng hóa khác như thạch cao, thép, hóa chất, linh kiện điện tử, nguyên phụ liệu sản xuất bia,...: KNNK ước đạt 107,4 triệu USD, tăng 52,4% so với cùng kỳ và chiếm tỷ trọng 31,1%.5. Vốn đầu tư và xây dựng5.1. Vốn đầu tưTrên cơ sở chỉ đạo của Trung ương và HĐND thành phố, UBND thành phố Huế đã chủ động phân bổ kế hoạch vốn đầu tư công ngay từ đầu năm, đồng thời tập trung tháo gỡ khó khăn để đẩy nhanh tiến độ các dự án. Hoạt động đầu tư phát triển trên địa bàn có nhiều khởi sắc, với sự tham gia tích cực của cả nguồn vốn nhà nước và ngoài nhà nước. Các dự án hạ tầng giao thông, đô thị, công nghiệp và dịch vụ trọng điểm được triển khai đồng bộ, góp phần cải thiện diện mạo đô thị và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.Thực hiện Quyết định số 2691/QĐ-TTg ngày 10/12/2025 của Thủ tướng Chính phủ về giao kế hoạch vốn đầu tư công năm 2026, đồng thời căn cứ Nghị quyết số 107/NQ-HĐND ngày 08/12/2025 của HĐND thành phố Huế, UBND thành phố Huế đã ban hành Quyết định số 3991/QĐ-UBND ngày 29/12/2025 để phân bổ chi tiết 100% kế hoạch vốn cho các chương trình, nhiệm vụ và dự án. Ngay từ đầu năm, UBND thành phố đã chỉ đạo các sở, ban, ngành và địa phương tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp và các dự án, qua đó đẩy nhanh tiến độ triển khai các công trình trên địa bàn. Nhờ đó, vốn đầu tư phát triển trong quý I/2026 ước đạt 7.964,1 tỷ đồng, bằng 19,9% kế hoạch năm và tăng 13,3% so với cùng kỳ.Vốn đầu tư khu vực nhà nước trong quý I/2026 ước đạt 1.565,9 tỷ đồng, chiếm 19,7% tổng nguồn vốn và tăng 22,7% so với cùng kỳ. Trong đó, vốn do Trung ương quản lý ước đạt 347 tỷ đồng, tăng mạnh 97,4%, chủ yếu nhờ việc tiếp tục triển khai đồng loạt nhiều dự án trọng điểm trên địa bàn như: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Lộc; Bệnh viện Quốc tế giai đoạn 2 thuộc Bệnh viện Trung ương Huế; Ký túc xá tập trung sinh viên Đại học Huế; sửa chữa đập Thảo Long; dự án mở rộng cao tốc Bắc - Nam đoạn La Sơn - Hòa Liên (dự kiến hoàn thành cuối quý II/2026) và dự án mở rộng cao tốc Cam Lộ - La Sơn (khởi công cuối tháng 12/2025, dự kiến hoàn thành cuối năm 2026). Các dự án được tập trung huy động tối đa nhân lực, máy móc, thiết bị để đẩy nhanh tiến độ thi công, qua đó góp phần làm tăng cao giá trị thực hiện so với cùng kỳ.Vốn nhà nước do địa phương quản lý quý I/2026 ước đạt 1.218,9 tỷ đồng, tăng 10,7% so với cùng kỳ. Trong đó, vốn từ nguồn NSNN do địa phương quản lý đạt 1.054,4 tỷ đồng, tăng 10,6%. Quý I năm 2026, nguồn vốn từ nguồn ngân sách nhà nước tiếp tục thực hiện các dự án đầu tư trọng của thành phố như: Tuyến đường bộ ven biển đoạn qua Thành phố Huế và cầu qua cửa Thuận An; Đường Nguyễn Hoàng; Đường vành đai 3; Dự án Cải thiện môi trường nước thành phố Huế giai đoạn 2; Các dự án xây dựng khu tái định cư, khu nghĩa trang phục vụ giải phóng mặt bằng đường sắt cao tốc Bắc - Nam đang được tập trung đẩy nhanh tiến độ thi công để hoàn thành. Bên cạnh đó, các dự án trọng điểm dự kiến khởi công mới trong năm 2026 cũng đang được hoàn thiện thủ tục đầu tư để đảm bảo điều kiện khởi công như dự án Cầu qua Cồn Hến và đường dẫn hai đầu cầu (đã bố trí vốn chuẩn bị đầu tư và thành lập Hội đồng thi tuyển phương án thiết kế kiến trúc); dự án Cầu qua phá Tam Giang nối xã Phú Vang đi xã Phú Vinh (đã hoàn thiện thiết kế thi công); các dự án trùng tu di tích Văn Miếu, Quốc Tử Giám (đã phê duyệt thiết kế thi công); các dự án đầu tư hoàn thiện kết cấu hạ tầng khu kinh tế Chân Mây – Lăng Cô và các trường phổ thông nội trú liên cấp TH và THCS các xã biên giới A Lưới 1, 2, 5... Vốn ngoài nhà nước Quý I/2026 ước đạt 5.555,0 tỷ đồng, chiếm 69,7% tổng nguồn vốn và tăng 14,5% so với cùng kỳ. Quý I năm 2026, vốn từ nguồn nhà nước trong quý tập trung vào thực hiện các dự án trọng điểm tại thành phố Huế như: Dự án Đầu tư xây dựng bến tổng hợp - container số 4 và số 5 cảng Vsico Chân Mây; Cải tạo, xây dựng lại các dãy nhà A,B,C khu chung cư Đống Đa; dự án Khu liên hợp sản xuất, lắp ráp Kim Long Motors Huế; Nhà máy chế biến cát thạch anh công nghệ cao Creanza; Nhà máy sản xuất kính hoa tiêu trắng Đạt Phương; Trung tâm Logistics Chân Mây; Khu Đô thị Phía Đông đường Thủy Dương- Thuận An, thuộc khu E đô thị mới An Vân Dương; Tổ hợp nhà ở, thương mại - dịch vụ và vui chơi giải trí An Đông; Tổ hợp khu nhà ở - thương mại, dịch vụ 38 Hồ Đắc Di; Dự án Đào Tấn Diamond City; Tổ hợp showroom và trung tâm bảo hành bảo trì ô tô - xe máy của công ty Cổ phần Tổng công ty PGS; Dự án nhà ở xã hội như dự án Eco Garden;… đầu tư trong dân cũng tăng so với cùng kỳ, đây là nguyên nhân khiến vốn ngoài nhà nước tăng cao, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn. Quý I năm 2026, trên địa bàn thành phố có 10 dự án đăng ký mới với tổng số vốn 5.653 tỷ đồng. Trong đó, công ty TNHH một thành viên hạ tầng khu công nghiệp Kim Long Huế và công ty cổ phần Kim Long Motor Huế có 2 dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp số 02, Khu phi thuế quan Chân Mây –Lăng Cô với tổng mức đầu tư 4.170,8 tỷ đồng.Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài quý I/2026 ước đạt 843,2 tỷ đồng, đạt 19,4% kế hoạch năm và giảm 6,7% so với cùng kỳ. Các dự án FDI chuyển tiêp tiếp tục thực hiện và hoàn thành đưa vào sử dụng như: Nhà máy Sản xuất Mũ bảo hiểm EON Industry Việt Nam giai đoạn 2; Nhà máy sản xuất cụm rotor, stato của công ty thiết bị điện Thượng Hải CI; Nhà máy gia công thạch anh của công ty TNHH America Quartz Technolozy;…Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn thành phố có 1 dự án FDI đăng ký mới với tổng số vốn đăng ký 123 triệu USD (tương đương 3.075 tỷ đồng) đầu tư vào kết cấu hạ tầng khu công nghiệp VSIP Huế do công ty liên doanh khu công nghiệp Việt Nam – Singapor đầu tư, dự kiến khởi công vào quý IV/2026 và đưa vào kinh doanh quý III/2031.Nhìn chung, tình hình thực hiện vốn đầu tư quý I/2026 trên địa bàn thành phố ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực khi nguồn lực được ưu tiên cho các dự án hạ tầng trọng điểm, đồng thời đẩy nhanh hoàn thiện hạ tầng đô thị, khu kinh tế và khu công nghiệp; công tác chỉ đạo, điều hành linh hoạt, kịp thời tháo gỡ vướng mắc về vốn, góp phần đảm bảo tiến độ giải ngân. Tuy nhiên, hoạt động thu hút đầu tư vẫn còn khó khăn, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế hỗ trợ; tăng cường tháo gỡ vướng mắc về thủ tục pháp lý, giải phóng mặt bằng để đẩy nhanh triển khai các dự án mới.5.2. Xây dựngHoạt động xây dựng trong quý I/2026 trên địa bàn thành phố diễn ra trong điều kiện khá thuận lợi. Việc đồng loạt triển khai các dự án mới, cùng với nỗ lực đẩy nhanh tiến độ thi công ở các công trình đang thực hiện, cho thấy sự chủ động của các chủ đầu tư cũng như hiệu quả trong công tác điều hành, phối hợp giữa các bên liên quan. Đây là yếu tố nền tảng góp phần thúc đẩy tăng trưởng giá trị sản xuất toàn ngành.Giá trị sản xuất ngành xây dựng quý I/2026 đạt mức tăng khá cao so với cùng kỳ năm trước, theo giá hiện hành ước đạt 4.723,2 tỷ đồng, tăng 14,8% so với cùng kỳ; theo giá so sánh năm 2010, giá trị sản xuất ngành xây dựng quý I/2026 ước đạt 3.728,6 tỷ đồng, tăng 9,29% so với cùng kỳ. Mức tăng trưởng này phản ánh sự mở rộng hoạt động xây dựng cả về khối lượng công trình lẫn tiến độ thực hiện.Động lực tăng trưởng chính đến từ hai nhóm công trình: nhà ở và công trình kỹ thuật dân dụng. Đối với công trình nhà ở, sự gia tăng xuất phát từ việc nhiều dự án bất động sản, khu dân cư được khởi công trong giai đoạn cuối năm 2025 và đầu năm 2026, tạo ra khối lượng thi công lớn trong quý I. Đối với công trình kỹ thuật dân dụng, mức tăng cao chủ yếu nhờ vào việc tiếp tục triển khai và đẩy nhanh tiến độ các dự án hạ tầng trọng điểm, đặc biệt là các dự án giao thông và khu công nghiệp quy mô lớn: Các dự án lớn như tuyến cao tốc Bắc - Nam phía Đông (đoạn Cam Lộ - La Sơn giai đoạn 2), cầu vượt biển Thuận An, hay Khu công nghiệp và Khu phi thuế quan Sài Gòn - Chân Mây tại Khu kinh tế Chân Mây - Lăng Cô… đóng vai trò dẫn dắt tăng trưởng của ngành xây dựng. Đây đều là những công trình có quy mô vốn lớn, khối lượng thi công cao và tác động lan tỏa mạnh đến các lĩnh vực khác như vật liệu xây dựng, vận tải, lao động… Việc các dự án này được đẩy nhanh tiến độ không chỉ làm tăng giá trị sản xuất trong ngắn hạn mà còn góp phần hoàn thiện kết cấu hạ tầng, tạo dư địa phát triển kinh tế trong dài hạn.6. Tình hình hoạt động của doanh nghiệpTình hình hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Huế trong quý I năm 2026 tiếp tục có nhiều chuyển biến tích cực. Phần lớn doanh nghiệp duy trì được sự ổn định và từng bước nâng cao hiệu quả hoạt động, với 75,0% doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất, kinh doanh khả quan hơn hoặc giữ ổn định so với quý trước. Cùng với đó, môi trường đầu tư, kinh doanh tiếp tục được cải thiện, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp gia nhập thị trường. Tính đến thời điểm báo cáo, toàn thành phố có 317 doanh nghiệp thành lập mới, với tổng vốn đăng ký đạt 716 tỷ đồng, góp phần bổ sung nguồn lực và tạo thêm động lực cho tăng trưởng kinh tế địa phương.Tính đến thời điểm báo cáo, trên địa bàn thành phố Huế có 317 doanh nghiệp thành lập mới, với tổng vốn đăng ký đạt 716 tỷ đồng, tăng 75,0% so với cùng kỳ. Trong đó, công ty TNHH một thành viên chiếm tỷ trọng lớn với 190 doanh nghiệp; tiếp đến là công ty TNHH hai thành viên trở lên với 92 doanh nghiệp; công ty cổ phần 16 doanh nghiệp và doanh nghiệp tư nhân 6 doanh nghiệp. Bên cạnh đó, có 183 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động; 73 doanh nghiệp đã giải thể và 464 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động.Đánh giá về tình hình sản xuất, kinh doanh trong quý I/2026 cho thấy bức tranh chung tương đối tích cực. Có 75,0% doanh nghiệp nhận định hoạt động sản xuất, kinh doanh khả quan hơn hoặc duy trì ổn định so với quý IV/2025 (trong đó 29,7% đánh giá thuận lợi và 45,3% cho rằng không thay đổi); trong khi 25,0% doanh nghiệp cho biết còn gặp khó khăn.Về triển vọng quý II/2026, đa số doanh nghiệp giữ tâm lý lạc quan khi có 73,4% dự báo hoạt động sản xuất, kinh doanh sẽ tốt hơn hoặc tiếp tục ổn định so với quý I/2026 (gồm 42,2% dự báo cải thiện và 31,2% dự báo giữ ổn định), trong khi 26,6% doanh nghiệp dự báo còn khó khăn.Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong quý I/2026, có 68,8% doanh nghiệp cho rằng tính cạnh tranh của hàng trong nước cao đã ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tiếp theo là các yếu tố: nhu cầu thị trường trong nước còn thấp (60,9%) và sự suy giảm của thị trường quốc tế (50,0%). Ngoài ra, một số khó khăn khác cũng được ghi nhận như thiếu nguyên, nhiên, vật liệu (31,3%), khó khăn trong tuyển dụng lao động và lãi suất vay vốn cao (cùng ở mức 29,7%), cạnh tranh từ hàng nhập khẩu (26,6%), khó khăn về tài chính (21,9%), hạn chế về công nghệ, thiết bị (20,3%) và tác động từ cơ chế, chính sách (10,9%).7. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sảnSản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trong quý I/2026 duy trì ổn định nhờ điều kiện thời tiết thuận lợi. Sản xuất trồng trọt cơ bản đảm bảo tiến độ, lúa Đông Xuân sinh trưởng tốt, mặc dù một số sâu bệnh có xuất hiện nhưng đã được khống chế hiệu quả. Chăn nuôi tiếp tục khởi sắc, dịch bệnh được kiểm soát, tổng đàn gia súc, gia cầm tăng, trong đó đàn lợn tăng 2,0% so với cùng kỳ, góp phần đảm bảo nguồn cung thực phẩm. Lâm nghiệp duy trì tăng trưởng với sản lượng gỗ khai thác tăng 8,8%, cho thấy nhu cầu thị trường và hiệu quả sản xuất được cải thiện. Thủy sản phát triển ổn định, tổng sản lượng toàn ngành tăng 3,6%, phản ánh sự mở rộng cả nuôi trồng và khai thác.7.1. Sản xuất nông nghiệp* Trồng trọt Trong ba tháng đầu năm 2026, điều kiện thời tiết nhìn chung khá thuận cho sản xuất nông nghiệp. Nền nhiệt duy trì ở mức ấm áp, nắng nhẹ, không xuất hiện các đợt mưa lớn gây ngập úng; lượng mưa chủ yếu là mưa vừa và mưa nhỏ, phân bố tương đối đều giữa các tháng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc gieo trồng và sinh trưởng của cây trồng.  Vụ Đông Xuân năm 2026, toàn thành phố gieo cấy 27.587 ha lúa, giảm 1,1% so với vụ Đông Xuân năm 2025. Hiện nay, lúa đang sinh trưởng, phát triển tốt; người dân tích cực chăm sóc, theo dõi sâu bệnh để xử lý kịp thời, hạn chế lây lan trên diện rộng. Tính đến ngày 20/3/2026, diện tích lúa nhiễm bệnh đạo ôn lá là 789 ha, chủ yếu trên các giống J02 và lúa nếp tại nhiều địa phương; trong đó có 5 ha nhiễm nặng, gây cháy chòm cục bộ. Bệnh khô vằn xuất hiện trên 180 havới tỷ lệ nhiễm phổ biến từ 10–20%. Chuột gây hại trên 372 ha. Các đối tượng sinh vật gây hại khác như sâu cuốn lá nhỏ, rầy các loại xuất hiện ở mức độ nhẹ, không đáng kể.Trước diễn biến sâu bệnh có xu hướng gia tăng, ngành nông nghiệp thành phố đã kịp thời hướng dẫn và triển khai các biện pháp phòng, trừ hiệu quả. Nhờ đó, dịch bệnh cơ bản được kiểm soát, không ảnh hưởng đáng kể đến quá trình sinh trưởng của cây lúa. Đối với các cây trồng khác như rau, ngô, khoai, sắn, sen, đậu và hoa, mức độ sâu bệnh nhìn chung thấp, mật độ và tỷ lệ gây hại không đáng kể. Diện tích gieo trồng một số cây hằng năm khác có xu hướng tăng: ngô ước đạt 975 ha, tăng 8,8%; khoai lang 380 ha, tăng 0,3%; rau các loại 2.590 ha, tăng 4,7%; đậu các loại 525 ha, tăng 4,8%. Ngược lại, diện tích lạc ước đạt 1.775 ha, giảm 12,6%. Sự biến động này chủ yếu do một số diện tích đất bị khô hạn, không còn phù hợp với cây lạc; bên cạnh đó, cây lạc đòi hỏi công chăm sóc lớn nhưng năng suất và hiệu quả kinh tế chưa cao, nên người dân có xu hướng chuyển sang trồng ngô nhằm phù hợp điều kiện canh tác và nâng cao thu nhập.* Chăn nuôi Trong quý I/2026, hoạt động chăn nuôi gia súc, gia cầm trên địa bàn thành phố Huế tiếp tục khởi sắc rõ nét so với cùng kỳ năm 2025. Dịch bệnh được kiểm soát tốt, không phát sinh ổ dịch; giá lợn hơi, gà, vịt duy trì ở mức cao hơn cùng kỳ, tạo động lực để người chăn nuôi mạnh dạn đầu tư, mở rộng sản xuất. Công tác tiêm phòng thú y và vệ sinh môi trường chăn nuôi được triển khai đồng bộ, hiệu quả, góp phần nâng cao năng suất và đảm bảo an toàn dịch bệnh. Đáng chú ý, sự tham gia ngày càng tích cực của các doanh nghiệp trong lĩnh vực chăn nuôi trâu, bò và sản xuất giống gia cầm đã góp phần mở rộng quy mô, cải thiện chất lượng đàn vật nuôi theo hướng chuyên nghiệp. Bên cạnh đó, công tác quản lý chăn nuôi và kiểm soát giết mổ tiếp tục được tăng cường; các trạm thú y duy trì kiểm soát chặt chẽ, đồng thời thường xuyên tổ chức tiêu độc, khử trùng tại chuồng trại và khu vực giết mổ, góp phần bảo đảm vệ sinh thú y và an toàn thực phẩm. Ước đến ngày 31/3/2026, tổng đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn thành phố tiếp tục tăng so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể, đàn trâu đạt 15.234 con, tăng 0,7%; đàn bò đạt 30.678 con, tăng 6,4%. Mức tăng này chủ yếu nhờ Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Chăn nuôi Phương Diệu đầu tư nuôi 225 con trâu và 1.785 con bò tại xã Đan Điền nhằm phục vụ sản xuất giống và chăn nuôi thương phẩm. Đàn lợn ước đạt 159.708 con, tăng 2,0%. Đàn gia cầm đạt 5.248 nghìn con, tăng 4,2%, trong đó đàn gà đạt 3.711 nghìn con, tăng 4,6% so với cùng kỳ. Sản lượng thịt xuất chuồng và các sản phẩm chăn nuôi khác trong quý I/2026 tăng so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể, sản lượng thịt trâu đạt 238 tấn, tăng 0,8%; thịt bò 338 tấn, tăng 4,0%; thịt lợn 5.154 tấn, tăng 4,7%; thịt gia cầm 3.850 tấn, tăng 4,7%. Sản lượng trứng gia cầm ước đạt 8,7 triệu quả, tăng 4,3% so với cùng kỳ. Phản ánh được xu hướng phục hồi và phát triển ổn định của ngành chăn nuôi, góp phần bảo đảm nguồn cung thực phẩm và nâng cao thu nhập cho người sản xuất. Công tác tiêm phòng được triển khai tích cực và đạt nhiều kết quả đáng ghi nhận. Tính đến ngày 20/3/2026, toàn thành phố đã tiêm được 18.134 liều vắc xin tụ huyết trùng trâu bò (đạt 55% kế hoạch), 17.497 liều vắc xin tam liên lợn (70%), 3.700 liều vắc xin E.coli (62%), 337.100 liều vắc xin cúm gia cầm (69%), 274.300 liều vắc xin dịch tả vịt (58%), 220.725 liều vắc xin Newcastle (68%), 160.100 liều vắc xin Gumboro (69%), 73.700 liều vắc xin đậu gà (72%), 23.510 liều vắc xin tụ huyết trùng gia cầm (74%) và 4.000 liều vắc xin lở mồm long móng (đạt 7%).7.2. Lâm nghiệpTrong tháng 3/2026, diện tích trồng rừng mới tập trung ước đạt 750 ha, tăng 1,4% so với cùng kỳ. Tính chung quý I/2026 diện tích trồng rừng mới tập trung đạt 2.150 ha, tăng 1,0%. Mức tăng này chủ yếu nhờ thời tiết đầu năm thuận lợi, độ ẩm đất và lượng mưa phù hợp, tạo điều kiện tốt cho việc xuống giống và nâng cao tỷ lệ cây sống. Bên cạnh đó, nhu cầu nguyên liệu gỗ phục vụ chế biến ngày càng tăng đã thúc đẩy người dân và doanh nghiệp chủ động đầu tư, từng bước hình thành vùng nguyên liệu ổn định gắn với chế biến và tiêu thụ.Về khai thác, sản lượng gỗ từ rừng trồng trong tháng 3/2026 ước đạt 76.560 m³, tăng 7,9%; Tính chung quý I/2026 sản lượng gỗ từ rừng trồng đạt 181.970 m³, tăng 8,8% so với cùng kỳ. Đây là mức tăng khá, nguyên nhân chủ yếu là do các nhà máy chế biến dăm gỗ tăng cường thu mua nguyên liệu để đáp ứng nhu cầu xuất khẩu, trong khi giá gỗ nguyên liệu duy trì ổn định. Điều này tạo động lực để các chủ rừng đẩy mạnh khai thác, đặc biệt đối với diện tích rừng trồng đã đến tuổi thu hoạch.Công tác bảo vệ rừng tiếp tục được chú trọng. Trong tháng 3/2026 không xảy ra cháy rừng, cho thấy các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng phát huy hiệu quả. Tuy nhiên, tình trạng phá rừng trái pháp luật vẫn còn xảy ra, với 2 vụ trong tháng, diện tích thiệt hại 0,21 ha; Tính chung quý I/2026, toàn thành phố ghi nhận 5 vụ, tổng diện tích thiệt hại 0,27 ha. Dù diện tích thiệt hại không lớn, tình trạng này vẫn cần được quan tâm do chủ yếu xuất phát từ nhu cầu chuyển đổi đất rừng sang đất sản xuất.Trong thời gian tới, để phát triển lâm nghiệp theo hướng bền vững, cần tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức của người dân về bảo vệ rừng; đồng thời tăng cường tuần tra, kiểm soát và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm. Bên cạnh đó, cần có cơ chế hỗ trợ sinh kế, phát triển kinh tế dưới tán rừng và khuyến khích trồng rừng, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và phát triển rừng lâu dài.7.3. Thủy sảnTình hình nuôi trồng thủy sản trong tháng 3/2026 tiếp tục duy trì ổn định và có xu hướng mở rộng nhẹ, với tổng diện tích ước đạt 198 ha, tăng 1,5% so với cùng kỳ. Trong đó, diện tích nuôi nước ngọt đạt 64 ha, giảm 3,0%; ngược lại, diện tích nuôi nước lợ đạt 134 ha, tăng 3,9%. Đáng chú ý, các đối tượng nuôi trong môi trường nước lợ đều ghi nhận mức tăng trưởng tích cực: nuôi cá đạt 20 ha, tăng 5,3%, nuôi tôm 56 ha, tăng 5,7% và các loại thủy sản khác 58 ha, tăng 1,8%.Tính chung quý I/2026, diện tích nuôi trồng thủy sản ước đạt 518 ha, tăng 1,0% so với cùng kỳ. Chia ra diện tích nuôi nước ngọt 185 ha, giảm 3,6%; diện tích nuôi nước lợ 333 ha, tăng 3,7%. Trong nuôi nước lợ, diện tích nuôi cá 82 ha, tăng 5,1%; nuôi tôm 188 ha, tăng 3,9%; nuôi các loại thủy sản khác 58 ha, tăng 1,8%; ươm, nuôi giống thủy sản 5 ha, bằng với cùng kỳ.Sản lượng thủy sản nuôi trồng thu hoạch trong tháng 3/2026 ước đạt 608 tấn, tăng 3,2% so với cùng kỳ. Trong đó, sản lượng cá đạt 300 tấn (tăng 2,4%), tôm đạt 239 tấn (tăng 4,4%) và các loại thủy sản khác đạt 69 tấn (tăng 3,0%). Tính chung quý I/2026, sản lượng nuôi trồng đạt 1.898 tấn, tăng 4,3%; trong đó cá đạt 1.040 tấn (tăng 3,8%), tôm đạt 789 tấn (tăng 5,2%) và các loại thủy sản khác đạt 69 tấn (tăng 3,0%).Đối với hoạt động khai thác thủy sản, trong tháng 3/2026, điều kiện thời tiết thuận lợi đã hỗ trợ tích cực cho hoạt động đánh bắt. Ngư dân chủ động chuẩn bị cho vụ cá Nam, đặc biệt các tàu khai thác xa bờ đã tăng cường đầu tư, bổ sung ngư lưới cụ nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất. Sản lượng khai thác trong tháng 3 ước đạt 4.160 tấn, tăng 3,4% so với cùng kỳ; trong đó khai thác biển đạt 3.880 tấn (tăng 3,6%), khai thác nội địa đạt 280 tấn (giảm 0,4%). Tính chung quý I/2026, sản lượng khai thác thủy sản ước đạt 8.317 tấn, tăng 3,4% so với cùng kỳ; trong đó khai thác biển đạt 7.580 tấn (tăng 3,4%), còn khai thác nội địa đạt 737 tấn (giảm 3,5%).Tổng hợp chung, trong quý I/2026, sản lượng thủy sản (bao gồm nuôi trồng và khai thác) ước đạt 10.215 tấn, tăng 3,6% so với cùng kỳ, cho thấy toàn ngành tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ổn định.8. Sản xuất Công nghiệpTình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn thành phố Huế trong ba tháng đầu năm 2026 tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Nhiều ngành công nghiệp chủ lực ghi nhận sản lượng cao ngay từ đầu năm, tiêu biểu như sản xuất ô tô, đồ uống có cồn và sợi. Đồng thời, năng lực sản xuất trên địa bàn được tăng cường với việc đưa vào hoạt động nhà máy sản xuất mũ bảo hiểm Eon Industry Việt Nam và mở rộng nhà máy sản xuất đồ chơi Billionmax Việt Nam. Nhờ các yếu tố thuận lợi này, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 3/2026 ước tăng 13,8% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 3 tháng đầu năm 2026, chỉ số IIP tăng 13,1% so với cùng kỳ năm 2025.Chỉ số IIP tháng 3 năm 2026 tăng 13,8% so với cùng kỳ, trong đó: ngành công nghiệp khai khoáng tăng 10,5%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 15,6%; sản xuất và phân phối điện tăng 1,3%; cấp nước và thu gom rác thải giảm 0,4%. Tính chung quý I/2026 chỉ số IIP tăng 13,1% so với năm trước, trong đó: ngành công nghiệp khai khoáng tăng 26,2%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 16,7%; cấp nước và thu gom rác thải tăng 2,9%. Riêng sản xuất và phân phối điện giảm 11,3%.Các ngành công nghiệp cấp 4 trong quý I/2026 có chỉ số sản xuất tăng so với cùng kỳ: Khai thác quặng kim loại (+22,0%); sản xuất sản phẩm đồ uống có cồn (+33,4%); sản xuất sợi (+7,3%); sản xuất sản phẩm khác từ cao su (+24,5%); sản xuất sản phẩm từ plastic (+24,5%); sản xuất đồ chơi (+25,1%); sản xuất khác chưa được phân vào đâu (+5,9 lần); sản xuất ô tô (+77,4%)...Bên cạnh những dấu hiệu tích cực, hiện nay một số ngành sản xuất công nghiệp vẫn đang gặp không ít khó khăn, dự ước các ngành công nghiệp cấp 4 trong quý I/2026 có chỉ số sản xuất giảm so với cùng kỳ: May trang phục (-0,2%); sản xuất vật liệu xây dựng từ đất sét (-8,2%); sản xuất giường, tủ, bàn ghế gỗ (-11,4%); sản xuất, truyền tải và phân phối điện (-11,3%)...Các sản phẩm công nghiệp ước quý I2026 tăng so với cùng kỳ năm trước: quặng inmenit và tinh quặng inmenit 5,7 nghìn tấn (22,0%); Đồ uống có cồn 78,8 triệu lít (+31,2%); găng tay, găng hở ngón và găng bao tay bằng cao su lưu hoá 3,3 nghìn tấn (+3,1%); hàng may mặc và đồ phụ trợ may mặc bằng plastic 3,2 nghìn tấn (+49,7 lần); ô tô1.064 chiếc (+33,0%)...Các sản phẩm công nghiệp quý I/2026 giảm so với cùng kỳ: Quần áo lót cho người lớn không dệt kim hoặc đan móc 93,9 triệu cái (-0,2%); sản phẩm in khác 52,6 triệu trang (-9,6%); cao su tổng hợp và các chất thay thế cao su dẫn xuất từ dầu, ở dạng nguyên sinh hoặc tấm lá hoặc dải 1,6 nghìn tấn (-6,8%); tấm lát đường và vật liệu lát, gạch ốp tường 2,2 triệu m2 (-8,2%); điện sản xuất 386,1 triệu Kwh (-15,1%)…Chỉ số sử dụng lao động tháng 3/2026 ước tăng 0,9% so với tháng trước và tăng 8,1% so với cùng kỳ. Tính chung chỉ số sử dụng lao động quý I/2026 tăng 8,0% so với cùng kỳ, trong đó tập trung vào một số ngành: Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (+25,0%); sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic (+21,9%); sản xuất xe có động cơ (+27,9%); công nghiệp chế biến, chế tạo khác (+1,2 lần). Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số sử dụng lao động giảm đó là: Sản xuất chế biến thực phẩm (-11,6%); sản xuất trang phục (-10,8%); sản xuất da và các sản phẩm có liên quan (-5,0%); sản xuất kim loại (-33,3%); sản xuất giường, tủ, bàn, ghế (-1,7%)…9. Thương mại, dịch vụTháng 3/2026, các hoạt động thương mại, dịch vụ và du lịch trên địa bàn thành phố diễn ra sôi động, góp phần thúc đẩy tiêu dùng và lưu thông hàng hóa. Nổi bật là chuỗi hoạt động văn hóa trong khuôn khổ Festival Huế 2026 được tổ chức xuyên suốt tháng 3 và ba tháng đầu năm, với Lễ hội mùa Xuân “Xuân Cố đô” kéo dài, bao gồm các lễ hội cung đình, lễ hội truyền thống và lễ hội dân gian đặc sắc. Điểm nhấn là Chương trình Công bố Festival Huế 2026, tái hiện Lễ Ban Sóc cùng nhiều hoạt động Tết cung đình và dân gian phong phú, tái hiện không gian văn hóa Tết cổ truyền của Kinh đô Huế xưa gắn với kỷ niệm Ngày Giải phóng Huế.... Các hoạt động văn hóa mang đậm bản sắc đã thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước đến tham quan, trải nghiệm và mua sắm, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương.Kết quả hoạt động thương mại, dịch vụ và vận tải trên địa bàn thành phố quý I năm 2026 ước đạt như sau:9.1. Bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùngThương mại, dịch vụ trong ba tháng đầu năm 2026 tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực khi nhu cầu tiêu dùng gia tăng mạnh trước, trong và sau Tết Nguyên đán, tập trung ở các mặt hàng thiết yếu và tiêu dùng nhanh. Du lịch khởi sắc, lượng khách tăng đã góp phần thúc đẩy hoạt động mua sắm và sử dụng dịch vụ. Cùng với đó, các doanh nghiệp đẩy mạnh khuyến mại, kích cầu tiêu dùng; thu nhập và tâm lý tiêu dùng của người dân dần ổn định, đời sống được cải thiện. Nhờ vậy, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng quý I/2026 ước tăng 18,5% so với cùng kỳ.Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 3/2026 ước đạt 6.162 tỷ đồng, giảm 0,7% so với tháng trước và tăng 19,2% so với cùng kỳ. Chia theo ngành kinh tế: Bán lẻ hàng hóa ước đạt 4.459 tỷ đồng, chiếm 72,3% trong tổng số, tăng 1,0% so với tháng trước và tăng 17,7% so với cùng kỳ; nguyên nhân tăng so với tháng 2 là do trong tháng 3, nhu cầu một số mặt hàng tăng dịp lễ Quốc tế phụ nữ và phong tục cúng đất tháng 2 âm lịch hàng năm của người Huế. Doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống đạt 1.198 tỷ đồng, chiếm 19,5%, tương ứng giảm 6,3% và tăng 20,0%; dịch vụ du lịch lữ hành đạt 33 tỷ đồng, chiếm 0,5%, giảm 17,5% và tăng 24,2%; doanh thu dịch vụ khác đạt 472 tỷ đồng, chiếm 7,7%, giảm 0,4% và tăng 32,7%.Dự ước tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng quý I/2026 đạt 18.408 tỷ đồng, tăng 18,5% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 13.160 tỷ đồng, tăng 16,2%; dịch vụ lưu trú và ăn uống đạt 3.732 tỷ đồng, tăng 23,6%; du lịch lữ hành đạt 109 tỷ đồng, tăng 18,0%; dịch vụ khác đạt 1.407 tỷ đồng, tăng 28,1%. 9.2. Vận tải hành khách và hàng hóaHoạt động vận tải hành khách và hàng hóa trong ba tháng đầu năm 2026 trên địa bàn diễn ra khá sôi động, nhất là trong hai tháng đầu năm khi nhu cầu vận chuyển phục vụ Tết Nguyên đán tăng cao, cả về hàng hóa lẫn hành khách. Sang tháng 3, sau Tết, hoạt động vận tải giảm so với tháng trước. Tuy nhiên, với giá xăng dầu trong nước tăng mạnh theo biến động của giá dầu thế giới (giá xăng tăng 40,96%, giá dầu tăng gần 58% – mức cao nhất kể từ tháng 7/2022) đã làm chi phí nhiên liệu tăng cao, kéo theo giá cước vận tải tăng, qua đó góp phần làm doanh thu vận tải vẫn tăng so với cùng kỳ.Vận tải hành khách tháng 3/2026 ước đạt 4.179,7 nghìn lượt khách, giảm 1,8% so với tháng trước và tăng 21,7% so với cùng kỳ; luân chuyển là 204,3 triệu lượt khách.km, giảm 1,6% và tăng 21,6%. Dự ước vận tải hành khách quý I/2026 đạt 12.381,8 nghìn hành khách, tăng 20,9% và 605,3 triệu hành khách.km, tăng 20,8% so với cùng kỳ.Dự ước hàng hóa vận chuyển tháng 3/2026 ước đạt 2.341,2 nghìn tấn, giảm 0,8% so với tháng trước và tăng 16,2% so với cùng kỳ; hàng hóa luân chuyển đạt 194,8 triệu tấn.km, giảm 0,5% và tăng 15,7%. Đưa hàng hóa vận chuyển quý I/2026 ước đạt 6.983,6 nghìn tấn, tăng 15,9% và luân chuyển đạt 581,8 triệu tấn.km, tăng 15,6% so với cùng kỳ.Dự ước doanh thu vận tải và dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 3/2026 đạt 593,1 tỷ đồng, giảm 0,6% so với tháng trước và tăng 21,3% so với cùng kỳ. Tính chung quý I năm 2026, doanh thu vận tải, bốc xếp ước đạt 1.757,6 tỷ đồng, tăng 20,5% so cùng kỳ. Chia theo loại hình dịch vụ: doanh thu vận tải hành khách ước đạt 382,2 tỷ đồng, tăng 21,2%; vận tải hàng hóa ước đạt 1.203,4 tỷ đồng, tăng 17,8%; dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 172 tỷ đồng, tăng 41,3%. Trong đó doanh thu vận tải bao gồm: đường bộ đạt 1.584 tỷ đồng, tăng 18,6%; đường sông đạt 1,7 tỷ đồng, tăng 24,1%.9.3. Lượt khách các cơ sở lưu trú phục vụ và du lịch lữ hànhTrong tháng 3 và ba tháng đầu năm 2026, hoạt động du lịch trên địa bàn thành phố tiếp tục diễn ra sôi động, được thúc đẩy bởi hiệu ứng từ mùa cao điểm Tết Nguyên đán cùng chuỗi sự kiện, lễ hội và chương trình kích cầu được tổ chức đồng bộ. Các lĩnh vực lưu trú, ăn uống, lữ hành và dịch vụ du lịch chủ động nâng cao chất lượng, đa dạng hóa sản phẩm, góp phần thu hút và giữ chân du khách. Mặc dù bước sang tháng 3, nhu cầu du lịch có xu hướng giảm nhẹ so với tháng trước do yếu tố mùa vụ, song nhìn chung ngành du lịch vẫn duy trì đà tăng trưởng khá so với cùng kỳ năm trước.Lượt khách do cơ sở lưu trú phục vụ tháng 3/2026 ước đạt 250,3 nghìn lượt, giảm 1,1% so với tháng trước và tăng 15,7% so với cùng kỳ. Trong đó, lượt khách ngủ qua đêm tháng 3/2026 ước đạt 213,7 nghìn lượt, tương ứng giảm 0,6% và tăng 18,1%; trong lượt khách ngủ qua đêm: lượt khách Quốc tế 95,2 nghìn lượt, tăng 5,4 và tăng 5,2%; lượt khách trong nước 118,5 nghìn lượt, giảm 5,0% và tăng 31,1%. Lượt khách trong ngày 36,6 nghìn lượt khách, giảm 4,2% và tăng 3,3%.Tính chung quý I/2026 tổng lượt khách phục vụ đạt 716,7 nghìn lượt tăng 18,3% so cùng kỳ. Trong đó lượt khách ngủ qua đêm 3 tháng đầu năm đạt 605,2 nghìn lượt, tăng 20,6% so cùng kỳ. Trong lượt khách ngủ qua đêm, lượt khách Quốc tế 265,6 nghìn lượt, tăng 15,2%; khách trong nước 339,6 nghìn lượt, tăng 25,2%. Lượt khách trong ngày 111,5 nghìn lượt, tăng 7,2%.Ngày khách tháng 3/2026 ước đạt 364,5 nghìn ngày, tăng 0,7% so với tháng trước và tăng 21,4% so với cùng kỳ. Trong đó: ngày khách quốc tế 173,7 nghìn ngày, tương ứng tăng 5,2% và tăng 11,2%; ngày khách trong nước 190,8 nghìn ngày, giảm 3,1% và tăng 32,5%. Tính chung quý I/2026 ngày khách đạt 1.028,7 nghìn ngày, tăng 22,3% so với cùng kỳ. Trong đó: ngày khách quốc tế 475 nghìn ngày, tăng 18,5%; ngày khách trong nước 553,7 nghìn ngày, tăng 25,9%.Lượt khách phục vụ của các cơ sở lữ hành thực hiện tháng 3/2026 ước đạt 20,4 nghìn lượt, giảm 8,5% so với tháng trước và tăng 13,5% so với cùng kỳ; Tính chung quý I/2026 lượt khách đạt 61,9 nghìn lượt, tăng 16,1% so với cùng kỳ. Ngày khách theo tour tháng 3/2026 ước đạt 42,8 nghìn ngày, giảm 3,4% so với tháng trước và tăng 14,1% so với cùng kỳ; đưa ngày khách theo tour 3 tháng ước đạt 128,1 nghìn ngày khách, tăng 16,3% so với cùng kỳ.10. Các vấn đề xã hội10.1. Giải quyết việc làmTừ đầu năm đến nay, toàn thành phố đã giải quyết việc làm cho 5.349 người, trong đó đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài 589 người. cho thấy sự phục hồi tích cực của thị trường lao động, đặc biệt ở các lĩnh vực du lịch - dịch vụ, công nghiệp chế biến, chế tạo và thương mại. Chất lượng việc làm từng bước được cải thiện, thu nhập của người lao động có xu hướng tăng so với cùng kỳ. Tổng hợp kết quả khảo sát mức sống dân cư kỳ 1 năm 2026, thu nhập bình quân đầu người của toàn thành phố tăng 10,1% so với cùng kỳ.10.2. Đời sống dân cưTrong ba tháng đầu năm 2026, kinh tế - xã hội ghi nhận những tín hiệu khởi sắc đáng khích lệ khi hoạt động sản xuất kinh doanh của các ngành trọng điểm duy trì đà tăng trưởng ổn định. Sự phục hồi của chuỗi cung ứng và nhu cầu thị trường đã góp phần cải thiện đáng kể các chỉ số về thu nhập, giải quyết việc làm và củng cố hệ thống an sinh xã hội, giúp nâng cao mức sống của đại bộ phận dân cư so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, nền kinh tế vẫn đang đối mặt với những thách thức nội tại và khách quan. Đời sống nhân dân hiện chịu áp lực trực tiếp từ những biến động bất thường của giá cả hàng hóa thế giới, dẫn đến chi phí sinh hoạt thiết yếu leo thang, phần nào bào mòn thành quả thu nhập vừa đạt được. 10.3. Chính sách - xã hộiChính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng được thực hiện kịp thời và đầy đủ; các hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa”, “Uống nước nhớ nguồn” được quan tâm. Nhân dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026, các ngành chức năng phối hợp với chính quyền các cấp đã thăm hỏi, chúc Tết và tặng quà cho các đối tượng chính sách đầy đủ, kịp thời với 141.569 suất quà, tổng kinh phí gần 45 tỷ đồng. Công tác giảm nghèo: UBND thành phố đã chỉ đạo các ngành, địa phương tập trung thực hiện các giải pháp đồng bộ, có hiệu quả chương trình, dự án giảm nghèo; lồng ghép chính sách và nguồn lực có hiệu quả để phát triển kinh tế, thoát nghèo. 10.4. Giáo dục Ngành Giáo dục và Đào tạo thành phố Huế đã đạt được 56 giải thưởng tại Cuộc thi tìm hiểu kiến thức pháp luật về trật tự, an toàn giao thông cấp Quốc gia năm học 2025-2026, trong đó có 04 giải Nhất, 01 giải Nhì, 16 giải Ba và 35 giải Khuyến khích. Kết quả này thể hiện sự quan tâm và nỗ lực của các cơ sở giáo dục trong việc đưa nội dung giáo dục pháp luật về trật tự, an toàn giao thông vào hoạt động dạy học và giáo dục học sinh.Trong hai ngày 21-22/3, Sở GD&ĐT tổ chức kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp THCS năm học 2025-2026 tại Trường THCS Nguyễn Tri Phương. Kỳ thi thu hút 1.385 học sinh lớp 8 và 9 đến từ các trường THCS trên địa bàn thành phố. Đây là những học sinh có kết quả học tập, rèn luyện từ khá trở lên ở học kỳ I và được các trường tuyển chọn, bồi dưỡng.Chiều 22/3, Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức bế mạc và trao giải Cuộc thi khoa học kỹ thuật cấp quốc gia dành cho học sinh THCS, THPT năm học 2025-2026. Học sinh TP Huế đạt được 2 giải thưởng, gồm 1 giải Ba và 1 giải Tư ở lĩnh vực khoa học xã hội và hành vi, qua đó khẳng định năng lực nghiên cứu và sáng tạo của học sinh.10.5. Hoạt động văn hóa, thể thao Bảo tàng Lịch sử tổ chức trưng bày chuyên đề giới thiệu Di sản văn hoá phi vật thể của thành phố Huế với chủ đề “Di sản Văn hóa phi vật thể Huế – Khởi nguồn, sáng tạo và phát triển” tại tỉnh Bắc Ninh, khai mạc vào ngày 27/3/2026; tổ chức triển lãm chuyên đề “Huế – Dấu ấn lịch sử và hành trình vươn lên trong kỷ nguyên mới” và Hội thi tìm hiểu lịch sử “Tự hào trang sử thành Huế” cho các trường THCS thuộc phường Dương Nỗ.Trong tháng, thành phố Huế đã tổ chức nhiều hoạt động thể dục thể thao sôi nổi trong khuôn khổ Đại hội TDTT lần thứ X năm 2026. Nổi bật là giải bắn nỏ thu hút 50 VĐV đến từ 5 đơn vị; giải bi sắt quy tụ 100 VĐV của 13 đơn vị trên địa bàn, đáng chú ý, tại giải bi sắt có sự tham gia của nhiều VĐV từ 70 tuổi trở lên, thể hiện tinh thần thể thao rộng khắp trong cộng đồng. Đến nay, Đại hội đã tổ chức thi đấu 13 môn gồm: Đua ghe, Karate, Taekwondo, đá cầu, bóng chuyền, cầu lông, bóng bàn, Vovinam, cờ vua, cờ tướng, Billiards, bi sắt và bắn nỏ. Bên cạnh đó, sáng 7/3 tại Trung tâm Thanh thiếu nhi thành phố Huế diễn ra giải võ cổ truyền thanh thiếu nhi thành phố Huế mở rộng lần thứ II năm 2026. Hoạt động nhằm chào mừng kỷ niệm 95 năm ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, 51 năm ngày giải phóng Huế, đồng thời hưởng ứng Tháng Thanh niên và Tuần lễ văn hóa – thể thao thanh thiếu nhi lần thứ XXII.Lễ phát động “Cuộc vận động toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”, ngày chạy Olympic “Vì sức khỏe toàn dân – Vì An ninh Tổ quốc” và khai mạc giải việt dã truyền thống lần thứ 34 năm 2026. Sự kiện quy tụ gần 3.000 VĐV đến từ 24 đơn vị tham gia. Tiếp đó, tổ chức giải chạy “Chinh phục đỉnh Bạch Mã năm 2026 – Chung tay bảo tồn đa dạng sinh học”. Hoạt động mang thông điệp ý nghĩa về việc bảo vệ rừng, giữ gìn cảnh quan thiên nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học, đồng thời góp phần gắn kết cộng đồng, thúc đẩy lối sống năng động, lành mạnh.Giải vật bãi biển vô địch Quốc gia 2026 diễn ra từ ngày 8 đến 15/3 tại Bắc Ninh, thu hút gần 600 VĐV đến từ 21 tỉnh, thành, ngành thi đấu. Tại giải lần này, tuyển Huế xuất sắc giành 5 HCV, 3 HCB và 9 HCĐ.10.6. Y tế Trong ba tháng đầu năm, ngành y tế đã tích cực triển khai nhiều biện pháp nhằm kiểm soát cả bệnh không lây nhiễm và bệnh truyền nhiễm. Thành phố Huế chú trọng đẩy mạnh tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng để nâng cao nhận thức của người dân về phòng, chống dịch bệnh. Đồng thời, công tác đảm bảo an toàn thực phẩm cũng được tăng cường thông qua việc tổ chức các đoàn thanh tra, kiểm tra thường xuyên.Tháng 3/2026, trên địa bàn có 17 ca sốt xuất huyết, tăng 2 ca so với cùng kỳ; có 33 ca mắc tay chân miệng, tăng 11 ca so với cùng kỳ. Tính chung quý I/2026, trên địa bàn có 44 ca sốt xuất huyết, giảm 32 ca so với cùng kỳ; có 47 ca mắc tay chân miệng, tăng 6 ca so với cùng kỳ; 1 ca liên cầu lợn, tăng 1 ca so với cùng kỳ.Tháng 2/2026, trên địa bàn đã phát hiện 4 ca nhiễm mới HIV, giảm 8 ca so cùng kỳ; có 1 ca chuyển qua AIDS, giảm 5 ca so với cùng kỳ; không có ca tử vong, bằng cùng kỳ. Hai tháng đầu năm, trên địa bàn có 10 ca nhiễm mới HIV, giảm 10 ca so cùng kỳ; 1 ca chuyển qua AIDS, giảm 5 ca so với cùng kỳ; không có ca tử vong, giảm 1 ca so với cùng kỳ. Hiện tại, trên địa bàn có 601 bệnh nhân đang được quản lý và điều trị tại các cơ sở y tế, trong đó có 596 bệnh nhân điều trị ARV .Tháng 3/2026, trên địa bàn không xảy ra ngộ độc thực phẩm, bằng cùng kỳ. Trong quý I/2026, trên địa bàn không xảy ra ngộ độc thực phẩm, bằng cùng kỳ.10.7. Tình hình trật tự, an toàn xã hội  Theo báo cáo của Ban ATGT thành phố, từ 15/02/2026 đến 14/3/2026, trên địa bàn đã xảy ra 18 vụ tai nạn giao thông, tăng 1 vụ so với cùng kỳ; làm 14 người chết, tăng 6 người so với cùng kỳ; làm bị thương 8 người, giảm 3 người so với cùng kỳ. Tính chung quý I/2026, trên địa bàn xảy ra 39 vụ tai nạn giao thông, giảm 23 vụ so với cùng kỳ; làm chết 30 người, tăng 2 người và làm bị thương 22 người, giảm 24 người so với cùng kỳ.10.8. Tình hình cháy nổ và bảo vệ môi trườngTrong tháng 3/2026 trên địa bàn xảy ra 2 vụ cháy; tăng 2 vụ so với cùng kỳ, tăng 1 vụ so với tháng trước; không gây thiệt hại về người và tài sản. Tính chung quý I/2026, trên địa bàn xảy ra 4 vụ cháy, tăng 2 vụ so với cùng kỳ, không có thiệt hại về người, tổng giá trị thiệt hại 5,4 triệu đồng.Trong tháng 3/2026 trên địa bàn xảy ra 2 vụ vi phạm môi trường, giảm 2 vụ so với cùng kỳ, tăng 2 vụ so với tháng trước. Các hình thức vi phạm: 1 vụ không có giấy phép kinh doanh, giữ chất thải nguy hại quá 12 tháng không báo cáo; 1 vụ khai thác và mua bán khoáng sản trái phép; tiến hành xử lý 4 vụ với số tiền xử phạt 382,8 triệu đồng. Tính chung quý I/2026, trên địa bàn xảy ra 16 vụ, giảm 26 vụ; tiến hành xử lý 18 vụ với số tiền xử phạt 1914,9 triệu đồng.10.9. Thiệt hại do thiên taiTháng 3/2026 không xảy ra thiên tai, bằng cùng kỳ, bằng tháng trước. Trong quý I/2026, trên địa bàn không xảy ra thiên tai, bằng cùng kỳ.Nguồn Cục Thống kê thành phố Huế

BÁO CÁO KINH TẾ XÃ HỘI THÁNG 02 NĂM 2026 THÀNH PHỐ HUẾ
  •   03/03/2026 10:18

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sảnTrong tháng 02/2026, sản xuất nông, lâm, thủy sản trên địa bàn thành phố duy trì ổn định và ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực: diện tích lúa vụ đông xuân đạt 27.587 ha, giảm nhẹ 1,0% so với cùng kỳ nhưng cây lúa sinh trưởng, phát triển tốt; chăn nuôi tiếp tục phục hồi, tổng đàn gia súc, gia cầm đều tăng, trong đó đàn lợn tăng 2,0%, góp phần bảo đảm nguồn cung thực phẩm; lâm nghiệp đạt kết quả khả quan khi sản lượng gỗ khai thác từ rừng trồng tăng 6,4% nhờ giá gỗ ổn định và nhu cầu thu mua tăng, công tác bảo vệ rừng được kiểm soát chặt chẽ, không xảy ra cháy rừng, diện tích vi phạm ở mức thấp; thủy sản tăng trưởng ở cả khai thác và nuôi trồng, riêng khai thác biển tăng 3,2%, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và góp phần nâng cao thu nhập cho người dân.1.1. Nông nghiệp * Trồng trọtTính đến cuối tháng 02/2026, diện tích gieo trồng cây lúa vụ đông xuân toàn thành phố ước đạt 27.587 ha, giảm 1,0% so với cùng kỳ. Hiện nay, điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi, cây lúa sinh trưởng và phát triển tốt; nông dân đang tập trung thực hiện các biện pháp chăm sóc như tỉa dặm, bón phân nhằm bảo đảm năng suất và chất lượng vụ mùa.Diện tích gieo trồng các loại cây hằng năm khác ước đạt: ngô 852 ha, tăng 28,9%; khoai lang 366 ha, giảm 1,9%; đậu các loại 432 ha, tăng 19,7%; lạc 1.534 ha, giảm 23,8%; rau các loại 2.294 ha, tăng 2,7% so với cùng kỳ. Trong năm nay, diện tích gieo trồng ngô và lạc có sự biến động đáng kể. Nguyên nhân chủ yếu do một số diện tích đất bị khô hạn, không còn phù hợp với cây lạc; đồng thời, cây lạc đòi hỏi công chăm sóc lớn nhưng năng suất thấp, hiệu quả kinh tế chưa cao nên người dân chuyển đổi sang trồng ngô để phù hợp điều kiện canh tác và nâng cao thu nhập.Chăn nuôiTrong tháng 02/2026, hoạt động chăn nuôi trên địa bàn tiếp tục xu hướng phục hồi sản xuất và tái đàn sau dịp Tết Nguyên đán, góp phần duy trì quy mô tổng đàn, tạo nền tảng quan trọng để ổn định nguồn cung thực phẩm và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong các tháng tiếp theo. Ước tính đến thời điểm 28/02/2026, tổng đàn gia súc, gia cầm toàn thành phố hiện có: đàn trâu 15.150 con, tăng 0,1%; đàn bò 31.000 con, tăng 10,3%; đàn lợn 158.325 con, tăng 2,0%; đàn gia cầm 5.240 nghìn con, tăng 3,5%, trong đó đàn gà 3.700 nghìn con, tăng 3,9%. Tiến độ tiêm phòng đến ngày 20/02/2026, toàn thành phố đã tiêm được: 11.100 liều Tụ huyết trùng trâu bò (34% kế hoạch), 8.672 liều tam liên lợn (33% KH), 1.010 liều E. coli (16% KH), 83.000 liều Cúm gia cầm (18% KH), 82.600 liều Dịch tả vịt (18% KH) và 169.170 liều các loại vắc xin cho gia cầm.1.2. Lâm nghiệpƯớc diện tích trồng rừng mới tập trung tháng 02/2026 đạt 1.160 ha, giảm 1,2%. Lũy kế từ đầu năm đến nay diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 2.135 ha, tăng 0,5% so với cùng kỳ. Sản lượng gỗ khai thác từ rừng trồng trong tháng 02/2026 ước đạt 23.593 m3, tăng 4,6%. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 sản lượng gỗ khai thác từ rừng trồng ước đạt 54.864 m3, tăng 6,4% so với cùng kỳ. Nguyên nhân sản lượng gỗ khai thác tăng do các nhà máy chế biến dăm gỗ tăng thu mua, đồng thời giá bán gỗ nguyên liệu tăng khá và ổn định.Trong tháng 02 năm 2026 không xảy ra cháy rừng; phá rừng trái pháp luật 2 vụ với diện tích rừng bị phá là 0,05 ha. Lũy kế từ đầu năm đến nay đã xảy ra 3 vụ phá rừng với mục đích lấy đất sản xuất, diện tích bị thiệt hại là 0,06 ha.1.3. Thủy sản- Tình hình khai thác thủy sản: Sản lượng thủy sản khai thác biển trong tháng 02/2026 ước đạt 1.920 tấn, tăng 2,8% so với cùng kỳ; trong đó sản lượng cá khai thác biển 1.660 tấn, tăng 2,8%. Lũy kế sản lượng thủy sản khai thác biển 02 tháng đầu năm 2026 ước đạt 3.700 tấn, tăng 3,2% so với cùng kỳ; trong đó cá khai thác biển 3.224 tấn, tăng 3,2%.- Tình hình nuôi trồng thủy sản: Diện tích nuôi trồng thủy sản thâm canh tháng 02/2026 ước đạt 99 ha, tăng 3,1% so với cùng kỳ, toàn bộ diện tích thả nuôi là tôm thẻ chân trắng. Lũy kế tổng diện tích nuôi trồng thủy sản thâm canh 02 tháng đầu năm 2026 ước đạt 122 ha, tăng 3,4% so với cùng kỳ. Tháng 02/2026 trùng với dịp Tết Nguyên đán nên người dân tập trung thu hoạch các sản phẩm thủy sản như tôm, cá và thủy sản nuôi lồng bè nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng tăng cao trong dịp lễ, qua đó làm sản lượng nuôi trồng trong tháng tăng khá so với cùng kỳ. Sản lượng thủy sản nuôi trồng thu hoạch tháng 02/2026 ước đạt 833 tấn, tăng 4,9% so với cùng kỳ, chia ra cá 365 tấn, tăng 4,0%; tôm các loại 468 tấn, tăng 5,6%. Lũy kế tổng sản lượng thủy sản nuôi trồng thu hoạch 02 tháng đầu năm 2026 ước đạt 1.290 tấn, tăng 4,9% so với cùng kỳ; chia ra cá 740 tấn, tăng 4,4%; tôm các loại 550 tấn, tăng 5,6%. 2. Sản xuất công nghiệp Tháng 02/2026 trùng với kỳ nghỉ Tết Nguyên đán nên thời gian sản xuất thực tế của nhiều doanh nghiệp bị rút ngắn; tuy nhiên, nhờ chủ động xây dựng và triển khai kế hoạch sản xuất ngay từ đầu năm, một số doanh nghiệp vẫn duy trì được nhịp độ sản xuất ổn định ở mức cao. Đồng thời, năng lực sản xuất công nghiệp trên địa bàn tiếp tục được tăng cường khi Eon Industry Việt Nam đưa Nhà máy sản xuất mũ bảo hiểm vào hoạt động và Billionmax Việt Nam mở rộng Nhà máy sản xuất đồ chơi, qua đó tạo thêm động lực tăng trưởng cho toàn ngành. Tính chung 02 tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) ước tăng 16,4% so với cùng kỳ năm trước.Chỉ số IIP tháng 02 năm 2026 tăng 11,0% so với cùng kỳ, trong đó: ngành công nghiệp khai khoáng tăng 12,4%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,3%; sản xuất và phân phối điện tăng 9,5%; cấp nước và thu gom rác thải tăng 7,8%. Tính chung 02 tháng đầu năm 2026 chỉ số IIP tăng 16,4% so với cùng kỳ, trong đó: ngành công nghiệp khai khoáng tăng 37,0%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 20,2%; cấp nước và thu gom rác thải tăng 8,8%; riêng sản xuất và phân phối điện giảm 7,5%.Các ngành công nghiệp cấp 4 trong 02 tháng đầu năm 2026 có chỉ số sản xuất tăng so với cùng kỳ: khai thác quặng kim loại (+28,3%); sản xuất bia (+40,4%); sản xuất sợi (+15,4%); cưa, xẻ, bào gỗ và bảo quản gỗ (+22,4%), Sản xuất sản phẩm khác từ cao su (+19,3%); sản xuất sản phẩm từ plastic (+51,4%); sản xuất đồ chơi (+28,9%); sản xuất khác chưa được phân vào đâu (+7,6 lần); sản xuất ô tô (+68,8%)... Các sản phẩm công nghiệp ước 02 tháng đầu năm 2026 tăng so với cùng kỳ năm trước: quặng inmenit và tinh quặng inmenit 3,7 nghìn tấn (+28,3%); bia 49,0 triệu lít (+38,2%); vỏ bào, dăm gỗ 138,0 nghìn tấn (+22,3%); găng tay, găng hở ngón và găng bao tay bằng cao su lưu hoá 2,5 nghìn tấn (+19,3%); hàng may mặc và đồ phụ trợ may mặc bằng plastic 2,5 nghìn tấn (+1,2 lần); ô tô 647 chiếc (+23,5%)... Bên cạnh những dấu hiệu tích cực, hiện nay một số ngành sản xuất công nghiệp vẫn đang gặp không ít khó khăn, dự ước các ngành công nghiệp cấp 4 trong 02 tháng đầu năm 2026 có chỉ số sản xuất giảm so với cùng kỳ: may trang phục (-4,3%); sản xuất vật liệu xây dựng từ đất sét (-11,0%); sản xuất, truyền tải và phân phối điện (-7,5%)... Các sản phẩm công nghiệp ước 02 tháng đầu năm 2026 giảm so với cùng kỳ: quần áo lót cho người lớn không dệt kim hoặc đan móc 58,2 triệu cái (-4,3%); sản phẩm in khác 37,5 triệu trang (-3,0%); cửa ra vào, cửa sổ, khung và ngưỡng cửa của cửa ra vào bằng plastic 10,3 tấn (-5,8%); điện sản xuất 285,1 triệu Kwh (-13,0%)… Chỉ số sử dụng lao động tháng 02/2026 ước tăng 0,8% so với tháng trước và tăng 9,2% so với cùng kỳ. Tính chung chỉ số sử dụng lao động 02 tháng đầu năm 2026 tăng 8,9% so với cùng kỳ, trong đó tập trung vào một số ngành: sản xuất đồ uống (+41,8%); chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (+27,7%); sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic (+29,0%); sản xuất xe có động cơ (+26,3%); công nghiệp chế biến, chế tạo khác (+1,26 lần). Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số sử dụng lao động giảm đó là: sản xuất chế biến thực phẩm (-12,7%); sản xuất trang phục (-10,2%); sản xuất da và các sản phẩm có liên quan (-4,1%); sản xuất kim loại (-33,3%); sản xuất giường, tủ, bàn, ghế (-2,7%)… 3. Vốn đầu tư Năm 2026, thành phố thể hiện quyết tâm cao trong điều hành và thực hiện kế hoạch đầu tư công theo hướng chủ động, linh hoạt và hiệu quả. Căn cứ các nghị quyết, quyết định đã ban hành, nguồn vốn được phân bổ có trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên các công trình động lực và dự án hạ tầng then chốt có sức lan tỏa lớn, tạo dư địa phát triển dài hạn, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao đời sống nhân dân. Đồng thời đổi mới phương thức quản lý theo hướng công khai, minh bạch, gắn trách nhiệm người đứng đầu với kết quả giải ngân; tăng cường theo dõi, kiểm tra, giám sát, kịp thời tháo gỡ khó khăn, siết chặt kỷ luật tài chính, bảo đảm sử dụng vốn đúng mục đích, tiết kiệm và hiệu quả, qua đó đưa đầu tư công trở thành đòn bẩy chiến lược cho phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn mới.Nguồn vốn ngân sách nhà nước đầu tư trên địa bàn thành phố do địa phương quản lý thực hiện trong tháng 02/2026 ước đạt 636,5 tỷ đồng, bằng 10,2% kế hoạch và tăng 4,7% so với cùng kỳ; trong đó, vốn ngân sách cấp tỉnh đạt 524,3 tỷ đồng, bằng 8,6% kế hoạch và tăng 16,4% so với cùng kỳ. Do tháng 02 năm nay trùng kỳ nghỉ Tết kéo dài nên tiến độ thực hiện một số dự án có chậm hơn so với tháng trước, song nhìn chung vẫn bảo đảm kế hoạch đề ra. Nguồn vốn ngân sách tiếp tục được ưu tiên cho các dự án chuyển tiếp, đồng thời tập trung vào các công trình trọng điểm, mở rộng không gian phát triển mới, nhất là các dự án giao thông liên vùng kết nối đô thị - sân bay - khu kinh tế, khu công nghiệp; hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật đô thị, chỉnh trang không gian công cộng, công viên và hai bờ Sông Hương; đầu tư hạ tầng Khu kinh tế Chân Mây - Lăng Cô và các khu công nghiệp nhằm tạo quỹ đất sạch thu hút đầu tư; cùng với các dự án giáo dục, y tế, văn hóa - xã hội nâng cao chất lượng sống người dân. Một số công trình trọng điểm đang được triển khai gồm: Tuyến đường bộ ven biển qua thành phố và cầu qua cửa Thuận An; đường Tố Hữu kết nối Sân bay Phú Bài; hạ tầng kỹ thuật khu vực xung quanh khu phi thuế quan Chân Mây; đường vành đai 3; xây dựng đường gom, trồng cây xanh kết hợp chỉnh trang khu vực phía đầu cầu Cầu Nguyễn Hoàng (phía phường Thuận Hóa)… Bên cạnh các dự án đang triển khai thi công, trong 02 tháng đầu năm, công tác chuẩn bị đầu tư đối với các dự án dự kiến khởi công mới tiếp tục được thực hiện, song nhiều dự án chưa đủ điều kiện giao kế hoạch do đang hoàn thiện các thủ tục đầu tư. Đặc biệt tại khu kinh tế và khu công nghiệp, một số dự án còn gặp vướng mắc liên quan đến thủ tục xây dựng, đánh giá tác động môi trường, phòng cháy chữa cháy hoặc điều chỉnh quy hoạch, dẫn đến tiến độ triển khai chưa đạt như kỳ vọng.Nhìn chung, nguồn vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn thành phố trong tháng 02/2026 tiếp tục được tập trung cho các dự án lớn chuyển tiếp nhằm bảo đảm hoàn thành đúng mục tiêu, tiến độ đề ra. Lãnh đạo UBND thành phố thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, chỉ đạo các sở, ngành và địa phương tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án trọng điểm. Đồng thời, nhiều dự án thuộc giai đoạn 2026–2030 đang được hoàn thiện hồ sơ để sớm khởi công, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ngân sách nhà nước và thúc đẩy phát triển hạ tầng đô thị, tạo sức hút đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước.4. Thương mại, dịch vụ và giá cả Tháng 02/2026, thời điểm diễn ra Tết Nguyên đán Bính Ngọ, thành phố Huế tổ chức nhiều hoạt động lễ hội và du xuân, tạo không khí sôi động ngay từ đầu năm. Các chương trình văn hóa, lễ hội thu hút đông đảo người dân và du khách đến tham quan, nghỉ dưỡng. Nhu cầu mua sắm, ăn uống, lưu trú tăng cao, góp phần làm tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng khá so với cùng kỳ. Hoạt động vận tải được bảo đảm thông suốt, đáp ứng tốt nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hóa trong dịp cao điểm. Qua đó, khu vực thương mại, dịch vụ và vận tải tiếp tục đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế của thành phố trong những tháng đầu năm.Kết quả hoạt động thương mại, dịch vụ và vận tải trên địa bàn thành phố tháng 02 năm 2026 ước đạt như sau:4.1. Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùngTháng 02/2026 bước vào cao điểm Tết Nguyên đán Bính Ngọ, nhu cầu tiêu dùng của người dân tăng mạnh. Ngay từ đầu tháng, các doanh nghiệp thương mại, hệ thống phân phối hiện đại và chợ truyền thống trên địa bàn đã chủ động xây dựng kế hoạch dự trữ hàng hóa, bảo đảm nguồn cung ổn định, giá cả cơ bản được kiểm soát, đáp ứng tốt nhu cầu mua sắm trước, trong và sau Tết. Cùng với đó, nhiều hoạt động du lịch, văn hóa được tổ chức trong dịp Tết đã thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước đến tham quan, trải nghiệm.Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng dự ước tháng 02 năm 2026 đạt 6.339 tỷ đồng, tăng 4,7% so với tháng trước và tăng 22,9% so với cùng kỳ. Chia theo ngành kinh tế: Bán lẻ hàng hóa ước đạt 4.467 tỷ đồng, chiếm 70,5% trong tổng số, tăng 4,2% so với tháng trước và tăng 19,8% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống ước đạt 1.364 tỷ đồng, chiếm 21,5%, tăng 6,9% so với tháng trước và tăng 30,3% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ lữ hành đạt 38 tỷ đồng, chiếm 0,6%, tăng 8,6% và tăng 25,3%; doanh thu dịch vụ khác đạt 470 tỷ đồng, chiếm 7,4%, tăng 2,2% và tăng 33,5%.Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 02 tháng đầu năm 2026 đạt 12.395 tỷ đồng, tăng 19,4% so với cùng kỳ, trong đó doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 8.752 tỷ đồng, chiếm 70,6% tổng số và tăng 16,2%; dịch vụ lưu trú và ăn uống đạt 2.640 tỷ đồng, chiếm 21,3% và tăng 29,2%; dịch vụ lữ hành đạt 73 tỷ đồng, chiếm 0,6% và tăng 12,6%; dịch vụ khác đạt 930 tỷ đồng, chiếm 7,5% và tăng 25,3%.4.2. Vận tải hành khách và hàng hóaTháng 02 năm nay, do trùng với cao điểm đi lại dịp Tết Nguyên đán, hoạt động vận tải được dự báo sôi động hơn so với thường kỳ. Nhu cầu về quê đón Tết, du xuân, tham quan và vui chơi giải trí của người dân tăng mạnh; đồng thời, việc tăng cường kiểm tra, xử lý vi phạm nồng độ cồn đã góp phần thúc đẩy xu hướng sử dụng phương tiện công cộng ngày càng phổ biến. Sau kỳ nghỉ Tết, lượng người lao động và sinh viên quay trở lại nơi làm việc, học tập tiếp tục làm gia tăng đáng kể lưu lượng hành khách. Song song với đó, vận tải hàng hóa cũng diễn ra nhộn nhịp, bảo đảm cung ứng đầy đủ, kịp thời các mặt hàng phục vụ nhu cầu mua sắm, tiêu dùng trong dịp lễ.Dự ước tháng 02/2026 hành khách vận chuyển đạt 4,3 triệu hành khách, tăng 8,8% so với tháng trước và tăng 24,2% so với cùng kỳ; hành khách luân chuyển đạt 209 triệu hành khách.km, tăng 8,2% so với tháng trước và tăng 23,7% so với cùng kỳ. Đưa hành khách vận chuyển 02 tháng đầu năm 2026 ước đạt 8,2 triệu hành khách, tăng 21,0% so với cùng kỳ và luân chuyển ước đạt 402,2 triệu hành khách.km, tăng 20,8%.Dự ước hàng hóa vận chuyển tháng 02/2026 đạt 2,4 triệu tấn, tăng 5,9% so với tháng trước và tăng 22,2% so với cùng kỳ; hàng hóa luân chuyển đạt 200,9 triệu tấn.km, tăng 5% so với tháng trước và tăng 21,6% so với cùng kỳ. Dự ước hàng hóa vận chuyển 02 tháng đầu năm 2026 đạt 4,7 triệu tấn, tăng 17,2% so với cùng kỳ và luân chuyển ước đạt 392,2 triệu tấn.km, tăng 17,1%. Dự ước doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 02/2026 đạt 604,2 tỷ đồng, tăng 6,4% so với tháng trước và tăng 25,3% so với cùng kỳ. Tính chung 02 tháng đầu năm 2026, doanh thu vận tải, bốc xếp ước đạt 1.171,9 tỷ đồng, tăng 20,9% so với cùng kỳ. Chia theo loại hình dịch vụ: doanh thu vận tải hành khách ước đạt 253,3 tỷ đồng, tăng 20,5% so với cùng kỳ; vận tải hàng hóa ước đạt 804,3 tỷ đồng, tăng 18,9%; dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 114,3 tỷ đồng, tăng 38,6%. Trong đó doanh thu vận tải bao gồm: đường bộ đạt 1.056,5 tỷ đồng, tăng 19,2%; đường sông đạt 1,1 tỷ đồng, tăng 22,5%.4.3. Lượt khách các cơ sở lưu trú phục vụ và du lịch lữ hànhTháng 02/2026, nhân dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ, trên địa bàn thành phố diễn ra nhiều hoạt động, lễ hội đặc sắc phục vụ Nhân dân và du khách: tại Hoàng cung đã diễn ra nhiều hoạt động xuyên dịp tết tạo không khí đón Xuân đậm đà bản sắc truyền thống (từ Lễ Dựng nêu, Lễ Thiết triều Nguyên đán, chương trình Tết Hoàng cung, đón Giao thừa, các chương trình phục vụ tết và Lễ Hạ nêu); lễ hội Đền Huyền Trân; hội vật Làng Sình;... đã thu hút số lượng lớn khách Quốc tế và khách trong nước đến Huế tham quan, nghỉ dưỡng. Những hoạt động này tiếp tục khẳng định sức hấp dẫn mạnh mẽ của Huế, là điểm đến di sản trong những ngày đầu Xuân mới.Dự ước lượt khách do cơ sở lưu trú phục vụ tháng 02/2026 đạt 259,7 nghìn lượt khách, tăng 21,8% so với tháng trước và tăng 29,1% so với cùng kỳ. Trong đó, lượt khách ngủ qua đêm tháng 02/2026 ước đạt 221,5 nghìn lượt khách, tăng 25,4% và tăng 32,8%; lượt khách trong ngày đạt 38,1 nghìn lượt khách, tăng 3,8% và tăng 11,1%. Trong số lượt khách ngủ qua đêm: lượt khách Quốc tế tháng 02/2026 ước đạt 96,3 nghìn lượt tăng 21,1% so với cùng kỳ, lượt khách trong nước ước đạt 125,2 nghìn lượt tăng 43,5% so với cùng kỳ. Đưa tổng lượt khách phục vụ 02 tháng đầu năm đạt 472,9 nghìn lượt tăng 21,4% so với cùng kỳ; lượt khách ngủ qua đêm 02 tháng đầu năm đạt 398,1 nghìn lượt tăng 24,0% so với cùng kỳ; lượt khách trong ngày đạt 74,9 nghìn lượt, tăng 9,2%. Trong lượt khách ngủ qua đêm: khách Quốc tế đạt 176,5 nghìn lượt tăng 26,0% so với cùng kỳ; khách trong nước đạt 221,6 nghìn lượt, tăng 22,5%. Ngày khách dự ước tháng 02/2026 đạt 379,3 nghìn ngày, tăng 16,7% so với tháng trước và tăng 36,9% so với cùng kỳ. Trong đó: ngày khách quốc tế đạt 182,3 nghìn ngày, tăng 19,7% so với tháng trước và tăng 33,2% so với cùng kỳ; ngày khách trong nước đạt 197 nghìn ngày, tăng 14,0% so với tháng trước và tăng 40,5% so với cùng kỳ. Đưa ngày khách dự ước 02 tháng đầu năm đạt 704,3 nghìn ngày, tăng 30,3% so với cùng kỳ. Trong đó: ngày khách quốc tế đạt 334,6 nghìn ngày, tăng 36,7%; ngày khách trong nước đạt 369,8 nghìn ngày, tăng 25,0%.Lượt khách phục vụ của các cơ sở lữ hành thực hiện tháng 02/2026 ước đạt 22,3 nghìn lượt, tăng 16,1% so với tháng trước và tăng 26,0% so với cùng kỳ; đưa lượt khách 02 tháng đầu năm ước đạt 41,5 nghìn lượt, tăng 17,4% so với cùng kỳ. Ngày khách theo tour ước thực hiện tháng 02/2026 là 44,9 nghìn ngày, tăng 9,5% so với tháng trước và tăng 25,5% so với cùng kỳ. Đưa ngày khách theo tour 02 tháng đầu năm ước đạt 85,9 nghìn ngày, tăng 18,4% so với cùng kỳ.4.4. Giá cả- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)Chỉ số giá tiêu dùng chung trên địa bàn trong tháng 02/2026 tăng 2,54% so với tháng trước. Nguyên nhân tăng là do nhu cầu tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ của người dân tăng cao trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ, đặc biệt là các mặt hàng thực phẩm, đồ uống, may mặc và vui chơi giải trí, cùng với đó là sự điều chỉnh tăng giá xăng dầu. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính, có 10 nhóm tăng giá so với tháng trước và 01 nhóm ổn định so với tháng trước. Cụ thể: Các nhóm tăng giá gồm: hàng ăn và dịch vụ ăn uống (+4,02%); nhà ở, điện nước, chất đốt và VLXD (+2,34%); thiết bị và đồ dùng gia đình (+1,12%); đồ uống và thuốc lá (+1,46%); may mặc, mũ nón, giày dép (+0,31%); giao thông (+1,49%); văn hóa, giải trí và du lịch (+2,81%); hàng hóa và dịch vụ khác (+2,45%); thông tin và truyền thông (+0,10%); thuốc và dịch vụ y tế (+0,04%). Nhóm giáo dục ổn định so với tháng trước.Chỉ số giá tiêu dùng chung toàn thành phố tháng 02/2026 tăng 2,82% so với tháng 12 năm trước và tăng 5,08% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 02 tháng đầu năm 2026 tăng 3,65% so với bình quân cùng kỳ năm trước, trong đó một số nhóm hàng hóa và dịch vụ tăng khá như: nhà ở, điện nước, vật liệu xây dựng tăng 7,78%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 4,87%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,61%; giáo dục tăng 3,77%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 3,55%.- Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ Chỉ số giá vàng tháng 02/2026 tăng 11,39% so với tháng trước, tăng 17,22% so với tháng 12 năm trước và tăng 88,34% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 02/2026 giảm 0,84% so với tháng trước, giảm 0,93% so với tháng 12 năm trước và tăng 2,43% so với cùng kỳ năm trước.5. Tài chính, ngân hàng5.1. Tài chính:Tổng thu ngân sách trên địa bàn 02 tháng năm 2026 ước đạt 2.949 tỷ đồng, bằng 18,4% dự toán năm. Trong đó: Thu nội địa ước đạt 2.666,5 tỷ đồng, bằng 18,3% dự toán; thu thuế từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 277,3 tỷ đồng, bằng 19,1% dự toán. Trong thu nội địa: Thu doanh nghiệp Nhà nước ước đạt 90 tỷ đồng, bằng 17,6% dự toán; thu doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 935 tỷ đồng, bằng 20,4% dự toán; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 492 tỷ đồng, bằng 21,4% dự toán; thuế thu nhập cá nhân 145 tỷ đồng, bằng 19,3% dự toán; thuế bảo vệ môi trường 80 tỷ đồng, bằng 20% dự toán.Tổng chi ngân sách địa phương 02 tháng năm 2026 ước đạt 1.898 tỷ đồng, bằng 10,3% dự toán, trong đó chi đầu tư phát triển 158 tỷ đồng, bằng 3,4% dự toán; chi thường xuyên 1.680 tỷ đồng, bằng 14,5% dự toán.                                    5.2. Ngân hàng:Tổng nguồn vốn huy động đến cuối tháng 02 năm 2026 ước đạt 90,5 nghìn tỷ đồng, tăng 1,16% so với cuối năm 2025; tổng dư nợ tín dụng ước đạt 96,9 nghìn tỷ đồng, tăng 1,14% so với cuối năm 2025.Các TCTD trên địa bàn thành phố Huế tiếp tục chú trọng cho vay các lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ. Tín dụng đối với nông nghiệp nông thôn ước đạt 18.400 tỷ đồng, tăng 2,42% so với cuối năm 2025; tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa ước đạt 17.500 tỷ đồng, tăng 1,56% so với cuối năm 2025; tín dụng đối với xuất khẩu ước đạt 6.000 tỷ đồng, tăng 4,11% so với cuối năm 2025; cho vay công nghiệp hỗ trợ ước đạt 1.600 tỷ đồng, giảm 4,4% so với cuối năm 2025. Trên địa bàn chưa phát sinh dư nợ cho vay doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao.6. Các vấn đề xã hội6.1. Chính sách – xã hộiNhân dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026, ngành chức năng phối hợp với chính quyền các cấp đã thăm hỏi, chúc Tết và tặng quà cho các đối tượng từ ngân sách Nhà nước và các nguồn xã hội hóa trên địa bàn toàn thành phố với 141.569 suất quà, tổng kinh phí gần 45 tỷ đồng. Hoạt động thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước trong việc chăm lo đời sống nhân dân, đảm bảo thực hiện đầy đủ, kịp thời và đúng chính sách đối với các đối tượng thụ hưởng. 6.2. Giáo dục - Đào tạoThành phố Huế tổ chức sơ kết học kỳ I năm học 2025-2026, tiếp tục ghi nhận nhiều kết quả tích cực, khẳng định chất lượng giáo dục toàn diện và phát triển bền vững. Tổ chức vòng sơ khảo chọn học sinh giỏi tham gia cuộc thi “Tranh biện tiếng Anh cấp THCS”, tạo sân chơi bổ ích, góp phần nâng cao năng lực ngoại ngữ. Đồng thời, lễ tuyên dương, khen thưởng học sinh đạt thành tích cao tại kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia năm học 2025-2026 được tổ chức trang trọng, lan tỏa tinh thần hiếu học. Bên cạnh đó, tại Hội báo Xuân, sự góp mặt của Ấn phẩm Giáo dục và Đào tạo thành phố Huế không chỉ góp phần quảng bá hình ảnh của ngành, mà còn ghi nhận những đổi mới trong dạy học, đẩy mạnh chuyển đổi số, tăng cường giáo dục kỹ năng sống và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.6.3. Hoạt động văn hóa, thể thaoTrong tháng 02, thành phố Huế tổ chức các hoạt động văn hóa đặc sắc. Nổi bật là Lễ dâng hoa kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Hội báo Xuân Bính Ngọ 2026; cùng chương trình nghệ thuật mừng Đảng, mừng Xuân với chủ đề “Mừng Đảng, mừng Xuân, mừng đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam”. Bên cạnh đó, các lễ hội truyền thống và hoạt động thể thao dân gian như đu tiên, vật, đua ghe, cầu ngư cùng nhiều hoạt động văn hóa thể thao khác tiếp tục thu hút sự tham gia đông đảo của người dân. Các hoạt động được tổ chức chu đáo, đảm bảo công tác an ninh trật tự, vệ sinh môi trường, phòng chống cháy nổ và an toàn giao thông. Giải Cờ vua, Cờ tướng các nhóm tuổi Trẻ miền Trung lần thứ XXII năm 2026 được tổ chức trong không khí phấn khởi chào mừng 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 – 03/02/2026, 80 năm ngày thể thao Việt Nam, đồng thời hưởng ứng cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”. Giải thu hút gần 700 huấn luyện viên, VĐV đến từ 20 đơn vị, địa phương trong cả nước.6.4. Tình hình y tế, dịch bệnh, ngộ độc thực phẩmTháng 02/2026, trên địa bàn có 10 ca sốt xuất huyết, giảm 11 ca so với cùng kỳ; có 7 ca mắc tay chân miệng, giảm 6 ca so với cùng kỳ. Hai tháng đầu năm, thành phố có 27 ca sốt xuất huyết, giảm 34 ca so với cùng kỳ; có 14 ca mắc tay chân miệng, giảm 5 ca so với cùng kỳ; 1 ca liên cầu lợn, tăng 1 ca so với cùng kỳ.Tháng 01/2026, trên địa bàn đã phát hiện 6 ca nhiễm mới HIV, giảm 2 ca so với cùng kỳ; không có ca chuyển qua AIDS, bằng cùng kỳ; không có ca tử vong, giảm 1 ca so với cùng kỳ. Hiện tại, trên địa bàn có 598 bệnh nhân đang được quản lý và điều trị tại các cơ sở y tế, trong đó có 593 bệnh nhân điều trị ARV.Hai tháng đầu năm 2026, trên địa bàn không xảy ra ngộ độc thực phẩm, bằng cùng kỳ.6.5. Tình hình trật tự an toàn xã hộiTheo báo cáo của Ban ATGT thành phố, từ 15/01/2026 đến 14/02/2026, trên địa bàn đã xảy ra 12 vụ tai nạn giao thông, giảm 4 vụ so với cùng kỳ; làm 9 người chết, tăng 1 người so với cùng kỳ; làm bị thương 9 người, giảm 5 người so với cùng kỳ. Hai tháng đầu năm, trên địa bàn xảy ra 21 vụ tai nạn giao thông, giảm 24 vụ so với cùng kỳ; làm chết 16 người, giảm 4 người và làm bị thương 14 người, giảm 21 người so với cùng kỳ.*Tình hình trật tự an toàn giao thông Tết Bính Ngọ năm 2026Trong dịp Tết Bính Ngọ, trên địa bàn đã xảy ra 5 vụ tai nạn giao thông, giảm 4 vụ so với cùng kỳ; chết 3 người, bằng cùng kỳ và có 4 người bị thương, giảm 8 người so với cùng kỳ.6.6. Tình hình cháy nổ và bảo vệ môi trườngTrong tháng 02/2026 trên địa bàn xảy ra 1 vụ cháy; giảm 1 vụ so với cùng kỳ, bằng tháng trước. Cụ thể, cháy thiết bị truyền tải điện; nguyên nhân do sự cố hệ thống điện; thiệt hại ước khoảng 3,4 triệu đồng, không có thiệt hại về người. Hai tháng đầu năm, trên địa bàn xảy ra 2 vụ cháy, bằng cùng kỳ, không có thiệt hại về người, tổng giá trị thiệt hại 5,4 triệu đồng. Tháng 02/2026 trên địa bàn không xảy ra vi phạm môi trường, giảm 14 vụ so với cùng kỳ, giảm 14 vụ so với tháng trước. Hai tháng đầu năm, trên địa bàn xảy ra 14 vụ, giảm 24 vụ; tiến hành xử lý 14 vụ với số tiền xử phạt 1,5 tỷ đồng.6.7. Thiệt hại do thiên taiTháng 02/2026 trên địa bàn không xảy ra thiên tai, bằng cùng kỳ, bằng tháng trước. Hai tháng đầu năm, trên địa bàn không xảy ra thiên tai, bằng cùng kỳ./.Nguồn Thống kê thành phố Huế

BÁO CÁO KINH TẾ XÃ HỘI THÁNG 01 NĂM 206 THÀNH PHỐ HUẾ
  •   03/02/2026 16:17

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Tháng 01/2026, hoạt động sản xuất nông, lâm, thủy sản trên địa bàn thành phố diễn ra trong điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi. Sản xuất nông nghiệp đạt kết quả tích cực với diện tích gieo trồng lúa Đông Xuân tăng 1,7% so với cùng kỳ, chăn nuôi từng bước phục hồi và duy trì mức tăng trưởng khá, đàn lợn tăng 1,7%. Công tác phòng, chống dịch bệnh, tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm được triển khai đồng bộ, góp phần bảo đảm an toàn cho đàn vật nuôi. Sản xuất lâm nghiệp tiếp tục phát triển, sản lượng gỗ khai thác từ rừng trồng tăng 7,8%, tình hình cháy rừng được kiểm soát. Lĩnh vực thủy sản đạt kết quả khả quan nhờ trúng vụ cá trích đầu mùa và mở rộng nuôi trồng, sản lượng khai thác ước tăng 3,6% so với cùng kỳ. 1.1. Nông nghiệp  * Trồng trọt Vụ Đông Xuân năm 2026, thời tiết khá thuận lợi, nắng ấm, ít mưa hơn những năm trước nên tiến độ gieo trồng các loại cây hằng năm tăng. Các địa phương chủ động kiểm tra hệ thống hồ đập, trạm bơm, kênh mương tưới, tiêu để bảo đảm đủ nước phục vụ sản xuất. Đồng thời, huy động máy móc, phương tiện cơ giới làm đất, vệ sinh đồng ruộng và tổ chức gieo sạ các giống lúa dài ngày theo kế hoạch. Cùng với công tác xuống giống, nông dân được hướng dẫn cày lật đất, diệt cỏ dại, vệ sinh đồng ruộng, tiếp tục cày bừa để đẩy nhanh tiến độ gieo sạ trên những diện tích còn lại, phấn đấu hoàn thành kế hoạch đề ra. Bên cạnh đó, thường xuyên theo dõi diễn biến thời tiết, vận hành tối đa các trạm bơm và bổ sung máy bơm dầu để kịp thời tiêu úng khi có mưa lớn. Đến ngày 20/01/2026, diện tích gieo sạ lúa vụ Đông Xuân trên toàn thành phố ước đạt 26.497 ha, đạt 96,2% kế hoạch, tăng 1,7% so với cùng kỳ. Diện tích gieo trồng các loại cây hằng năm khác: ngô 203 ha, tăng 1,5%; khoai lang 242 ha, tăng 3,0%; lạc 434 ha, tăng 3,1%; rau các loại 1.618 ha, tăng 1,8%; đậu các loại 115 ha, tăng 2,7% so với cùng kỳ. * Chăn nuôi Trong tháng 01/2026, sau ảnh hưởng của dịch tả lợn châu Phi và bệnh liên cầu khuẩn lợn, hoạt động chăn nuôi trên địa bàn tiếp tục phục hồi và phát triển ổn định, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng tăng cao trong dịp lễ, Tết. Công tác quản lý chăn nuôi và giết mổ được tăng cường; các cơ sở chăn nuôi quy mô lớn từng bước di dời ra khỏi khu dân cư, gia súc được đưa vào giết mổ tại các lò mổ tập trung, góp phần hạn chế ô nhiễm môi trường và nguy cơ lây lan dịch bệnh. Chăn nuôi trâu, bò tiếp tục duy trì mức tăng trưởng. Ước đến ngày 31/01/2026, đàn trâu 14.270 con, tăng 0,2%; đàn bò 30.501 con, tăng 4,3% so với cùng kỳ. Đàn bò tăng khá chủ yếu nhờ sự hỗ trợ bò giống từ Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030. Tính đến tháng 01/2026, dự án hỗ trợ giảm nghèo đã cấp 2.760 con bò cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số và hộ nghèo khu vực nông thôn, góp phần phát triển sinh kế và giảm nghèo bền vững. Chăn nuôi lợn, sau thời gian bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh, đàn lợn từng bước phục hồi. Đến ngày 31/01/2026, tổng đàn lợn 156.390 con, tăng 1,7% so với cùng kỳ, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong dịp cao điểm cuối năm. Chăn nuôi gia cầm, quy mô đàn tiếp tục tăng trưởng ổn định. Ước đến thời điểm 31/01/2026, đàn gia cầm 5.170 nghìn con, tăng 3,0%; trong đó đàn gà 3.654 nghìn con, tăng 3,4% so với cùng kỳ. Về công tác phòng, chống dịch bệnh và tiêm phòng, Chi cục Thú y đã phối hợp với các địa phương triển khai đồng bộ các biện pháp giám sát, tiêm vắc-xin cho đàn gia súc, gia cầm, đặc biệt đối với các đối tượng thuộc các chương trình, dự án hỗ trợ giảm nghèo. Đến ngày 20/01/2026, toàn địa bàn đã tiêm được 1.290 liều THT Trâu bò (đạt 4% KH), 1.610 liều tam liên (7% KH), 270 liều E.coli (5% KH); đậu gà 15.770 liều (16% KH), 24.000 liều Cúm gia cầm (6% KH), 20.000 liều Dịch tả vịt (5% KH), 14.100 liều Newcastle (7% KH), 2.100 liều THT gia cầm (7% KH), 16.350 liều Gumboro (8% KH). 1.2. Lâm nghiệp Ước diện tích trồng rừng mới tập trung tháng 01/2026 đạt 975 ha, tăng 2,6% so với cùng kỳ. Nguyên nhân tăng do thời tiết năm nay thuận lợi cho trồng mới rừng. Sản lượng gỗ khai thác từ rừng trồng tháng 01/2026 ước đạt 31.271 m3, tăng 7,8% so với cùng kỳ. Sản lượng gỗ khai thác tăng do các nhà máy chế biến dăm gỗ tăng thu mua, đồng thời giá bán gỗ nguyên liệu tăng khá và ổn định. Trong tháng 01/2026 không xảy ra cháy rừng; xảy ra phá rừng trái pháp luật 1 vụ với diện tích rừng bị phá là 0,014 ha.  1.3. Thủy sản       * Khai thác thủy sản  Trong những ngày đầu năm 2026, thời tiết trên địa bàn thành phố khá thuận lợi, sương mù xuất hiện vào sáng sớm. Theo kinh nghiệm của ngư dân địa phương, đây là thời điểm cá trích thường về nhiều. Được xem là “lộc biển” đầu mùa, vụ cá trích không chỉ mang lại niềm vui mà còn tiếp thêm động lực để ngư dân yên tâm vươn khơi, bám biển. Nhờ trúng vụ cá trích đầu mùa, các tàu thuyền khai thác gần bờ đạt sản lượng cao, góp phần làm cho sản lượng khai thác biển trong tháng tăng khá. Sản lượng thủy sản khai thác biển trong tháng 01/2026 ước đạt 1.780 tấn, tăng 3,6% so với cùng kỳ. Trong đó sản lượng cá khai thác biển 1.564 tấn, tăng 3,6%; sản lượng thủy sản khác khai thác biển 197 tấn, tăng 3,4% so với cùng kỳ.  * Nuôi trồng thủy sản Diện tích nuôi trồng thủy sản thâm canh tháng 01/2026 ước đạt 23 ha, tăng 4,5% so với cùng kỳ, toàn bộ diện tích thả nuôi là tôm thẻ chân trắng.  Sản lượng thủy sản nuôi trồng thu hoạch tháng 01/2026 ước đạt 457 tấn, tăng 4,8% so với cùng kỳ. Chia ra cá 375 tấn, tăng 4,7%; tôm các loại 82 tấn, tăng 5,1%; trong đó tôm thẻ chân trắng 76 tấn, tăng 5,6% so với cùng kỳ.      2. Sản xuất công nghiệp Tháng 01/2026, sản xuất công nghiệp trên địa bàn thành phố ước đạt mức tăng trưởng khá. Kết quả này chủ yếu do thời gian hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp kéo dài hơn so với cùng kỳ, đồng thời các đơn vị đẩy mạnh sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong dịp Tết Nguyên đán. Bên cạnh đó, ngay từ đầu năm 2026, ngành công nghiệp địa phương được bổ sung thêm năng lực sản xuất từ Nhà máy mũ bảo hiểm Eon Industry Việt Nam và việc mở rộng quy mô Nhà máy sản xuất đồ chơi Billionmax Việt Nam. Tuy nhiên, lĩnh vực sản xuất, truyền tải và phân phối điện sau giai đoạn tăng trưởng cao đã có dấu hiệu chững lại, làm ảnh hưởng đáng kể đến tốc độ tăng trưởng chung của toàn ngành công nghiệp. Ước tính, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 01/2026 tăng 10,1% so với cùng kỳ. Chỉ số IIP tháng 01/2026 tăng 10,1% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó: ngành công nghiệp khai khoáng tăng 15,2%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,9%; cấp nước và thu gom rác thải tăng 4,2%. Riêng sản xuất và phân phối điện giảm 4,4%. Các ngành công nghiệp cấp 4 trong tháng đầu năm 2025 có chỉ số sản xuất tăng so với cùng kỳ: Khai thác quặng kim loại (+69,5%); sản xuất bia (+14,4%); sản xuất sợi (+17,9%); cưa, xẻ, bào gỗ và bảo quản gỗ (+26,3%); sản xuất sản phẩm khác từ cao su (+26,7%); sản xuất sản phẩm từ plastic (+47,7%); sản xuất sản phẩm từ chất khoáng phi kim loại khác chưa được phân vào đâu (+2,1 lần); sản xuất đồ chơi (+24,5%); sản xuất khác chưa được phân vào đâu (+10,2 lần); ... Bên cạnh những dấu hiệu tích cực, một số ít ngành sản xuất công nghiệp vẫn đang gặp khó khăn, dự ước các ngành công nghiệp cấp 4 trong tháng đầu năm 2025 có chỉ số sản xuất giảm so với cùng kỳ: chế biến, bảo quản thuỷ sản và các sản phẩm từ thuỷ sản (-0,5%); may trang phục (-1,8%); sản xuất, truyền tải và phân phối điện (-4,4%). Các sản phẩm công nghiệp ước tháng 01/2026 tăng so với cùng kỳ năm trước: Quặng inmenit 1,5 nghìn tấn (+69,5%); bia đóng chai 8,2 triệu lít (+9,3%); bia đóng lon 18,5 triệu lít (+15,6%); sợi 8,7 nghìn tấn (+17,9%), vỏ bào, dăm gỗ 60,1 nghìn tấn (+26,3%); găng tay, găng hở ngón và găng bao tay bằng cao su lưu hoá 1,2 nghìn tấn (+26,7%); hàng may mặc và đồ phụ trợ may mặc bằng plastic 1,2 nghìn tấn (+2,1 lần); ô tô 203 chiếc (+3,5%)... Các sản phẩm công nghiệp ước tháng 01/2026 giảm so với cùng kỳ: Tôm đông lạnh 215,9 tấn (-0,5%); quần áo lót cho người lớn không dệt kim hoặc đan móc 29,7 nghìn cái (-1,8%); các hợp chất từ cao su tổng hợp và cao su tự nhiên 20,0 tấn (-9,1%); cửa ra vào, cửa sổ, khung và ngưỡng cửa của cửa ra vào bằng plastic 5,1 tấn (-14,0%); điện sản xuất 186,6 triệu Kwh (-6,8%)... Chỉ số sử dụng lao động tháng 01/2026 ước 1,2% so với tháng trước và tăng 9,0% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó tập trung vào một số ngành như: Sản xuất đồ uống (+41,0%), chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (+6,4%), sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic (+37,4%), sản xuất xe có động cơ (+31,8%), công nghiệp chế biến, chế tạo khác (+1,3 lần). Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số sử dụng lao động giảm đó là: Sản xuất chế biến thực phẩm (-12,3%), sản xuất trang phục (-8,4%), sản xuất da và các sản phẩm có liên quan (-4,2%), sản xuất kim loại (-33,3%), sản xuất giường, tủ, bàn, ghế (-12,4%)... 3. Vốn đầu tư Căn cứ Nghị quyết số 107/NQ-HĐND ngày 08/12/2025 và Quyết định số 3991/QĐ-UBND ngày 29/12/2025, thành phố Huế đã chủ động phân bổ, quản lý và sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư công năm 2026 theo đúng quy định, tập trung cho các công trình, dự án trọng điểm, có tính lan tỏa cao, góp phần hoàn thiện hạ tầng kinh tế - xã hội và nâng cao đời sống nhân dân. Đồng thời, công tác theo dõi, kiểm tra, giám sát được tăng cường nhằm bảo đảm sử dụng vốn đúng mục đích, hạn chế thất thoát, lãng phí. Trong tháng 01/2026, nguồn vốn ngân sách Nhà nước đầu tư trên địa bàn thành phố Huế do địa phương quản lý đạt 316,6 tỷ đồng, bằng 5,2% kế hoạch năm, tăng 14,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn ngân sách cấp tỉnh ước đạt 258,6 tỷ đồng, tương đương 5,0% kế hoạch, tăng 31,3% so với cùng kỳ. Kết quả tăng trưởng trên chủ yếu do tháng 01/2025 trùng với dịp Tết Nguyên đán kéo dài, ảnh hưởng đến tiến độ triển khai các dự án. Bên cạnh đó, trong tháng 01/2026, thời tiết thuận lợi, ít mưa, tạo điều kiện cho các công trình đẩy nhanh tiến độ thi công. Nguồn vốn ngân sách Nhà nước do thành phố quản lý trong tháng 01/2026 tập trung đầu tư vào các công trình hạ tầng giao thông trọng điểm như: tuyến đường bộ ven biển qua thành phố và cầu qua cửa Thuận An; đường Tố Hữu nối sân bay Phú Bài; đường vành đai 3; trụ sở làm việc Công an thành phố... Nguồn vốn ngân sách cấp xã, phường chủ yếu được bố trí cho các dự án hạ tầng kỹ thuật tại khu tái định cư Phú Hồ, An Vân Dương... và các công trình hạ tầng nông thôn như công trình thoát lũ, sửa chữa, nâng cấp các tuyến đường giao thông liên xã. Thời gian qua, lãnh đạo UBND thành phố thường xuyên chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc và tháo gỡ khó khăn, nhằm đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án đầu tư công, nhất là các công trình trọng điểm. Đồng thời, nhiều dự án giai đoạn 2026-2030 đang được hoàn thiện thủ tục để sớm triển khai, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, phát triển hạ tầng và thu hút đầu tư trong và ngoài nước. 4. Thương mại, dịch vụ và giá cả Tháng 01/2026, trên địa bàn thành phố diễn ra nhiều sự kiện văn hóa, chính trị và du lịch quan trọng, tạo nên không khí sôi động, phấn khởi, thu hút đông đảo người dân và du khách. Qua đó, góp phần thúc đẩy tiêu dùng và lưu thông hàng hóa. Nổi bật là Chương trình Công bố Festival Huế 2026 và Tái hiện Lễ Ban Sóc diễn ra vào ngày 01/01/2026, Lễ hội mùa Xuân “Xuân Cố đô”, các hoạt động chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, cùng nhiều sự kiện đón chào năm mới. Các hoạt động này không chỉ góp phần quảng bá hình ảnh văn hóa Huế mà còn kích thích nhu cầu du lịch, vui chơi, mua sắm và sử dụng dịch vụ của người dân và du khách. Kết quả hoạt động thương mại, dịch vụ và vận tải trên địa bàn thành phố tháng 01/2026 ước đạt như sau: 4.1. Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Tháng 01 năm nay, thời tiết khá đẹp, tạo điều kiện thuận lợi để nhiều hoạt động diễn ra sôi nổi, phục vụ công tác chuẩn bị chào đón năm mới và các sự kiện chào mừng Lễ hội mùa Xuân – Festival Huế 2026. Bên cạnh đó, hoạt động thương mại trên địa bàn duy trì ổn định và có xu hướng tăng so với tháng trước. Các doanh nghiệp phân phối, hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại và chợ truyền thống đã chủ động chuẩn bị nguồn hàng, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng Tết trong thời gian tới. Nguồn cung hàng hóa trên thị trường cơ bản được bảo đảm, giá cả ổn định; sức mua có xu hướng tăng khi người dân bước vào giai đoạn cao điểm chi tiêu phục vụ dịp Tết. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 01/2026 ước đạt 5.853 tỷ đồng, tăng 5,1% so với tháng trước và tăng 10,7% so với cùng kỳ. Chia theo ngành kinh tế: Bán lẻ hàng hóa ước đạt 4.136 tỷ đồng, chiếm 70,7% tổng số, tăng 5,8% so với tháng trước và tăng 10,1% so với cùng kỳ, mức tăng chủ yếu tập trung ở các nhóm hàng tiêu dùng thiết yếu, hàng may mặc, đồ dùng gia đình và nhiên liệu, phản ánh xu hướng mua sắm, tích trữ phục vụ Tết bắt đầu gia tăng nhưng chưa bước vào giai đoạn cao điểm. Doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống ước đạt 1.219 tỷ đồng, chiếm 20,8%, tăng 2,9% so với tháng trước và tăng 16,3% so với cùng kỳ. Hoạt động du lịch lữ hành đạt 34 tỷ đồng, chiếm 0,6%, tăng 3,0% so với tháng trước và tăng 7,2% so với cùng kỳ. Doanh thu dịch vụ khác đạt 464 tỷ đồng, chiếm 7,9%, tăng 5,9% so với tháng trước và tăng 3,4% so với cùng kỳ.     4.2. Vận tải hành khách và hàng hóa     Tháng 01/2026, cán bộ, công chức và người lao động được nghỉ Tết Dương lịch 4 ngày, làm gia tăng nhu cầu đi lại, tham quan và vui chơi, giải trí. Bên cạnh đó, nhiều dự án đầu tư xây dựng của doanh nghiệp và người dân được đẩy nhanh tiến độ nhằm kịp hoàn thành trước Tết, kéo theo nhu cầu vận chuyển nguyên vật liệu, thiết bị phục vụ thi công tăng cao. Đồng thời, hoạt động vận chuyển hàng hóa phục vụ Tết Nguyên đán bắt đầu sôi động, góp phần làm cho hoạt động vận tải hành khách và vận tải hàng hóa tăng so với tháng trước và cùng kỳ năm trước. Dự ước hành khách vận chuyển tháng 01/2026 đạt 3.893,2 nghìn hành khách, tăng 2,0% so với tháng trước và tăng 16,1% so với cùng kỳ; hành khách luân chuyển đạt 190,2 triệu hành khách.km, tăng 2,2% so với tháng trước và tăng 15,9% so với cùng kỳ. Bao gồm: vận tải hành khách đường bộ ước đạt 3.806,9 nghìn hành khách, tăng 16,1% so với cùng kỳ và 189,8 triệu hành khách.km, tăng 15,9% so với cùng kỳ; đường sông đạt 86,4 nghìn hành khách, tăng 14,9% và 0,4 triệu hành khách.km, tăng 16,8%.  Dự ước hàng hóa vận chuyển tháng 01/2026 ước đạt 2.227,6 nghìn tấn, tăng 2,6% so với tháng trước và tăng 9,6% so với cùng kỳ; hàng hóa luân chuyển đạt 186,3 triệu tấn.km, tăng 2,7% so với tháng trước và tăng 9,7% so với cùng kỳ.  Dự ước doanh thu vận tải và bốc xếp tháng 01/2026 đạt 544,7 tỷ đồng, tăng 2,7% so với tháng trước và tăng 11,8% so với cùng kỳ. Chia theo loại hình dịch vụ: doanh thu vận tải hành khách ước đạt 119,4 tỷ đồng, tăng 15,5%; vận tải hàng hóa ước đạt 381,8 tỷ đồng, tăng 12,1%; dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 43,5 tỷ đồng, tăng 0,8% so với cùng kỳ. Trong đó doanh thu vận tải bao gồm: đường bộ đạt 500,7 tỷ đồng, tăng 12,9%; đường sông đạt 0,5 tỷ đồng, tăng 14,8%. 4.3. Lượt khách các cơ sở lưu trú phục vụ và du lịch lữ hành Ngày 13-14/1/2026, sự kiện đón tàu Spectrum of the Seas (quốc tịch Bahamas) cập Cảng Chân Mây - Lăng Cô, mang theo 4.827 du khách quốc tế và 1.680 thuyền viên, là minh chứng sinh động cho định hướng phát triển du lịch bền vững của Huế, góp phần khẳng định hình ảnh Huế - điểm đến di sản, văn hóa đặc sắc, điểm dừng chân hấp dẫn trên hải trình du lịch tàu biển quốc tế trong thời gian tới. Hơn nữa, tháng 01/2026 trùng với kỳ nghỉ Đông nên lượng khách quốc tế đến Huế tăng khá so với cùng kỳ. Dự ước lượt khách do cơ sở lưu trú phục vụ tháng 01/2026 đạt 202,2 nghìn lượt khách, tăng 5,0% so với tháng trước và tăng 7,3% so với cùng kỳ. Chia ra, lượt khách ngủ qua đêm tháng 01/2026 ước đạt 167,4 nghìn lượt khách, tăng 5,2% so với tháng trước và tăng 8,6% so với cùng kỳ; lượt khách trong ngày đạt 34,8 nghìn lượt khách, tăng 3,9% so với tháng trước và tăng 1,6% so với cùng kỳ. Trong lượt khách ngủ qua đêm, lượt khách quốc tế tháng 01 là 70,6 nghìn lượt khách, tăng 10,8% so với tháng trước và tăng 16,6% so với cùng kỳ. Ngày khách dự ước tháng 01/2026 đạt 285,8 nghìn ngày, tăng 4,5% so với tháng trước và tăng 8,5% so với cùng kỳ. Chia ra: Ngày khách quốc tế đạt 125 nghìn ngày, tăng 10,5% so với tháng trước và tăng 15,9% so với cùng kỳ; ngày khách trong nước đạt 160,8 nghìn ngày, tăng 0,3% so với tháng trước và tăng 3,3% so với cùng kỳ. Lượt khách phục vụ của các cơ sở lữ hành thực hiện tháng 01/2026 ước đạt 18,1 nghìn lượt, tăng 7,1% với tháng trước và tăng 2,5% so với cùng kỳ. Ngày khách theo tour ước thực hiện tháng 01/2026 là 37,8 nghìn ngày, tăng 12,5% so với tháng trước và tăng 2,7% so với cùng kỳ.      4.4. Giá cả - Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) Chỉ số giá tiêu dùng chung toàn thành phố tháng 01/2026 tăng 0,28% so với tháng trước. Nguyên nhân tăng chủ yếu là do tình hình giá cả thị trường trên địa bàn trước Tết Nguyên đán Bính Ngọ có nhiều biến động, nhất là các nhóm hàng ăn uống và dịch vụ ăn uống tăng. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 4 nhóm hàng tăng giá so với tháng trước: hàng ăn và dịch vụ ăn uống (+1,02%); văn hóa, giải trí và du lịch (+1,85%); nhà ở, điện nước, chất đốt và VLXD (+0,33%); đồ uống và thuốc lá (+0,01%). Có 5 nhóm giảm giá: may mặc, mũ nón, giày dép (-0,41%); thiết bị và đồ dùng gia đình (-0,04%); thuốc và dịch vụ y tế (-0,03%); giao thông (-2,37%); thông tin và truyền thông (-0,36%); hàng hóa và dịch vụ khác (-0,06%). Có 1 nhóm ổn định: giáo dục. Chỉ số giá tiêu dùng chung toàn thành phố tháng 01/2026 tăng 2,24% so với cùng kỳ. Trong đó, một số nhóm hàng hóa và dịch vụ tăng khá như: nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 6,80%; giáo dục tăng 3,77%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 3,43%. - Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ  Chỉ số giá vàng tháng 01/2026 tăng 5,24% so với tháng trước và tăng 76,95% so với cùng kỳ. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 01/2026 giảm 0,09% so với tháng trước và tăng 3,32% so với cùng kỳ. 5. Tài chính, ngân hàng 5.1. Tài chính Tổng thu ngân sách trên địa bàn 01 tháng đầu năm 2026 ước đạt 1.515 tỷ đồng, bằng 9,5% dự toán năm. Trong đó: thu nội địa ước đạt 1.373 tỷ đồng, bằng 9,5% dự toán; thu thuế từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 140 tỷ đồng, bằng 9,7% dự toán. Trong thu nội địa: Thu doanh nghiệp Nhà nước ước đạt 39 tỷ đồng, bằng 7,6% dự toán; thu doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 501 tỷ đồng, bằng 10,9% dự toán; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 180 tỷ đồng, bằng 7,8% dự toán; thuế thu nhập cá nhân 60 tỷ đồng, bằng 8,0% dự toán; thuế bảo vệ môi trường 37 tỷ đồng, bằng 9,1% dự toán. Tổng chi ngân sách địa phương 01 tháng đầu năm 2026 ước đạt 219 tỷ đồng, bằng 1,2% dự toán, trong đó chi đầu tư phát triển 32 tỷ đồng, bằng 0,7% dự toán; chi thường xuyên 187 tỷ đồng, bằng 1,6% dự toán.                                     5.2. Ngân hàng Tổng nguồn vốn huy động trên địa bàn thành phố đến cuối tháng 01/2026 ước đạt 90,2 nghìn tỷ đồng, tăng 0,82% so với cuối năm 2025; tổng dư nợ tín dụng ước đạt 96,4 nghìn tỷ đồng, tăng 0,62% so với cuối năm 2025. Các tổ chức tín dụng trên địa bàn thành phố Huế tiếp tục chú trọng cho vay các lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ. Tín dụng đối với nông nghiệp nông thôn ước đạt 18.200 tỷ đồng, tăng 1,31% so với cuối năm 2025; tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa ước đạt 17.500 tỷ đồng, tăng 1,56% so với cuối năm 2025; tín dụng đối với xuất khẩu ước đạt 6.000 tỷ đồng, tăng 4% so với cuối năm 2025; cho vay công nghiệp hỗ trợ ước đạt 1.700 tỷ đồng, tăng 8,35% so với cuối năm 2025. Trên địa bàn chưa phát sinh có dư nợ cho vay doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao. 6. Các vấn đề xã hội 6.1. Chính sách - xã hội Tháng 01/2026, đời sống dân cư trên địa bàn thành phố tiếp tục ghi nhận những chuyển biến tích cực. Thực hiện Nghị quyết số 418/NQ-CP ngày 28/12/2025 của Chính phủ, mỗi phần quà trị giá 400.000 đồng đã được trao tặng đến các đối tượng chính sách xã hội, góp phần cải thiện đời sống, chăm lo an sinh xã hội, đồng thời thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước đối với các đối tượng chính sách. Tổng hợp báo cáo của 252 doanh nghiệp về tình hình tiền lương năm 2025 và kế hoạch thưởng cho người lao động trong dịp Tết Dương lịch và Tết Nguyên đán năm 2026 cho thấy: mức lương bình quân năm 2025 đạt 8,759 triệu đồng/người/tháng; tiền thưởng Tết Dương lịch bình quân đạt 1,128 triệu đồng/người; tiền thưởng Tết Nguyên đán Bính Ngọ bình quân đạt 7,759 triệu đồng/người. Mức thưởng cao nhất thuộc về các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực du lịch – dịch vụ, sản xuất, lắp ráp ô tô, dệt may và may mặc. 6.2. Giáo dục Kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia THPT năm học 2025-2026 có sự tham gia của hơn 6.750 thí sinh đến từ các địa phương trên cả nước. Thành phố Huế có 108 học sinh Trường THPT Chuyên Quốc Học tham dự, trong đó có 90 học sinh đoạt giải, gồm 4 giải Nhất, 20 giải Nhì, 34 giải Ba và 32 giải Khuyến khích. Chiều ngày 9/1, Đại học Huế tổ chức chương trình kỷ niệm 76 năm Ngày truyền thống Học sinh - Sinh viên và Hội Sinh viên Việt Nam. Điểm nhấn của chương trình là việc ghi nhận những kết quả nổi bật trong phong trào “Sinh viên 5 tốt” và Giải thưởng “Sao Tháng Giêng” năm học 2024–2025. Ở cấp Trung ương, Đại học Huế vinh dự có 1 sinh viên đạt Giải thưởng “Sao Tháng Giêng” tiêu biểu, đồng thời đạt danh hiệu “Sinh viên 5 tốt”, và 1 sinh viên đạt Giải thưởng “Sao Tháng Giêng”. Ở cấp thành phố, có 10 sinh viên đạt danh hiệu “Sinh viên 5 tốt” và 34 sinh viên đạt Giải thưởng “Sao Tháng Giêng”. 6.3. Tình hình y tế, dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm Tháng 01/2026, trên địa bàn có 17 ca sốt xuất huyết, giảm 23 ca so cùng kỳ; có 7 ca mắc tay chân miệng, tăng 1 ca so với cùng kỳ; có 1 ca mắc liên cầu lợn, tăng 1 ca so với cùng kỳ. Tháng 12/2025, trên địa bàn đã phát hiện 1 ca nhiễm mới HIV, giảm 6 ca so cùng kỳ; không có ca chuyển qua AIDS, giảm 4 ca so cùng kỳ; không có ca tử vong, bằng cùng kỳ. Năm 2025, trên địa bàn có 97 ca nhiễm mới HIV, tăng 4 ca so cùng kỳ; có 24 ca chuyển qua AIDS, giảm 5 ca so cùng kỳ; có 4 ca tử vong, giảm 1 ca so cùng kỳ. Hiện tại, trên địa bàn có 592 bệnh nhân đang được quản lý và điều trị tại các cơ sở y tế, trong đó có 586 bệnh nhân điều trị ARV. Tháng 01/2026, trên địa bàn không xảy ra ngộ độc thực phẩm, bằng so cùng kỳ.  6.4. Hoạt động văn hóa, thể thao Thành phố Huế đã ban hành kế hoạch tổ chức các hoạt động mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026 với chủ đề: “Mừng đất nước đổi mới, mừng Đảng quang vinh, mừng Xuân Bính Ngọ”. Theo đó, thành phố triển khai nhiều hoạt động phong phú như: chương trình văn nghệ chào đón năm mới; các hoạt động đón Xuân tại các tuyến đường đi bộ; bắn pháo hoa tại khu vực trung tâm thành phố; tổ chức Hội hoa Xuân; các chương trình vui Tết và trang trí hoa, cảnh quan đô thị…, nhằm phục vụ Nhân dân và du khách, tạo không khí vui tươi, phấn khởi chào đón năm mới. Trong tháng 01/2026, thành phố đã tổ chức Giải Cờ vua thanh thiếu nhi thành phố mở rộng lần thứ III năm 2026, thu hút 440 vận động viên đến từ 30 câu lạc bộ cờ vua và các trường học trong và ngoài thành phố. Kết thúc giải, Ban Tổ chức đã trao tổng cộng 173 bộ huy chương, gồm 68 bộ cá nhân và 105 bộ đồng đội cho các vận động viên. Bên cạnh đó, Giải Bóng bàn Đại học, Cao đẳng Huế năm 2025 được khai mạc vào tối ngày 5/1, quy tụ gần 100 vận động viên là viên chức, người lao động đến từ 7 trường thuộc Đại học Huế. 6.5. Tình hình trật tự an toàn xã hội  Theo báo cáo của Ban ATGT thành phố, từ 15/12/2025 đến 14/01/2026, trên địa bàn đã xảy ra 9 vụ tai nạn giao thông, giảm 20 vụ so với cùng kỳ; làm 7 người chết, giảm 5 người; làm bị thương 5 người, giảm 16 người so cùng kỳ. *Tình hình trật tự an toàn giao thông Tết dương lịch năm 2026 Trên địa bàn đã xảy ra 2 vụ tai nạn giao thông, giảm 3 vụ; không có người chết, giảm 3 người và có 2 người bị thương, giảm 2 người so cùng kỳ. 6.6. Tình hình cháy nổ và bảo vệ môi trường Tháng 01/2026 trên địa bàn xảy ra 1 vụ cháy; tăng 1 vụ so cùng kỳ, tăng 1 vụ so với tháng trước. Cụ thể, cháy xe ô tô đầu kéo; thiệt hại sơ bộ ước khoảng 2 triệu đồng, không có thiệt hại về người.      Tháng 01/2026 trên địa bàn xảy ra 14 vụ vi phạm môi trường, giảm 10 vụ so với cùng kỳ, tăng 4 vụ so với tháng trước. Các hình thức vi phạm: 6 vụ xả nước thải vượt quy chuẩn kỹ thuật, 1 vụ chậm ký quỹ cải tạo phục hồi môi trường, 1 vụ quan trắc môi trường không đảm bảo tần suất, 3 vụ khai thác khoáng sản trái phép, 1 vụ không có giấy đăng ký môi trường, 1 vụ đổ nước thải không đúng quy định, 1 vụ bố trí kho chất thải nguy hại không đảm bảo quy định; tiến hành xử lý 14 vụ với số tiền xử phạt 1,5 tỷ đồng./.Nguồn Thống kê thành phố Huế

Tình hình kinh tế xã hội tháng 9 và 9 tháng đầu năm 2025
  •   07/10/2025 16:07

Kinh tế - xã hội trên địa bàn thành phố 9 tháng đầu năm diễn ra trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới và khu vực diễn biến phức tạp, khó lường; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt; căng thẳng thương mại, xung đột quân sự và bất ổn chính trị tại nhiều quốc gia, khu vực tiếp tục kéo dài. Thị trường tài chính, tiền tệ biến động mạnh, ảnh hưởng đến triển vọng tăng trưởng toàn cầu; thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu diễn ra trên diện rộng, gây hậu quả nặng nề. Dù tiềm ẩn nhiều rủi ro, song sự phục hồi của dịch vụ, du lịch cùng xu hướng đầu tư vào công nghệ mới vẫn tạo điểm sáng cho tăng trưởng. Trong nước, bộ máy quản lý được kiện toàn theo hướng tinh gọn, hiệu quả, chính quyền địa phương hai cấp triển khai từ ngày 01/7/2025 đã góp phần nâng cao chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp. Nhờ đó, kinh tế duy trì đà tăng trưởng, với đóng góp chủ lực từ công nghiệp, xây dựng và dịch vụ; xuất nhập khẩu và đầu tư nước ngoài tiếp tục khởi sắc, lạm phát được kiểm soát, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định. Tuy vậy, những biến động bên ngoài, đặc biệt là chính sách thuế quan mới của các đối tác lớn, giá nguyên vật liệu và bất ổn địa chính trị khu vực có thể tác động đến chuỗi cung ứng và sản xuất trong nước. Trên địa bàn thành phố, dưới sự chỉ đạo kịp thời của Thành ủy, HĐND, UBND cùng sự phối hợp đồng bộ của các cơ quan và đơn vị, kinh tế thành phố tiếp tục ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực, tạo nền tảng quan trọng để hoàn thành các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2025. Kết quả đạt được trên các ngành, lĩnh vực trong 9 tháng đầu năm 2025 như sau:  1. Tăng trưởng kinh tế Trong 9 tháng đầu năm 2025, kinh tế thành phố Huế duy trì đà tăng trưởng tích cực với tốc độ tăng GRDP ước đạt 9,06% so với cùng kỳ, nằm trong nhóm địa phương có mức tăng trưởng khá. Trong đó: Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,31%, đóng góp 0,15 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 13,49%, đóng góp 4,18 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 8,43%, đóng góp 4,13 điểm phần trăm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 7,07% so với cùng kỳ năm 2024, đóng góp 0,60 điểm phần trăm trong tăng trưởng kinh tế toàn thành phố.Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản có mức tăng trưởng thấp 1,31%, đang giữ vai trò nền tảng bảo đảm an ninh lương thực, tạo việc làm cho một bộ phận dân cư nông thôn và duy trì sự cân bằng cho nền kinh tế, trong đó ngành nông nghiệp giảm 0,03% so với cùng kỳ, làm giảm 0,06 điểm phần trăm cho nền kinh tế; ngành lâm nghiệp tăng trưởng khá tăng 6,21%, đóng góp 0,08 điểm phần trăm; ngành thủy sản duy trì phát triển ổn định tăng 3,81%, đóng góp 0,13 điểm phần trăm trong tăng trưởng kinh tế toàn thành phố. Khu vực công nghiệp - xây dựng tiếp tục khẳng định là động lực tăng trưởng GRDP trong 9 tháng đầu năm của thành phố. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có sự bứt phá mạnh mẽ với mức tăng 10,59%, %, đóng góp 1,91 điểm phần trăm với nhiều sản phẩm đạt mức tăng trưởng ấn tượng như ô tô gấp 6,5 lần, găng tay y tế tăng 15 lần. Kết quả này phản ánh sự mở rộng quy mô sản xuất cũng như khả năng đáp ứng nhu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu. Bên cạnh đó, ngành sản xuất truyền tải và phân phối điện tăng trưởng cao 39,59%, chủ yếu nhờ thời tiết mưa nhiều, lượng nước về các hồ chứa dồi dào, giúp các nhà máy thủy điện vận hành tối đa công suất; Ngành xây dựng cũng duy trì nhịp tăng trưởng cao 13,40%, %, đóng góp 1,11 điểm phần trăm, nhờ nhiều công trình, dự án hạ tầng và đô thị được triển khai, góp phần thay đổi diện mạo đô thị và tạo điều kiện thu hút đầu tư.  Khu vực dịch vụ tiếp tục tăng trưởng ấn tượng, đặc biệt ở lĩnh vực du lịch, với lượng khách tại các cơ sở lưu trú tăng cao. Đây không chỉ là động lực trực tiếp cho ngành dịch vụ mà còn tạo hiệu ứng lan tỏa tích cực tới nhiều lĩnh vực khác như vận tải, thương mại. Một số ngành dịch vụ trong 9 tháng đầu năm có mức tăng trưởng khá: bán buôn, bán lẻ hàng hoá tăng 9,46% cùng kỳ, đóng góp 0,61 điểm phần trăm; dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng 12,14%, đóng góp 0,78 điểm phần trăm; vận tải kho bãi tăng 12,85%, đóng góp 0,44 điểm phần trăm; nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 8,47%, đóng góp 0,06 điểm phần trăm...   2. Tài chính, ngân hàng, bảo hiểm2.1. Tài chínhLũy kế 9 tháng, tổng thu ngân sách nhà nước ước đạt 10.649 tỷ đồng, bằng 83,5% dự toán, tăng 37,3% so với cùng kỳ; trong đó: Thu nội địa ước đạt 9.452 tỷ đồng, bằng 80,8% dự toán và tăng 34,8% so với cùng kỳ; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu 1.082 tỷ đồng, bằng 103% dự toán, tăng 47,3% so với cùng kỳ; thu viện trợ, huy động đóng góp 115,5 tỷ đồng, gấp 16,8 lần dự toán, tăng 12,2 lần so với cùng kỳ.Chi ngân sách nhà nước ước đạt 11.950 tỷ đồng, bằng 75,9% dự toán; trong đó: Chi đầu tư phát triển 2.492 tỷ đồng, bằng 57,8% dự toán; chi thường xuyên đạt 9.332 tỷ đồng, bằng 86,7% dự toán.                                 2.2. Ngân hàngThành phố thực hiện tín dụng an toàn, hiệu quả, ưu tiên vốn cho sản xuất kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên và động lực tăng trưởng theo chủ trương của Chính phủ. Chương trình kết nối Ngân hàng - Doanh nghiệp được đẩy mạnh theo Công văn 4315/NHNN-TD ngày 21/5/2024. Đồng thời triển khai gói tín dụng 120 nghìn tỷ đồng theo Nghị quyết 33/NQ-CP nhằm tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển. Tín dụng cho nông nghiệp, nông thôn được triển khai theo đúng Văn bản 3321/NHNN-TD ngày 29/4/2025 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.Tổng nguồn vốn huy động đến cuối tháng 9 năm 2025 ước đạt 86,1 nghìn tỷ đồng, tăng 11,46% so với cuối năm 2024; tổng dư nợ tín dụng ước đạt 88,1 nghìn tỷ đồng, tăng 5,85%.Các tổ chức tín dụng trên địa bàn thành phố tiếp tục tập trung nguồn vốn cho vay vào các lĩnh vực ưu tiên theo định hướng của Chính phủ: tín dụng đối với nông nghiệp nông thôn ước đạt 18.000 tỷ đồng, tăng 7,85% so với cuối năm 2024; tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa ước đạt 14.500 tỷ đồng, tăng 13,87% so với cuối năm 2024; tín dụng đối với xuất khẩu ước đạt 5.900 tỷ đồng, tăng 16,42% so với cuối năm 2024; cho vay công nghiệp hỗ trợ ước đạt 1.900 tỷ đồng, tăng 27,6% so với cuối năm 2024. Trên địa bàn chưa phát sinh có dư nợ cho vay doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao. 2.3. Bảo hiểm Nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, các doanh nghiệp bảo hiểm tập trung thúc đẩy tăng trưởng toàn diện trên tất cả các kênh bán hàng theo tiêu chí chất lượng, lấy khác biệt trong quản trị và đa dạng hóa kênh phân phối làm lợi thế cạnh tranh. Doanh nghiệp cũng mở rộng các kênh thu phí trực tuyến, linh hoạt gia hạn thời gian đóng phí để hỗ trợ khách hàng ở giai đoạn khó khăn. Ngoài ra, công tác kiểm soát nội bộ và quản trị rủi ro được tăng cường, bảo đảm tuân thủ quy định pháp luật, trong khi chất lượng dịch vụ và quyền lợi khách hàng luôn được đặt lên hàng đầu.  Với sự quyết tâm của doanh nghiệp, sự đồng hành của cơ quan quản lý và nền tảng vĩ mô ổn định, thị trường bảo hiểm nhân thọ được kỳ vọng tăng trưởng cả về quy mô lẫn chất lượng. Doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường 9 tháng năm 2025 dự kiến đạt mức khá so cùng kỳ, khoản từ 5,0%-6,5% so cùng kỳ.3. Hoạt động xuất nhập khẩuTrong 9 tháng đầu năm 2025, doanh nghiệp trên địa bàn thành phố tận dụng tốt các ưu đãi từ các hiệp định thương mại tự do (FTA) và đẩy mạnh cải thiện nội lực để mở rộng xuất khẩu. Đồng thời chủ động khai thác thị trường mới ngoài vùng truyền thống, hoạt động xuất nhập khẩu vẫn giữ được đà ổn định và tăng trưởng tốt. Ước tính tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 2.037 triệu USD, tăng 21,8% so với cùng kỳ.3.1. Xuất khẩuKim ngạch xuất khẩu (KNXK) hàng hóa trong 9 tháng đầu năm 2025 ước đạt 1.130 triệu USD tăng 25,6% so với cùng kỳ năm 2024. Các nhóm hàng xuất khẩu chủ lực của thành phố trong 9 tháng đầu năm 2025:- Nhóm hàng nông, thuỷ sản: KNXK ước đạt 77,0 triệu USD, tăng 95,8% so với cùng kỳ và chiếm tỷ trọng 6,8%.- Nhóm hàng công nghiệp chế biến: KNXK ước đạt 820,9 triệu USD, tăng 16,6% so với cùng kỳ và chiếm tỷ trọng 72,7%.- Nhóm các hàng hóa khác như hương và bột hương, bia, rượu sa kê, hàng thủ công mỹ nghệ, bao bì xi măng,…: KNXK ước đạt 232,1 triệu USD, tăng 48,3% so với cùng kỳ và chiếm tỷ trọng 20,5%.Thị trường xuất khẩu: Trong 9 tháng đầu năm 2025, doanh nghiệp đã xuất khẩu đến hơn 60 quốc gia và vùng lãnh thổ như Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, ASEAN, các nước Châu Âu,… 3.2. Nhập khẩuDự ước kim ngạch nhập khẩu (KNNK) hàng hóa trong 9 tháng đầu năm 2025 ước đạt 906,9 triệu USD tăng 17,4% so với cùng kỳ năm 2024. Các mặt hàng nhập khẩu tiếp tục phục vụ cho hoạt động sản xuất, xuất khẩu của các doanh nghiệp:- Nhóm hàng cần nhập khẩu: KNNK ước đạt 461,3 triệu USD, giảm 10,1% so với cùng kỳ và chiếm tỷ trọng 50,9%.- Nhóm hàng cần kiểm soát nhập khẩu: linh kiện phụ tùng ô tô ước đạt 228,0 triệu USD tăng 100,8% so với cùng kỳ và chiếm tỷ trọng 25,1%.- Nhóm hàng hóa khác như thạch cao, thép, hóa chất, linh kiện điện tử, nguyên phụ liệu sản xuất bia,...: KNNK ước đạt 217,6 triệu USD, tăng 48,9% so với cùng kỳ và chiếm tỷ trọng 24,0%.4. Giá cả, lạm phát- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)Nhu cầu tiêu dùng hàng ăn và dịch vụ ăn uống của người dân tăng, cùng với đó một số trường cao đẳng, đại học trên địa bàn thực hiện tăng học phí năm học 2025-2026 là nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng của thành phố Huế tháng 9/2025 tăng 0,32% so với tháng trước, tăng 2,34% so với tháng 12 năm 2024, tăng 3,34% so với cùng kỳ năm trước, bình quân 9 tháng năm 2025 so với cùng kỳ năm trước tăng 2,95%.So với tháng trước, CPI tháng 9/2025 tăng 0,32%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 8 nhóm hàng tăng giá so với tháng trước như: giáo dục tăng 2,82%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,15%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,31%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,43%; bưu chính viễn thông tăng 0,46%; hàng hoá và dịch vụ khác tăng 0,21%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,06%; giao thông tăng 0,48%. Có 01 nhóm có chỉ số giảm là nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,21%. Có 02 nhóm: thuốc và dịch vụ y tế; đồ uống và thuốc lá có chỉ số ổn định so với tháng trước.Chỉ số giá tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ 9 tháng đầu năm 2025 so với cùng kỳ tăng 2,95%. Các nhóm hàng hóa dịch vụ có chỉ số giá bình quân 9 tháng đầu năm 2025 tăng so cùng kỳ năm trước gồm: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,47%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 7,03%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 14,20%; giáo dục tăng 2,65%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,43%. Riêng nhóm giao thông giảm 2,84%. Các nhóm còn lại có chỉ số giá biến động nhẹ và ổn định so với cùng kỳ. - Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ  Chỉ số giá vàng tháng 9/2025 tăng 7,07% so với tháng trước, tăng 39,96% so với tháng 12 năm trước và tăng 49,19% so với cùng kỳ. Bình quân 9 tháng đầu năm 2025 tăng 42,57% so với bình quân cùng kỳ.  Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 9/2025 tăng 0,19% so với tháng trước, tăng 3,88% so với tháng 12 năm trước và tăng 6,70% so với cùng kỳ. Bình quân 9 tháng đầu năm 2025 tăng 3,89% so với bình quân cùng kỳ. - Chỉ số giá sản xuất Chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng nông, lâm nghiệp và thủy sản quý III/2025 tăng 1,71% so với cùng kỳ, trong đó chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng nông nghiệp tăng 0,52%; hàng lâm nghiệp tăng 4,51%; hàng thủy sản tăng 5,22%. Chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng công nghiệp quý III/2025 giảm 2,95% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất sản phẩm khai khoáng tăng 3,89%; sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 3,75%; điện và phân phối điện tăng 2,87%; nước sạch, nước thải tăng 2,79%. Tính chung chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng nông, lâm nghiệp và thủy sản 9 tháng đầu năm nay tăng 3,33% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng nông nghiệp tăng 3,01%; hàng lâm nghiệp tăng 5,30%; hàng thủy sản tăng 3,70%. Chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng công nghiệp 9 tháng 2025 giảm 5,00% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất sản phẩm khai khoáng tăng 2,36%; sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 6,03%; điện và phân phối điện tăng 3,22%; nước sạch, nước thải, xử lý nước thải, rác thải tăng 1,99%. Chỉ số giá cước vận tải kho bãi quý III/2025 tăng 34,46% so với cùng kỳ. Tính chung chỉ số giá cước vận tải kho bãi 9 tháng năm 2025 tăng 25,31% so với cùng kỳ, chia theo ngành đường: Giá cước vận tải đường bộ và xe buýt tăng 1,41%; đường thủy tăng 3,13%; dịch vụ kho bãi và các dịch vụ hỗ trợ vận tải tăng 1,50%. Chỉ số giá dịch vụ quý III/2025 tăng 12,15% so với cùng kỳ. Tính chung chỉ số giá dịch vụ 9 tháng năm 2025 tăng 10,77% so với cùng kỳ, trong đó chỉ số giá dịch vụ của một số ngành như sau: Ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 4,70%; thông tin và truyền thông tăng 0,18%; giáo dục và đào tạo tăng 0,96%; y tế và trợ giúp xã hội tăng 21,18%. - Chỉ số giá xuất, nhập khẩu hàng hóa Chỉ số giá xuất khẩu hàng hoá quý III/2025 tăng 0,31% so với cùng kỳ. Tính chung chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa 9 tháng năm 2025 tăng 4,46% so với cùng kỳ, trong đó chỉ số giá của một số mặt hàng tăng/giảm so với cùng kỳ như sau: Hàng thủy sản tăng 5,44%; rau quả tăng 20,98%; gạo giảm 8,36%; cà phê tăng 37,83%; hạt tiêu tăng 39,88%; cao su tăng 17,60%; xăng dầu các loại giảm 12,70%; sắt thép giảm 10,00%. Chỉ số giá nhập khẩu hàng hoá quý III/2025 tăng 0,17% so với cùng kỳ. Tính chung chỉ số giá nhập khẩu hàng hoá 9 tháng năm 2025 tăng 1,02% so với cùng kỳ, trong đó chỉ số giá của một số mặt hàng tăng/giảm so với cùng kỳ như sau: hàng rau quả tăng 17,05%; dầu mỡ động thực vật tăng 12,98%; nguyên phụ liệu dược phẩm tăng 8,60%; cao su nguyên liệu tăng 12,07%; hóa chất tăng 7,81%; lúa mì giảm 6,21%; than đá giảm 18,37%; thức ăn gia súc & nguyên liệu giảm 11,32%; sắt, thép giảm 5,80%.5. Vốn đầu tư và xây dựng5.1. Vốn đầu tưNăm 2025 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là năm cuối thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025. Ngay từ đầu năm, HĐND thành phố Huế đã ban hành Nghị quyết số 121/NQ-HĐND ngày 10/12/2024 và UBND thành phố triển khai phân bổ nhiệm vụ, chương trình, dự án theo Quyết định số 3355/QĐ-UBND ngày 26/12/2024. Trên cơ sở đó, nhiều chương trình, dự án trọng điểm được tập trung chỉ đạo và đạt những kết quả nhất định. Đặc biệt, nhân dịp chào mừng 80 năm Quốc khánh (02/9/1945 - 02/9/2025), thành phố đã khởi công và khánh thành đưa vào sử dụng nhiều công trình quan trọng trên các lĩnh vực kinh tế- xã hội.Trong quý III/2025, vốn đầu tư thực hiện toàn thành phố ước đạt 11.641 tỷ đồng, tăng 28,3% so với cùng kỳ, đưa tổng vốn đầu tư phát triển toàn thành phố 9 tháng ước đạt 28.118 tỷ đồng, bằng 72,1% kế hoạch năm, tăng 21,4% so với cùng kỳ. Bao gồm:Vốn nhà nước ước đạt 6.174 tỷ đồng, chiếm 21,9% tổng nguồn vốn, giảm 11,0% so với cùng kỳ. Chia ra:- Vốn nhà nước do trung ương quản lý 1.631 tỷ đồng, tăng 41,6%. Tiếp tục thực hiện các dự án trụ sở tòa án nhân dân thành phố, Doanh trại Bộ CHQS thành phố và các đơn vị trực thuộc, Bệnh viện Quốc tế giai đoạn 2 thuộc Bệnh viện Trung ương Huế, xây dựng cải tạo Ký túc xá tập trung của sinh viên Đại học Huế, Dự án mới khởi công mở rộng cao tốc Bắc Nam đoạn La Sơn - Hòa Liên chỉnh rộng mặt đường lên 22 m, với tổng mức đầu tư đoạn đi qua thành phố Huế 1.500 tỷ đồng. - Vốn nhà nước do địa phương quản lý 4.543 tỷ đồng, giảm 21,5% so với cùng kỳ, nguồn vốn này giảm nhưng vẫn được ưu tiên cho các dự án trọng điểm, tập trung vào những lĩnh vực then chốt như: xây dựng trụ sở làm việc và cơ quan hành chính, phát triển đô thị thông minh, bảo tồn di tích Kinh thành Huế, chỉnh trang hạ tầng đô thị, y tế, giáo dục, an sinh xã hội và cấp nước sạch cho người dân. Trong quý, nhiều dự án đã được khởi công: dự án đường vành đai 3 (giai đoạn 1 với số vốn đầu tư 500 tỷ đồng); khu tái định cư phục vụ công tác giải phóng mặt bằng dự án 3 Tuyến đường sắt cao tốc Bắc - Nam đoạn qua thành phố Huế. Bên cạnh đó, một số công trình tiêu biểu được khánh thành hoặc sắp hoàn thành: công trình quảng trường văn hóa thể thao thành phố; các dự án đầu tư phát triển hạ tầng khu kinh tế, khu công nghiệp như dự án đê chắn sóng cảng Chân Mây giai đoạn 2 (dự kiến hoàn thành trong tháng 10/2025), các đường trục chính tại các khu công nghiệp sẽ được đầu tư hoàn chỉnh trong năm 2025. Việc hoàn thành, bàn giao đưa vào sử dụng các công trình đầu tư công góp phần hoàn thiện kết cấu hạ tầng đô thị, giao thông của thành phố theo hướng hiện đại. Vốn ngoài nhà nước Quý III/2025 ước đạt 7.481 tỉ đồng, tăng 55,6% so với cùng kỳ, đưa tổng vốn ngoài nhà nước 9 tháng ước đạt 18.888 tỉ đồng, bằng 67,6% kế hoạch, tăng 49,5% so cùng kỳ. Đây chủ yếu là nguồn vốn từ doanh nghiệp ngoài nhà nước và người dân, cho thấy niềm tin mạnh mẽ vào môi trường đầu tư của thành phố. Nhiều dự án trọng điểm đang được triển khai như: Dự án Đầu tư xây dựng bến tổng hợp - container số 4 và số 5 cảng Vsico Chân Mây; dự án Khu liên hợp sản xuất, lắp ráp Kim Long Motors Huế; Trung tâm Logistics Chân Mây; Các dự án chung cư, nhà ở thương mại (chung cư Thương mại, dịch vụ B1-A, nhà Shop House An Cựu city; Dự án căn hộ Huế - Hue Heritage; Dự án Osaka Park house…). Trong 9 tháng đầu năm 2025 có 27 dự án đăng ký mới với tổng số vốn 8.233,4 tỷ đồng. Đáng chú ý là dự án Khu đô thị sinh thái tại xã Thủy Thanh của Công ty Cổ phần Tập đoàn Neragroup với số vốn đăng ký 4.452,6 tỷ đồng.Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài quý III/2025 ước đạt 1.114 tỷ đồng, giảm 8,4% so với cùng kỳ. Đưa tổng nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 9 tháng ước đạt 3.056 tỷ đồng, bằng 69,5% kế hoạch năm, giảm 14,9% so với cùng kỳ năm 2024. Các dự án chuyển tiếp tiếp tục được triển khai và đưa vào sử dụng như: Nhà máy Sản xuất Mũ bảo hiểm EON Industry Việt Nam; Mở rộng nhà máy bia Carlsberg Việt Nam; Nhà máy sản xuất cụm rotor, stato của công ty thiết bị điện Thượng Hải CI;... Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn thành phố có 9 dự án FDI đăng ký mới với tổng số vốn đăng ký 32,7 triệu USD. 5.2. Hoạt động xây dựngQuý III/2025, giá trị sản xuất ngành xây dựng theo giá hiện hành ước đạt 7.115 tỷ đồng, đưa giá trị sản xuất xây dựng 9 tháng đầu năm 2025 đạt 17.070 tỷ đồng. Theo giá so sánh năm 2010, giá trị sản xuất ngành xây dựng quý III/2025 ước đạt 3.956 tỷ đồng, tăng 10,9% so với cùng kỳ, giá trị sản xuất ngành xây dựng 9 tháng đầu năm 2025 ước đạt 9.657 tỷ đồng, tăng 11,5% so với cùng kỳ. Trong 9 tháng đầu năm 2025, nhờ thời tiết thuận lợi, hoạt động xây dựng tại Huế diễn ra sôi động, nhiều dự án được đẩy nhanh tiến độ như: khu nhà ở - dịch vụ thương mại Phạm Văn Đồng; shophouse An Cựu Galleria; tòa nhà làm việc các cơ quan thành phố; trụ sở Công an thành phố; khách sạn Đông Dương... Đặc biệt, nhiều công trình hoàn thành đúng dịp Quốc khánh 2/9, tiêu biểu: nhà máy bia Carlsberg Việt Nam (mở rộng); nhà máy mũ bảo hiểm EON Industry Việt Nam; công ty Premium Silica Huế; tổ hợp giáo dục FPT tại KĐT An Vân Dương; quảng trường văn hóa – thể thao thành phố và chuỗi dịch vụ Viettral. Bên cạnh đó, một số dự án lớn cũng được tái khởi động sau thời gian gián đoạn, như: tòa nhà VNPT và bệnh viện Đa khoa Quốc tế, hứa hẹn sớm đưa vào khai thác, góp phần hoàn thiện diện mạo đô thị Huế.6. Tình hình hoạt động của doanh nghiệpTình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp 9 tháng đầu năm 2025 trên địa bàn có nhiều dấu hiệu tích cực, có hơn 80% DN đánh giá tình hình SXKD khả quan hơn và giữ ổn định so với quý trước. Tính đến ngày 30/9/2025, thành phố Huế có 823 DN thành lập mới với vốn đăng ký 8.999 tỷ đồng. Theo nhận định xu hướng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong quý tiếp theo, có 85,2% DN dự báo tình hình SXKD tốt hơn và giữ ổn định so với quý III/2025.Tính đến 30/9/2025, thành phố Huế có 823 DN thành lập, trong đó: Công ty cổ phần 60 DN; Công ty TNHH hai thành viên trở lên 243 DN; Công ty TNHH một thành viên 506 DN; Doanh nghiệp tư nhân 14 DN; với số vốn đăng ký đạt 8.999 tỷ đồng. Số doanh nghiệp hoạt động trở lại 277 DN, số doanh nghiệp đã giải thể 133 DN, số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động 750 DN.Tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong quý III và dự báo xu hướng sản xuất kinh doanh (sxkd) quý IV năm 2025:Đánh giá tổng quan về tình hình sxkd, có 80,3% số DN đánh giá sxkd quý III/2025 của họ khả quan hơn và giữ ổn định so với quý II/2025 (trong đó 37,7% khẳng định tốt lên và 42,6% khẳng định giữ ổn định); 19,7% số DN đánh giá là khó khăn hơn. Các DN nhận định sxkd của quý IV/2025 tốt hơn và giữ ổn định so với quý III/2025 chiếm 85,2% (trong đó 44,3% dự báo tốt lên và 41,0% dự báo giữ ổn định), có 14,8% số DN dự báo khó khăn hơn.Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong quý III/2025, có 59,0% cho rằng nhu cầu của thị trường trong nước thấp đã ảnh hưởng đến hoạt động sxkd của DN. Tiếp theo đó là các yếu tố: Tính cạnh tranh của hàng trong nước cao (55,7%); nhu cầu thị trường quốc tế thấp (44,3%); thiếu nguyên, nhiên, vật liệu, thiết bị công nghệ lạc hậu và khó khăn về tài chính (29,5%); lãi suất vay vốn cao (26,2%); tính cạnh tranh của hàng nhập khẩu cao (24,6%); không tuyển dụng được lao động theo yêu cầu (19,7%); chính sách pháp luật của Nhà nước (16,4%). 7. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Sản xuất nông nghiệp 9 tháng đầu năm trên địa bàn thành phố gặp bất lợi do thời tiết và dịch bệnh. Diện tích gieo cấy lúa cả năm đạt 53.145 ha, giảm nhẹ so với cùng kỳ, năng suất bình quân ước đạt 60,9 tạ/ha, giảm 5,6%. Tuy nhiên, các cây trồng hằng năm khác như ngô, khoai lang, lạc và rau màu đều có năng suất tăng nhờ điều kiện thuận lợi. Chăn nuôi chịu ảnh hưởng của dịch tả lợn châu Phi và bệnh liên cầu lợn, song tổng đàn trâu, bò, lợn và gia cầm tiếp tục tăng, đặc biệt đàn gia cầm đạt 5.287 nghìn con, tăng 6,0%. Sản xuất lâm nghiệp tiếp tục phát triển với 5.216 ha rừng trồng mới, sản lượng gỗ khai thác ước tăng 7,3%. Sản xuất thủy sản phát triển ổn định, sản lượng thủy sản nuôi trồng ước tăng 3,6% so cùng kỳ.7.1. Nông nghiệp* Trồng trọt Tháng 9 năm 2025 sản xuất nông nghiệp tập trung chăm sóc cây lúa vụ mùa và cây hàng năm khác. Diện tích gieo cấy lúa vụ Mùa chủ yếu là lúa nương rẫy tại các xã miền núi cao, ước đạt 186 ha, giảm 4,8% so với vụ Mùa năm 2024. Diện tích gieo trồng một số cây hằng năm chủ yếu tính đến cuối tháng 9 năm 2025 như sau: Ngô ước đạt 1.304 ha, giảm 5,0%; Khoai lang 813 ha, tăng 38,0%; Lạc 2.160 ha, giảm 3,7%; Rau các loại 4.624 ha, tăng 4,0%; Đậu các loại ước đạt 915 ha, giảm 0,3% so với cùng kỳ.Trong 9 tháng đầu năm 2025, sản xuất nông nghiệp trên địa bàn thành phố gặp nhiều khó khăn do thời tiết diễn biến bất thường đã ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất lúa. Vụ Đông Xuân, đầu vụ xuất hiện mưa lớn trên diện rộng gây ngập úng một số diện tích, mặc dù bà con đã chủ động tiêu úng kịp thời nhưng cây lúa sinh trưởng chậm; lúa trà đầu trổ vào thời điểm thời tiết không thuận lợi nên tỷ lệ hạt lép cao. Từ ngày 12–13/4, mưa to kèm gió lớn làm đổ ngã nhiều diện tích lúa đang giai đoạn trỗ - chín, làm ảnh hưởng đến năng suất. Bước sang vụ Hè Thu, tình hình càng khó khăn hơn do ảnh hưởng cơn bão số 1 (12–14/6) gây mưa lớn, nước lũ dâng cao kết hợp triều cường, làm ngập úng trên diện rộng ở các vùng thấp trũng, ven biển và đầm phá. Toàn thành phố có 22.418/25.126 ha lúa bị ngập úng, trong đó hơn 5.790 ha phải gieo sạ lại. Tuy nhiên, nhờ sự chỉ đạo quyết liệt của các cấp chính quyền và sự hỗ trợ kịp thời cho nông dân, nhìn chung thiệt hại đã được giảm thiểu đáng kể.Tính đến thời điểm hiện nay, diện tích gieo cấy lúa toàn thành phố ước đạt 53.145 ha, giảm 0,2% so với cùng kỳ năm 2024. Trong đó: Diện tích gieo cấy lúa vụ Đông Xuân đạt 27.884 ha, giảm 0,1%; Diện tích gieo cấy lúa vụ Hè Thu đạt 25.261 ha, giảm 0,3%. Ước tính năng suất lúa bình quân cả năm 2025 đạt 60,9 tạ/ha, giảm 5,6%. Trong đó: Năng suất lúa Đông Xuân 62,3 ta/ha, giảm 7,6%; năng suất lúa Hè Thu 59,4 tạ/ha, giảm 3,3% so với cùng kỳ năm 2024.Năm nay, điều kiện khí hậu tuy không thuận lợi cho cây lúa nhưng lại khá thuận lợi cho các cây hằng năm khác, nguồn nước đảm bảo, sâu bệnh ít phát sinh, nông dân ưu tiên chọn giống có năng suất cao thay thế giống truyền thống kém hiệu quả, đồng thời công tác phòng trừ sâu bệnh được triển khai kịp thời. Nhờ đó, năng suất các loại cây hằng năm khác đều tăng so với cùng kỳ. Năng suất một số cây hằng năm khác: ngô năng suất ước đạt 46 tạ/ha tăng 10%; khoai lang 43,4 tạ/ha, tăng 4,3%; cây lạc 24 tạ /ha, tăng 6,6%; rau các loại 113 tạ/ha, tăng 9,7% so với cùng kỳ.* Chăn nuôiTrong 9 tháng đầu năm 2025, chăn nuôi trên địa bàn thành phố gặp nhiều khó khăn do dịch tả lợn Châu Phi và bệnh liên cầu lợn xuất hiện vào cuối tháng 7 và tháng 8 tại 20/40 xã, phường, với 4.194 con nhiễm bệnh phải tiêu hủy. Dịch bệnh khiến người dân ít tiêu thụ thịt lợn làm sản lượng lợn hơi trong quý III năm 2025 giảm mạnh. Đến nay, sau 21 ngày không phát sinh ổ dịch mới, thị trường tiêu thụ thịt lợn đã dần ổn định trở lại. Công tác kiểm dịch, kiểm soát giết mổ và kiểm tra vệ sinh thú y được tăng cường nhằm bảo đảm an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng. Cùng với đó, các chương trình tiêm phòng vắc xin cho đàn gia súc, gia cầm tiếp tục được triển khai thường xuyên. Tính đến nay, toàn thành phố đã tiêm phòng: 29.870 liều tụ huyết trùng trâu bò; 47.972 liều tam liên lợn; 9.690 liều E. coli; 617.310 liều cúm gia cầm; 464.500 liều dịch tả vịt; 284.700 liều Newcastle; 12.310 liều tụ huyết trùng gia cầm; 57.770 liều đậu gà; 139.740 liều Gumboro; 58.000 liều vắc xin dại (đạt 95%); 5.000 liều viêm da nổi cục trâu bò và 38.240 liều lở mồm long móng.Đàn đại gia súc duy trì ổn định và phát triển khỏe mạnh, thời điểm 30/9/2025 tổng đàn trâu toàn thành phố ước có 15.390 con, tăng 1,0%. Đàn bò 29.820 con, tăng 2,6%; Chăn nuôi lợn còn gặp khó khăn, do nhu cầu tiêu thụ thấp, số lợn chưa xuất chuồng tăng. Tổng đàn lợn ước đạt 159.530 con, tăng 2,5%. Đàn gia cầm tăng khá nhờ không xảy ra dịch bệnh, công tác tiêm phòng và vệ sinh được chú trọng, chăn nuôi chuyển dần theo hướng chuyên nghiệp, hữu cơ và quy mô lớn. Tổng đàn gia cầm ước đạt 5.287 nghìn con, tăng 6,0%; trong đó đàn gà 3.900 nghìn con, tăng 6,0%.Trong 9 tháng đầu năm 2025, sản lượng thịt hơi xuất chuồng và các sản phẩm trong chăn nuôi có diễn biến trái chiều: Sản lượng thịt trâu 606 tấn, tăng 6,9% so với cùng kỳ. sản lượng thịt bò 973 tấn, tăng 3,7%; sản lượng thịt lợn hơi 11.601 tấn, giảm 5,2%; sản lượng thịt gia cầm 11.881 tấn, tăng 7,5%; sản lượng trứng gia cầm 41.933 nghìn quả, tăng 8,9% so với cùng kỳ.7.2. Lâm nghiệpƯớc diện tích trồng rừng mới tập trung tháng 9/2025 đạt 250 ha, tăng 4,2% so cùng kỳ. Lũy kế diện tích rừng trồng mới tập trung 9 tháng đầu năm 2025 ước đạt 5.216 ha, tăng 4,1%. Sản lượng gỗ khai thác từ rừng trồng trong tháng 9/2025 ước đạt 53,3 nghìn m3, tăng 8,1%. Lũy kế sản lượng gỗ khai thác từ rừng trồng 9 tháng đầu năm 2025 ước đạt 595,9 nghìn m3, tăng 7,3% so với cùng kỳ. Nguyên nhân sản lượng gỗ khai thác tăng do các nhà máy chế biến dăm gỗ tăng thu mua, kết hợp giá bán gỗ nguyên liệu ổn định.Trong tháng 9 năm 2025 xảy ra 8 vụ phá rừng trái pháp luật với diện tích rừng bị phá là 0,7 ha và 1 vụ cháy rừng với diện tích bị cháy là 1 ha. Tính chung từ đầu năm đến nay đã xảy ra 29 vụ phá rừng với mục đích lấy đất sản xuất với diện tích bị thiệt hại là 3,6 ha và 6 vụ cháy rừng diện tích thiệt hại 11,5 ha.7.3. Thủy sản* Tình hình nuôi trồng thủy sảnDiện tích nuôi trồng thủy sản thâm canh tháng 9/2025 ước đạt 130 ha, tăng 2,4% so với cùng kỳ; chia ra diện tích nuôi tôm sú 72 ha, tăng 1,4%, tôm thẻ chân trắng 58 ha, tăng 3,6%. Lũy kế diện tích nuôi trồng thủy sản thâm canh 9 tháng đầu năm 2025 ước đạt 1.100 ha, tăng 2,1% so với cùng kỳ; chia ra diện tích thả nuôi tôm sú 528 ha, tăng 1,3%, tôm thẻ chân trắng 572 ha, tăng 2,9% so với cùng kỳ. Sản lượng thủy sản nuôi trồng thu hoạch tháng 9/2025 ước đạt 2.230 tấn, tăng 5,2% so với cùng kỳ. Chia ra cá 1.650 tấn, tăng 5,1%; tôm các loại 472 tấn, tăng 5,8%; thủy sản khác 108 tấn, tăng 3,8% so với cùng kỳ. Lũy kế sản lượng thủy sản nuôi trồng thu hoạch 9 tháng đầu năm 2025 ước đạt 17.521 tấn, tăng 4,7% so với cùng kỳ. Chia ra cá 10.065 tấn, tăng 4,6%; tôm các loại 6.358 tấn, tăng 4,9%; thủy sản khác 1.098 tấn, tăng 3,7% so với cùng kỳ.* Tình hình khai thác thủy sảnSản lượng thủy sản khai thác trong tháng 9/2025 ước đạt 3.959 tấn, tăng 5% so với cùng kỳ, bao gồm khai thác biển 3.553 tấn, tăng 4,8%; khai thác nội địa 406 tấn tăng 6,6%. Lũy kế sản lượng thủy sản khai thác 9 tháng đầu năm 2025 ước đạt 37.505 tấn, tăng 3,2% so với cùng kỳ. Bao gồm khai thác biển đạt 34.615 tấn, tăng 3,4%; khai thác nội địa 2.890 tấn, tăng 0,3% so với cùng kỳ. Tính chung sản lượng thủy sản nuôi trồng và khai thác 9 tháng đầu năm 2025 ước đạt 55.026 tấn, tăng 3,6% so cùng kỳ. 8. Sản xuất công nghiệpTrong 9 tháng đầu năm 2025, sản xuất công nghiệp trên địa bàn thành phố tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực, ước tăng 17,5% so với cùng kỳ năm 2024. Đạt kết quả này chủ yếu nhờ vào việc đưa vào vận hành các dự án có quy mô lớn được bổ sung từ năm trước. Nổi bật là các dự án như: Nhà máy sản xuất ô tô Kim Long Motor và nhà máy sản xuất găng tay Kanglongda. Bên cạnh đó, ngành sản xuất và phân phối điện cũng ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng, nhờ điều kiện thủy văn thuận lợi với lượng nước dồi dào tại các hồ chứa, góp phần đáng kể vào mức tăng trưởng chung của toàn ngành công nghiệp.Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 9 năm 2025 ước tăng 20,0% so với cùng kỳ, trong đó: ngành công nghiệp khai khoáng tăng 3,1%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 19,6%; sản xuất và phân phối điện tăng 29,7%; cấp nước và thu gom rác thải tăng 6,7%. Tính chung 9 tháng đầu năm 2025, chỉ số IIP ước tăng 17,5% so với cùng kỳ, trong đó: công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 15,9%; sản xuất và phân phối điện tăng 42,3%; cấp nước và thu gom rác thải tăng 1,1%; riêng ngành công nghiệp khai khoáng giảm 6,1%.Các ngành công nghiệp cấp 4 trong 9 tháng đầu năm 2025 có chỉ số sản xuất tăng so với cùng kỳ: sản xuất các loại bánh từ bột (+8,9%); cưa, xẻ, bào gỗ và bảo quản gỗ (+8,2%); sản xuất plastic và cao su tổng hợp dạng nguyên sinh (+9,0%); sản xuất sản phẩm khác từ cao su (+15,3 lần); sản xuất sản phẩm từ plastic (+48,3%); sản xuất xe có động cơ (+5,2 lần); sản xuất, truyền tải và phân phối điện (+42,3%)...Bên cạnh những dấu hiệu tích cực, một số ngành sản xuất công nghiệp đang gặp không ít khó khăn, dự ước các ngành công nghiệp cấp 4 trong 9 tháng đầu năm 2025 có chỉ số sản xuất giảm so với cùng kỳ: khai thác đá, cát, sỏi, đất sét (-6,4%); chế biến, bảo quản thuỷ sản và các sản phẩm từ thuỷ sản (-25,6%); sản xuất bia và mạch nha ủ men bia (-11,0%); may trang phục (-4,7%); sản xuất vật liệu từ đất sét (-0,2%); sản xuất sản phẩm từ chất khoáng phi kim loại khác chưa được phân vào đâu (-17,6%); sản xuất máy vi tính và thiết bị ngoại vi (-27,1%)...Các sản phẩm công nghiệp ước 9 tháng đầu năm 2025 tăng so với cùng kỳ năm trước: dăm gỗ 569,3 nghìn tấn (+8,2%); sợi 90,1 nghìn tấn (+0,2%); thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng viên 58,7 triệu viên (+4,3%); găng tay, găng hở ngón và găng bao tay bằng cao su lưu hoá 11,1 nghìn tấn (+33,4 lần); xe có động cơ đốt trong 3.170 chiếc (+5,5 lần); điện sản xuất 1.696,0 triệu KWh (+60,0%); điện thương phẩm 1.783,1 triệu KWh (+6,9%)...Các sản phẩm công nghiệp ước 9 tháng đầu năm 2025 giảm so với cùng kỳ: tôm đông lạnh 2,9 nghìn tấn (-25,6%); bia 235,1 triệu lít (-11,0%); quần áo lót cho người lớn không dệt kim hoặc đan móc 267,8 triệu cái (-4,6%); gạch men 8,6 triệu m2 (-0,2%); men frit 183,6 nghìn tấn (-2,9%).Chỉ số sử dụng lao động tháng 9 năm 2025 tăng 0,6% so với tháng trước và tăng 6,6% so với cùng kỳ. Tính chung chỉ số sử dụng lao động 9 tháng đầu năm tăng 7,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó tập trung vào một số ngành: chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre nứa (+5,9%); sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic (+97,6%); sản xuất xe có động cơ (+217,8%); sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí (+3,1%). Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số sử dụng lao động giảm đó là: sản xuất chế biến thực phẩm (-6,5%); dệt (-1,8%); in, sao chép bản ghi các loại (-12,3%); sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy (-9,8%); sản xuất giường tủ, bàn, ghế (-10,7%); ... 9. Thương mại, dịch vụTrong tháng 9/2025, trên địa bàn thành phố diễn ra nhiều sự kiện văn hóa, chính trị, du lịch quan trọng, đặc biệt là các hoạt động kỷ niệm 80 năm Quốc khánh 2/9 như: màn bắn pháo hoa tầm cao tại quảng trường Ngọ Môn; triển lãm thành tựu đất nước giới thiệu thành quả kinh tế, văn hóa và tầm nhìn phát triển xanh… Các sự kiện này đã tạo không khí sôi động, thu hút đông đảo người dân và du khách, góp phần quảng bá hình ảnh văn hóa Huế, thúc đẩy tiêu dùng, lưu thông hàng hóa và gia tăng nhu cầu dịch vụ. Song song với đó, các chương trình khuyến mãi tại hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại (AEON Mall, Big C, CoopMart, Mini Go…) đã mở rộng kênh tiêu thụ, tạo động lực cho hoạt động mua sắm. Nhờ các yếu tố trên, hoạt động thương mại, dịch vụ và vận tải tháng 9 cũng như 9 tháng đầu năm 2025 tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm trước.Kết quả hoạt động thương mại, dịch vụ và vận tải trên địa bàn thành phố tháng 9 và 9 tháng năm 2025 ước đạt như sau:9.1. Bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùngTháng 9, nhiều sự kiện chào mừng Quốc khánh 2/9, các chương trình khuyến mãi tiêu dùng và hoạt động kích cầu du lịch được tổ chức sôi động. Bên cạnh đó, trong dịp này học sinh bước vào năm học mới nên nhu cầu mua sắm văn phòng phẩm, áo quần và đồ dùng tăng lên. Nhờ vậy, tháng 9 hoạt động thương mại, dịch vụ tiếp tục tăng trưởng khá. Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 9 tháng đạt 48.850 tỷ đồng, tăng 14,7% so với cùng kỳ.Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 9/2025 ước đạt 5.649 tỷ đồng, giảm 0,5% so với tháng trước và tăng 14,4% so với cùng kỳ. Chia theo ngành kinh tế, doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 9/2025 ước đạt 3.987 tỷ đồng, chiếm 70,6%, tăng 0,3% so với tháng trước và tăng 14,8% so với cùng kỳ. Doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống ước đạt 1.190 tỷ đồng, chiếm 21,1%, giảm 1,3% so với tháng trước và tăng 18,5% so với cùng kỳ; hoạt động du lịch lữ hành đạt 39 tỷ đồng, chiếm 0,7%, giảm 4,1% và tăng 20%; doanh thu dịch vụ khác đạt 433 tỷ đồng, chiếm 7,7%, giảm 4,7% và tăng 1,1%. Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng quý III năm 2025 đạt 16.921 tỷ đồng, tăng 13,6% so với cùng kỳ, chia ra: tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 11.869 tỷ đồng, tăng 14,9% so với cùng kỳ; dịch vụ lưu trú và ăn uống đạt 3.567 tỷ đồng, tăng 14,1%; hoạt động du lịch lữ hành đạt 133 tỷ đồng, tăng 29,6%; dịch vụ khác đạt 1.352 tỷ đồng, tăng 0,9%.Tính chung 9 tháng tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 48.850 tỷ đồng, tăng 14,7% so với cùng kỳ, chia ra: tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 34.453 tỷ đồng, chiếm 70,5% tổng số và tăng 14,2% so với cùng kỳ; dịch vụ lưu trú và ăn uống đạt 10.070 tỷ đồng, chiếm 20,6% và tăng 17,6%; hoạt động du lịch lữ hành đạt 329 tỷ đồng, chiếm 0,7% và tăng 26,8%; dịch vụ khác đạt 3.998 tỷ đồng, chiếm 8,2% và tăng 10,9%. 9.2. Vận tải hành khách và hàng hóaBên cạnh chuỗi các hoạt động lễ hội trải dài trong năm, trong tháng này nhu cầu vận tải hàng hóa tăng lên nhằm cung cấp nguyên vật liệu cho các công trình xây dựng đẩy nhanh tiến độ nhằm hoàn thành trước mùa mưa bão. Qua đó hoạt động vận tải vận khách và vận tải hàng hóa đều đạt kết quả cao.Dự ước hành khách vận chuyển tháng 9 năm 2025 đạt 3.948,8 nghìn hành khách, tăng 3,4% so với tháng trước và tăng 22,5% so với cùng kỳ; hành khách luân chuyển đạt 192,1 triệu hành khách.km, tăng 3% so với tháng trước và tăng 21,9% so với cùng kỳ. Dự ước vận tải hành khách quý III/2025 đạt 11.481,8 nghìn hành khách và 560 triệu lượt khách.km, tương ứng tăng 21,7% và tăng 21,6% so với cùng kỳ. Tính chung 9 tháng đầu năm 2025, vận tải hành khách ước đạt 32.545,7 nghìn hành khách, tăng 19,3% so với cùng kỳ và luân chuyển ước đạt 1.590,4 triệu lượt khách.km, tăng 18,6%. Dự ước hàng hóa vận chuyển tháng 9 năm 2025 ước đạt 2.296,9 nghìn tấn, tăng 2,4% so với tháng trước và tăng 14% so với cùng kỳ; hàng hóa luân chuyển đạt 190,8 triệu tấn.km, tăng 2,5% so với tháng trước và tăng 14,2% so với cùng kỳ. Dự ước vận tải hàng hóa quý III/2025 đạt 6.723,3 nghìn tấn, tăng 13,5% và 558,3 triệu tấn.km, tăng 13,9% so với cùng kỳ. Tính chung 9 tháng đầu năm 2025, vận tải hàng hóa ước đạt 19.024,6 nghìn tấn, tăng 11,4% so với cùng kỳ và luân chuyển ước đạt 1.584,8 triệu tấn.km, tăng 12,5% so với cùng kỳ.Dự ước doanh thu vận tải và bốc xếp tháng 9 năm 2025 đạt 557 tỷ đồng, tăng 2,5% so với tháng trước và tăng 18,8% so với cùng kỳ. Doanh thu vận tải, bốc xếp quý III/2025 ước đạt 1.628,3 tỷ đồng, tăng 18,4% so với cùng kỳ. Tính chung 9 tháng đầu năm 2025, doanh thu vận tải và bốc xếp ước đạt 4.625,4 tỷ đồng, tăng 16,6% so với cùng kỳ. Trong đó: đường bộ đạt 4.237 tỷ đồng, tăng 16,2%; đường sông đạt 4,3 tỷ đồng, tăng 18,9%. Chia theo loại hình dịch vụ: vận tải hành khách ước đạt 998,7 tỷ đồng, tăng 19,8%; vận tải hàng hóa ước đạt 3.242,6 tỷ đồng, tăng 15,1%; dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 384,1 tỷ đồng, tăng 20,7 so với cùng kỳ.9.3. Lượt khách các cơ sở lưu trú phục vụ và du lịch lữ hànhTrong tháng 9, nhân dịp kỷ niệm Quốc khánh 2/9 thành phố thực hiện chương trình mở cửa miễn phí để đón người dân và du khách Việt Nam vào tham quan các điểm di tích thuộc Quần thể di tích Cố đô Huế. Tuy nhiên, đây cũng là tháng kết thúc kỳ nghỉ hè và bắt đầu năm học mới nên lượng khách nội địa có xu hướng giảm.Dự ước lượt khách do cơ sở lưu trú phục vụ tháng 9/2025 đạt 218,6 nghìn lượt khách, giảm 4,2% so với tháng trước và tăng 16,2% so với cùng kỳ. Trong đó, lượt khách ngủ qua đêm tháng 9/2025 ước đạt 177,7 nghìn lượt khách, giảm 4,7% so với tháng trước và tăng 44,8% so với cùng kỳ; lượt khách trong ngày đạt 40,8 nghìn lượt khách, giảm 1,9% so với tháng trước và tăng 3% so với cùng kỳ. Dự ước lượt khách do cơ sở lưu trú phục vụ quý III năm 2025 đạt 685,7 nghìn lượt khách, tăng 6,7% so với quý trước và tăng 28,3% so với cùng kỳ. Trong đó, lượt khách ngủ qua đêm 562,8 nghìn lượt khách, tăng 5,9% so với quý trước và tăng 33,3% so với cùng kỳ; lượt khách trong ngày 122,9 nghìn lượt khách, tăng 10,8% và tăng 9,6%.Tính chung lượt khách do các cơ sở lưu trú phục vụ chín tháng đầu năm 2025 đạt 1.933,9 nghìn lượt, tăng 25,5% so với cùng kỳ. Trong đó, lượt khách ngủ qua đêm chín tháng đạt 1.596,1 nghìn lượt, tăng 29,9% so cùng kỳ. Trong lượt khách ngủ qua đêm, khách quốc tế 551,9 nghìn lượt, tăng 14,6%; khách trong nước 1.044,3 nghìn lượt, tăng 39,7% so với cùng kỳ. Lượt khách trong ngày chín tháng đạt 337,8 nghìn lượt, tăng 8% so với cùng kỳ.Ngày khách phục vụ dự ước tháng 9/2025 đạt 293,4 nghìn ngày, giảm 3,3% so với tháng trước và tăng 39,8% so với cùng kỳ. Ngày khách do các cơ sở lưu trú phục vụ quý III năm 2025 ước đạt 918,2 nghìn ngày, tăng 3,4 % so với quý trước và tăng 26% so với cùng kỳ. Đưa ngày khách dự ước chín tháng đầu năm đạt 2.647,3 nghìn ngày, tăng 27,2% so với cùng kỳ. Trong đó: Ngày khách quốc tế đạt 963,5 nghìn ngày, tăng 12,7%; ngày khách trong nước đạt 1.683,8 nghìn ngày, tăng 37,2%.Lượt khách phục vụ của các cơ sở lữ hành thực hiện tháng 9/2025 ước đạt 18,6 nghìn lượt, giảm 3,6% với tháng trước và tăng 18,2% so với cùng kỳ. Lượt khách phục vụ quý III năm 2025 ước đạt 54,4 nghìn lượt, tăng 6,3% với quý trước và giảm 11,8% so với cùng kỳ. Đưa lượt khách chín tháng đầu năm 2025 ước đạt 158,9 nghìn lượt, tăng 1,3% so với cùng kỳ. Ngày khách theo tour ước thực hiện tháng 9/2025 là 42,1 nghìn ngày, giảm 2,1% so với tháng trước và tăng 8,9% so với cùng kỳ. Ngày khách theo tour quý III năm 2025 ước đạt 131,5 nghìn ngày, tăng 5,7% so với quý trước và tăng 5,7% so với cùng kỳ. Đưa ngày khách theo tour chín tháng đầu năm 2025 ước đạt 355,9 nghìn ngày khách, tăng 11,6% so với cùng kỳ.10. Các vấn đề xã hội10.1. Giải quyết việc làmTừ đầu năm 2025 đến nay, công tác giải quyết việc làm trên địa bàn thành phố tiếp tục đạt nhiều kết quả tích cực. Cụ thể, toàn thành phố đã tạo việc làm cho 15.964 lao động, đạt 90,7% kế hoạch năm. Kết quả này cho thấy sự nỗ lực của các cấp, ngành trong việc triển khai đồng bộ các chương trình, chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội, gắn với thúc đẩy thị trường lao động. Đáng chú ý, trong số đó có 2.084 lao động được đưa đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, đạt 99,24% chỉ tiêu kế hoạch. Đây là điểm sáng nổi bật, không chỉ góp phần giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động, mà còn giúp gia tăng nguồn kiều hối, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế địa phương.10.2. Đời sống dân cưNhìn chung 9 tháng năm 2025, đời sống dân cư trên địa bàn thành phố cơ bản ổn định, sản xuất kinh doanh các ngành kinh tế tiếp tục phát triển khá, việc làm và thu nhập từng bước được cải thiện. Các chính sách an sinh xã hội, ưu đãi người có công, trợ giúp xã hội, giảm nghèo, hỗ trợ lao động - việc làm tiếp tục được thực hiện đầy đủ, đúng đối tượng, góp phần nâng cao mức sống cho người dân. Từ ngày 1/7/2025, chế độ trợ cấp hưu trí xã hội được áp dụng cho những người từ đủ 75 tuổi trở lên không hưởng lương hưu hoặc trợ cấp BHXH hàng tháng; người từ đủ 70 tuổi đến dưới 75 tuổi thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo không hưởng lương hưu hoặc trợ cấp BHXH hàng tháng; chính sách này đã giúp người cao tuổi có điều kiện sống tốt hơn.Cùng với đó, nhân dịp kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, thành phố đã tổ chức tặng quà cho mỗi người dân trị giá 100.000 đồng. Hoạt động này mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, tạo không khí phấn khởi, đoàn kết trong toàn xã hội.Kết quả khảo sát mức sống dân cư kỳ 3 năm 2025 càng khẳng định hiệu quả của những nỗ lực trên, khi thu nhập bình quân đầu người toàn thành phố tăng 11% so với cùng kỳ, cho thấy đời sống kinh tế – xã hội ngày càng được cải thiện rõ nét.10.3. Chính sách - xã hộiCông tác người có công được quan tâm thực hiện đầy đủ, kịp thời. Hỗ trợ cho người có công và thân nhân của người có công với cách mạng quý III/2025 với số tiền 116,82 tỷ đồng, tăng 28,6% so với quý trước, tăng 28,6% so với cùng kỳ. Lũy kế 9 tháng đầu năm 2025 là 373,1 tỷ đồng, tăng 26,6% so cùng kỳ. Các chính sách đối với những đối tượng bảo trợ xã hội trên địa bàn thành phố tiếp tục được triển khai và thực hiện có hiệu quả. Hỗ trợ cho các đối tượng bảo trợ xã hội theo Nghị định 20/2021/NĐ-CP quý III/2025 là 154,3 tỷ đồng, tăng 13,5% so với quý trước; tăng 34,9% so với cùng kỳ. Lũy kế 9 tháng đầu năm 2025 là 442,6 tỷ đồng, tăng 35,6% so cùng kỳ. Số tiền hỗ trợ tăng so với trước là do từ 1/7/2025 mở rộng đối tượng bảo trợ xã hội cho người cao tuổi.Hỗ trợ cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có hoàn cành khó khăn, hộ chính sách xã hội không trùng với các đối tượng còn lại tại Nghị định 20/2010/NĐ-CP quý III/2025 là 422,8 triệu đồng. Lũy kế 9 tháng đầu năm 2025 là 25,2 tỷ đồng, giảm 26% so với cùng kỳ. Thực hiện kế hoạch triển khai Phong trào thi đua “Chung tay xóa nhà tạm, nhà dột nát trên phạm vi cả nước trong năm 2025” theo Quyết định số 539/QĐ-TTg ngày 19/6/2024 của Thủ tướng Chính phú ban hành. Trong 9 tháng đầu năm 2025 đã xây mới và sửa chữa 413 nhà với kinh phí khoảng 5,59 tỷ đồng.Cấp phát miễn phí thẻ bảo hiểm y tế tại địa phương quý III/2025 là 347.162 thẻ, giảm 93 thẻ so với quý trước. Hỗ trợ tình hình đột biến, bất thường tại địa phương quý III/2025 là 260 triệu đồng, giảm 97,3% so với cùng kỳ. Lũy kế 9 tháng đầu năm 2025 là 3,5 tỷ đổng, giảm 87,8% so với cùng kỳ.10.4. Giáo dụcSáng ngày 5/9, trong không khí rộn ràng của ngày hội “Toàn dân đưa trẻ đến trường”, hơn 294 nghìn học sinh trên địa bàn TP. Huế đã long trọng tham dự Lễ Khai giảng năm học mới 2025–2026, gắn với Kỷ niệm 80 năm thành lập Bộ Giáo dục và Đào tạo. Với niềm tin, kỳ vọng và khát vọng đổi mới, ngành giáo dục Huế bước vào năm học mới với tinh thần “Đổi mới – sáng tạo – phát triển – hội nhập”, quyết tâm đào tạo thế hệ học sinh vững tri thức, sáng đạo đức, giàu bản lĩnh, góp phần xây dựng thành phố Huế văn hiến, văn minh và hiện đại. Cùng ngày, Đại học Huế cũng tổ chức Lễ Khai giảng năm học 2025–2026, chào đón 15 nghìn tân sinh viên nhập học hệ chính quy, đánh dấu một khởi đầu mới đầy hứng khởi cho tuổi trẻ trên con đường học tập và rèn luyện.Ngày 20/9, Đại học Huế tiếp tục sôi động với chung kết Cuộc thi Ý tưởng khởi nghiệp đổi mới sáng tạo lần thứ VIII năm 2025, sự kiện quy tụ hàng trăm sinh viên cùng nhiều dự án giàu tính ứng dụng, từ công nghệ bảo tồn di sản đến phát triển sản phẩm xanh. Mỗi ý tưởng là kết tinh của trí tuệ, niềm đam mê và sự cống hiến của tuổi trẻ Đại học Huế.10.5. Tình hình y tế, dịch bệnh, ngộ độc thực phẩmTháng 9/2025, trên địa bàn có 38 ca sốt xuất huyết, giảm 269 ca so cùng kỳ; có 9 ca mắc tay chân miệng, giảm 8 ca so với cùng kỳ; 1 ca liên cầu lợn, tăng 1 ca so với cùng kỳ; 3 ca sốt phát ban, giảm 12 ca so; không có ca mắc bệnh sởi, tăng 1 so với cùng kỳ. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn có 238 ca sốt xuất huyết, giảm 1.117 ca so cùng kỳ; có 158 ca mắc tay chân miệng, tăng 59 ca so với cùng kỳ; 43 ca liên cầu lợn, tăng 41 ca so với cùng kỳ, làm 4 người chết, tăng 4 người so với cùng kỳ; 1.574 ca sốt phát ban, tăng 1.528 ca và có 349 ca sởi, tăng 346 ca so với cùng kỳ.Tháng 8/2025, trên địa bàn đã phát hiện 7 ca nhiễm mới HIV, giảm 3 ca so cùng kỳ; có 4 ca chuyển qua AIDS, tăng 1 ca so cùng kỳ; không có ca tử vong, bằng cùng kỳ. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn có 65 ca nhiễm mới HIV, tăng 2 ca so cùng kỳ; 18 ca chuyển qua AIDS, giảm 1 ca so cùng kỳ; 3 ca tử vong, bằng so với cùng kỳ. Hiện tại, trên địa bàn có 577 bệnh nhân đang được quản lý và điều trị tại các cơ sở y tế, trong đó có 571 bệnh nhân điều trị ARV.Tháng 9/2025, trên địa bàn xảy ra 2 vụ ngộ độc thực phẩm, tăng 2 vụ so với cùng kỳ; làm 19 người bị ngộ độc và không có người chết. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn xảy ra 3 vụ ngộ độc thực phẩm, giảm 1 vụ so cùng kỳ; làm 40 người bị ngộ độc, tăng 1 người so cùng kỳ; không có người chết, bằng cùng kỳ.10.6. Hoạt động văn hóa, thể thao Các hoạt động văn hóa được triển khai đồng bộ, gắn với tuyên truyền kỷ niệm những ngày lễ lớn của đất nước. Nhiều lễ hội quy mô, an toàn, thu hút đông đảo du khách như: Lễ hội Đền Huyền Trân, Lễ hội Điện Huệ Nam, Ngày hội làng Dương Nỗ, Tuần lễ Áo dài… đã góp phần quảng bá sâu rộng hình ảnh văn hóa Huế. Đặc biệt, sau hơn hai tuần diễn ra tại Hà Nội, ngày 16/9, Triển lãm thành tựu đất nước với chủ đề “80 năm hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc” đã chính thức khép lại. Không gian triển lãm của thành phố Huế với chủ đề “Huế - Di sản, bản sắc và tầm nhìn phát triển xanh” được Ban Tổ chức vinh danh, trao tặng danh hiệu “Không gian trưng bày tiêu biểu”, khẳng định dấu ấn riêng và sức lan tỏa của văn hóa Huế.Đến nay, trên địa bàn thành phố có 1.105 khu dân cư, trong đó đã công nhận đạt chuẩn văn hóa 1.053, đạt tỷ lệ 95,3%. Có 300.457/312.943 gia đình được công nhận đạt chuẩn, đạt tỷ lệ 94,4% (so với tổng số gia đình đăng ký xây dựng gia đình văn hóa). Xây dựng cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp văn hóa, đến nay có 1.018 cơ quan, đơn vị được công nhận đạt chuẩn văn hóa, đạt tỷ lệ 92%.Tính đến hết tháng 8 năm 2025, các VĐV tham gia các giải thể thao khu vực, quốc gia và quốc tế đạt được 672 huy chương các loại (203 HCV, 171 HCB, 298 HCĐ), trong đó có 57 huy chương quốc tế (22 HCV, 15 HCB, 20 HCĐ). Đặc biệt, tại giải vô địch và vô địch trẻ Châu Á môn Jujitsu: VĐV Nguyễn Hoài Thương đã xuất sắc đạt được 2 HCV, 1 HCB và 1 HCĐ; tại giải vô địch Đông Nam Á vật tự do 3 vận động viên: Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, Nguyễn Thị Mỹ Trang, Nguyễn Thị Mỹ Linh đạt 3 HCV.10.7. Tai nạn giao thông, trật tự, an toàn xã hội Theo báo cáo của Ban ATGT thành phố, từ 15/8/2025 đến 14/9/2025, trên địa bàn đã xảy ra 15 vụ tai nạn giao thông, bằng cùng kỳ; làm 7 người chết, tăng 2 người; làm bị thương 11 người, giảm 3 người so cùng kỳ. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn xảy ra 162 vụ tai nạn giao thông, giảm 55 vụ so với cùng kỳ; làm chết 84 người, giảm 9 người và làm bị thương 112 người, giảm 48 người so với cùng kỳ.*Tình hình trật tự an toàn giao thông 04 ngày của kỳ nghỉ lễ 02/9/2025 (Từ 30/8/2025 đến 02/9/2025)Tai nạn giao thông đường bộ xảy ra 1 vụ, không có người chết, bị thương 1 người. So với Lễ Quốc khánh năm trước, giảm 5 vụ (-83,3%), giảm 1 người chết (-100%), giảm 3 người bị thương (-75 %). Không xảy ra tai nạn giao thông đường sắt, đường thủy.10.8. Tình hình cháy nổ và bảo vệ môi trườngTrong tháng 9/2025 trên địa bàn xảy ra 2 vụ cháy, tăng 2 vụ so với cùng kỳ, giảm 1 vụ so với tháng trước. Cụ thể, 1 vụ cháy rừng và 1 vụ cháy xe; không gây thiệt hại về người, tổng giá trị thiệt hại ước khoảng 600 triệu đồng. Hiện nay các cơ quan chức năng đang tiến hành điều tra làm rõ nguyên nhân. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn xảy ra 13 vụ cháy, giảm 1 vụ so với cùng kỳ; không gây thiệt hại về người; tổng giá trị thiệt hại 6,7 tỷ đồng.Trong tháng 9/2025 trên địa bàn xảy ra 8 vụ vi phạm môi trường, tăng 2 vụ so với cùng kỳ, giảm 2 vụ so với tháng trước. Các hình thức vi phạm: 1 vụ xả nước thải vượt quy chuẩn kỹ thuật, 1 vụ không đăng ký thủ tục về môi trường, 2 vụ gây tiếng ồn vượt mức cho phép, 2 vụ vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm, 1 vụ đổ chất thải rắn thông thường trái quy định, 1 vụ không có giấy phép môi trường; tiến hành xử lý 9 vụ với số tiền xử phạt hơn 780 triệu đồng. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn xảy ra 94 vụ, giảm 77 vụ so với cùng kỳ; xử lý 94 vụ với tổng số tiền 3,8 tỷ đồng.10.9. Thiệt hại do thiên taiTháng 9/2025 trên địa bàn thành phố Huế không xảy ra thiên tai, bằng cùng kỳ, giảm 1 vụ so với tháng trước. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn thành phố Huế xảy ra 5 vụ thiên tai, bằng cùng kỳ; không có thiệt hại về người. Tổng giá trị thiệt hại 39,5 tỷ đồng; chính quyền các cấp đã hỗ trợ 3,2 tỷ đồng.Nguồn Thống kê cơ sở thành phố Huế

BÁO CÁO KINH TẾ XÃ HỘI THÁNG 8 VÀ 8 THÁNG ĐẦU NĂM 2025 THÀNH PHỐ HUẾ
  •   12/09/2025 14:33

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sảnTrong 8 tháng đầu năm 2025, sản xuất nông nghiệp của thành phố cơ bản ổn định. Diện tích gieo trồng lúa hè thu giảm nhẹ 0,04%, lúa mùa giảm 4,8%; các loại cây trồng khác biến động theo hướng tăng diện tích khoai lang, rau màu, trong khi ngô, lạc, đậu giảm. Chăn nuôi ghi nhận đàn bò, gia cầm tăng, đàn lợn tăng 3,0% nhưng gặp khó do dịch tả lợn Châu Phi và bệnh liên cầu lợn; ngành chức năng đã triển khai các biện pháp phòng, chống dịch và tiêm phòng vắc xin. Lâm nghiệp trồng mới tăng 4,1%, sản lượng gỗ khai thác tăng 7,2% nhờ nhu cầu và giá ổn định. Thủy sản tiếp tục duy trì tăng trưởng, sản lượng khai thác biển tăng 3,2%, nuôi trồng tăng 4,6%.1.1. Nông nghiệp* Trồng trọtDiện tích gieo trồng cây lúa vụ hè thu ước đạt 25.336 ha, giảm 0,04% so cùng kỳ năm trước. Hiện nay, lúa hè thu đang bước vào giai đoạn chín rộ và dự kiến đến đầu tháng 9/2025, bà con nông dân sẽ đồng loạt tiến hành thu hoạch đại trà, đảm bảo đúng khung thời vụ. Lúa mùa đã gieo 186 ha, giảm 4,8% so cùng kỳ năm trước. Diện tích này chủ yếu tập trung tại huyện A Lưới. Do điều kiện thời tiết diễn biến thất thường, cộng thêm địa hình có nhiều vùng đất dốc, bà con nơi đây đã chủ động chuyển đổi cơ cấu cây trồng, thay thế một phần diện tích lúa mùa bằng các loại cây trồng khác có khả năng thích ứng tốt hơn, như cây sắn và cây keo.Diện tích gieo trồng một số cây hằng năm chủ yếu lũy kế đến tháng 8 năm 2025: Ngô ước đạt 1.120 ha, giảm 18,4%; Lạc 2.160 ha; giảm 3,7%; Đậu các loại 858 ha, giảm 1,9%; Khoai lang ước đạt 813 ha; tăng 38,0%; Rau các loại ước đạt 4.297 ha; tăng 3,7% so với cùng kỳ năm 2024.* Chăn nuôiƯớc thực hiện thời điểm 31/8/2025 tổng đàn trâu ước có 15.212 con, giảm 0,3%; đàn bò có 29.588 con, tăng 1,9% so với cùng kỳ năm 2024.Hiện nay, trên địa bàn thành phố đã xuất hiện bệnh dịch tả lợn Châu Phi tại một số địa phương. Ngành thú y đã phối hợp với chính quyền địa phương tổ chức tiêu hủy lợn bệnh, đồng thời hướng dẫn vệ sinh, tiêu độc, khử trùng khu vực chăn nuôi. Bên cạnh đó, bệnh liên cầu lợn đã lây sang người và gây tử vong, khiến người dân hạn chế sử dụng thịt lợn. Mặc dù ngành nông nghiệp thành phố đã tuyên truyền, khuyến khích người dân sử dụng thịt lợn an toàn và sản phẩm đã qua kiểm dịch, nhưng xu hướng chung là thay thế thịt lợn bằng thịt bò, trâu, gia cầm và thủy sản. Điều này dẫn đến tình trạng lợn hơi khó tiêu thụ, số lượng đầu con chưa xuất chuồng tăng, khiến nhiều hộ chăn nuôi nhỏ lẻ không dám tái đàn. Tính đến ngày 31/8/2025, tổng đàn lợn ước đạt 159.950 con, tăng 3,0% so với cùng kỳ năm trước.Tổng đàn gia cầm thời điểm 31/7/2025 ước đạt 5.095 nghìn con, tăng 3,7% so với cùng kỳ. Trong đó: Đàn gà có 3.738 nghìn con, tăng 3,8% so với thời điểm 31/8/2024. Nguyên nhân đàn gia cầm tăng khá do giá ổn định, chưa xuất hiện dịch bệnh, nhu cầu tiêu dùng cao, người chăn nuôi có lãi; đồng thời công tác vệ sinh môi trường, phòng dịch và ý thức phòng bệnh của các cơ sở được chú trọng, cải thiện.Để kiểm soát dịch bệnh và tái đàn lợn hiệu quả, UBND thành phố chỉ đạo triển khai quyết liệt, đồng bộ các giải pháp phòng, chống dịch tả lợn Châu Phi, bệnh liên cầu lợn và các loại dịch bệnh khác trên đàn lợn. UBND yêu cầu Sở Nông nghiệp và Môi trường thực hiện nghiêm việc công bố dịch, tổ chức phòng chống dịch theo đúng quy định; đồng thời chấn chỉnh, xử lý nghiêm trách nhiệm của tập thể, cá nhân thiếu quan tâm, chỉ đạo để dịch bệnh lây lan trên diện rộng. Bên cạnh đó, tập trung triển khai công tác tiêm phòng cho gia súc, gia cầm vụ Thu năm 2025. Đến nay đã tiêm phòng được: 28.070 liều tụ huyết trùng Trâu bò (88%), 10.750 liều tam liên lợn (36%), 1.370 liều E.coli (23%), 62.000 liều Cúm gia cầm (16%) và 221.870 liều các loại vắc xin gia cầm khác.1.2. Lâm nghiệpDiện tích trồng rừng mới tập trung tháng 8/2025 ước đạt 275 ha, tăng 4,2% so cùng kỳ. Lũy kế diện tích rừng trồng mới tập trung 8 tháng đầu năm 2025 ước đạt 4.966 ha, tăng 4,1%. Nguyên nhân tăng do thời tiết những tháng đầu năm mưa nhiều thuận lợi cho trồng rừng mới.Sản lượng gỗ khai thác từ rừng trồng trong tháng 8/2025 ước đạt 59.780 m3, tăng 8,3%. Tính chung 8 tháng đầu năm 2025 sản lượng gỗ khai thác từ rừng trồng ước đạt 542.530 m3, tăng 7,2% so cùng kỳ năm 2024. Nguyên nhân sản lượng gỗ khai thác tăng do các nhà máy chế biến dăm gỗ tăng thu mua, đồng thời giá bán gỗ nguyên liệu ổn định.Trong tháng 8 năm 2025 xảy ra cháy rừng, phá rừng trái pháp luật 6 vụ với diện tích rừng bị phá là 1,2 ha. Tính chung từ đầu năm đến nay đã xảy ra 21 vụ phá rừng với mục đích lấy đất sản xuất, diện tích ước bị thiệt hại là 2,95 ha và 5 vụ cháy rừng diện tích ước thiệt hại là 10,54 ha.1.3. Thủy sản* Tình hình Khai thác thủy sản biểnSản lượng thủy sản khai thác biển trong tháng 8/2025 ước đạt 3.907 tấn, tăng 4,9% so với cùng kỳ; trong đó sản lượng cá 3.469 tấn, tăng 4,9%; tôm 90 tấn, tăng 4,7%, thủy sản khác 348 tấn, tăng 4,8% so với cùng kỳ. Lũy kế sản lượng thủy sản khai thác biển tám tháng đầu năm 2025 ước đạt 31.062 tấn, tăng 3,2% so với cùng kỳ; trong đó sản lượng cá 27.284 tấn, tăng 3,3%; tôm 742 tấn, tăng 3,2%; thủy sản khác 3.036 tấn, tăng 3,0% so với cùng kỳ.* Tình hình nuôi trồng thủy sảnDiện tích nuôi trồng thủy sản thâm canh tháng 8/2025 ước đạt 152 ha, tăng 2% so với cùng kỳ, chia ra diện tích nuôi tôm sú 71 ha, tăng 1,4%; tôm thẻ chân trắng 81 ha, 2,5%. Lũy kế tổng diện tích nuôi trồng thủy sản thâm canh 8 tháng đầu năm 2025 ước đạt 970 ha, tăng 2,1% so với cùng kỳ, chia ra diện tích thả nuôi tôm sú 456 ha, tăng 1,3%; tôm thẻ chân trắng 514 ha, tăng 2,8%. Sản lượng thủy sản nuôi trồng thu hoạch tháng 8/2025 ước đạt 2.769 tấn, tăng 5,1% so với cùng kỳ, chia ra cá 1.545 tấn, tăng 4,9%; tôm các loại 956 tấn, tăng 5,6%; trong đó tôm sú 159 tấn, tăng 4,6%; tôm thẻ chân trắng 767 tấn, tăng 5,8%; thủy sản khác 268 tấn, tăng 4,3% so với cùng kỳ. Tính chung sản lượng thủy sản nuôi trồng thu hoạch 8 tháng đầu năm 2025 ước đạt 15.291 tấn, tăng 4,6% so với cùng kỳ, chia ra cá 8.415 tấn, tăng 4,5%; tôm các loại 5.886 tấn, tăng 4,8%; trong đó tôm sú 1.023 tấn, tăng 4,7%; tôm thẻ chân trắng 4.577 tấn, tăng 4,9%; thủy sản khác 990 tấn, tăng 3,7% so với cùng kỳ. 2. Sản xuất công nghiệpTrong tháng 8, hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn thành phố Huế tiếp tục ghi nhận mức tăng trưởng cao. Kết quả tích cực này chủ yếu đến từ việc bổ sung năng lực sản xuất mới trong năm trước, nổi bật là các dự án như Nhà máy ô tô Kim Long Motor và Nhà máy sản xuất găng tay Kanglongda. Ngoài ra, ngành sản xuất điện cũng đạt được mức tăng trưởng ấn tượng nhờ nguồn nước dồi dào tại các hồ chứa, qua đó góp phần thúc đẩy sự phát triển chung của toàn ngành. Tuy nhiên, trái ngược với xu hướng tăng, một số sản phẩm chủ lực của địa phương như tôm đông lạnh, bia, sợi và quần áo lót vẫn đang gặp nhiều khó khăn. Tính chung 8 tháng đầu năm 2025, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) ước tăng 17,8% so với cùng kỳ năm 2024.Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 8 năm 2025 ước tăng 22,1% so với cùng kỳ năm 2024, trong đó: công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 24,6%; sản xuất và phân phối điện tăng 14,1%; cấp nước và thu gom rác thải tăng 3,1%; riêng ngành công nghiệp khai khoáng giảm 4,1%. Tính chung 8 tháng đầu năm 2025, chỉ số IIP ước tăng 17,8% so với cùng kỳ năm 2024, trong đó: công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 16,8%; sản xuất và phân phối điện tăng 39,5%; cấp nước và thu gom rác thải tăng 0,5%; riêng ngành công nghiệp khai khoáng giảm 7,1%.Các ngành công nghiệp cấp 4 trong 8 tháng đầu năm 2025 có chỉ số sản xuất tăng so với cùng kỳ: sản xuất các loại bánh từ bột (+9,2%); cưa, xẻ, bào gỗ và bảo quản gỗ (+3,8%); sản xuất plastic và cao su tổng hợp dạng nguyên sinh (+10,6%); sản xuất sản phẩm khác từ cao su (+18,1 lần); sản xuất sản phẩm từ plastic (+44,7%); sản xuất xe có động cơ (+6,8 lần); sản xuất, truyền tải và phân phối điện (+ 39,5%)...Bên cạnh những dấu hiệu tích cực, hiện nay một số ngành sản xuất công nghiệp vẫn đang gặp không ít khó khăn, dự ước các ngành công nghiệp cấp 4 trong 8 tháng đầu năm 2025 có chỉ số sản xuất giảm so với cùng kỳ: khai thác quặng kim loại khác không chứa sắt (-1,6%); khai thác đá, cát, sỏi, đất sét (-7,5%); chế biến, bảo quản thuỷ sản và các sản phẩm từ thủy sản (-23,9%); sản xuất bia và mạch nha ủ men bia (-13,5%); dệt (-1,1%); may trang phục (-4,7%); sản xuất vật liệu từ đất sét (-2,7%); sản xuất sản phẩm từ chất khoáng phi kim loại khác chưa được phân vào đâu (-17,9%); sản xuất máy vi tính và thiết bị ngoại vi (-26,9%)...Các sản phẩm chủ yếu ngành công nghiệp ước 8 tháng đầu năm 2025 tăng so với cùng kỳ như sau: dăm gỗ 505,6 nghìn tấn (+38%); cao su tổng hợp và các chất thay thế cao su dẫn xuất từ dầu, ở dạng nguyên sinh hoặc tấm lá hoặc dải 4.594,0 tấn (+10,6%); găng tay, găng hở ngón và găng bao tay bằng cao su lưu hóa 9,9 nghìn tấn (+18,1 lần); hàng may mặc và đồ phụ trợ may mặc bằng plastic 7957,9 tấn (+162,0%); ô tô 2.982 chiếc (+7,0 lần); điện sản xuất 1.427,2 triệu KWh (+56,3%); điện thương phẩm 1.573,1 triệu KWh (+7,2%)...Các sản phẩm công nghiệp ước 8 tháng đầu năm 2025 giảm so với cùng kỳ: quặng inmentit và tinh quặng inmentit 14,4 nghìn tấn (-1,6%); tôm đông lạnh 2,6 nghìn tấn (-23,9%); bia 202,2 triệu lít (-12,5%); sợi 74,7 nghìn tấn (-1,1%); quần áo lót cho người lớn không dệt kim hoặc đan móc 242,70 triệu cái (-4,7%); gạch men 7.734,0 nghìn m2 (-2,7%); men frit 159,8 nghìn tấn (-2,7%)...3. Vốn đầu tư thuộc nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn thành phốThành phố Huế xác định năm 2025 là năm tăng tốc, bứt phá, hoàn thành mục tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021-2025. Trước bối cảnh kinh tế còn nhiều khó khăn, biến động giá vật liệu, thời tiết khắc nghiệt, ngay từ đầu năm, thành phố đã triển khai quyết liệt các giải pháp thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công. Trên cơ sở Nghị quyết 01/NQ-CP ngày 08/01/2025, Công điện 60/CĐ-TTg ngày 09/5/2025 và các chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, UBND thành phố Huế ban hành Chỉ thị 32/CT-UBND ngày 27/12/2024 cùng nhiều văn bản chỉ đạo, yêu cầu các chủ đầu tư xây dựng kế hoạch và đăng ký giải ngân, phấn đấu hoàn thành tiến độ giải ngân theo kế hoạch vốn năm 2025. Nguồn vốn ngân sách nhà nước đầu tư trên địa bàn thành phố Huế do địa phương quản lý thực hiện tháng 08/2025 ước 759,0 tỷ đồng, đạt 11,6% kế hoạch năm, giảm 2,5% so cùng kỳ năm trước. Lũy kế 8 tháng đầu năm 2025, nguồn vốn NSNN trên địa bàn thành phố ước 3.570,6 tỷ đồng, đạt 54,5% KH năm, giảm 11,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn NSNN cấp tỉnh 2.816,2 tỷ đồng, giảm 11,5%, vốn nhà nước cấp xã 754,4 tỷ đồng, giảm 12,0% so với cùng kỳ năm 2024. Tháng 8/2025 tăng 31% so với tháng trước do đây là cao điểm thi công trước mùa mưa bão. Nhiều công trình được tập trung đẩy nhanh tiến độ, đặc biệt tuyến đường bộ ven biển và cầu qua cửa biển Thuận An theo Công điện 131/CĐ-TTg ngày 11/8/2025 của Thủ tướng Chính phủ, nhằm kịp thông xe kỹ thuật dịp Quốc khánh 2/9 và hoàn thành trong năm 2025; các dự án chỉnh trang đô thị và nâng cấp hạ tầng giao thông (đường Phạm Văn Đồng, đường Lâm Hoàng; tuyến đường chợ Mai - Tân Mỹ; tuyến đường dạo ven sông Hương đoạn trước Quốc Học và phía sau khách sạn Hương Giang kết nối với đường dạo ven sông Như Ý) dự kiến hoàn thành trong 8 và 9/2025; Trụ sở công an thành phố, Văn phòng làm việc một số cơ quan đơn vị thuộc thành phố dự kiến hoàn thành vào cuối năm. Đồng thời, thành phố gấp rút triển khai các dự án lớn (các dự án tu bổ di tích của thành phố, đường Tố Hữu nối dài đi sân bay, Hạ tầng kỹ thuật xung quanh khu phi thuế quan Chân Mây - giai đoạn 1). Bên cạnh đó, trong tháng 8, thành phố Huế cũng đã khởi công dự án mở rộng đường Nguyễn Hoàng và 4 dự án hạ tầng kỹ thuật phục vụ các khu tái định cư và nghĩa trang giải phóng mặt bằng phục vụ dự án đường sắt tốc độ trên trục cao tốc Bắc - Nam. Ngoài ra, nhiều dự án vốn ODA cũng được triển khai, gồm Chương trình phát triển đô thị II, Làng Hòa Bình Việt - Hàn, xây dựng Huế văn hóa - du lịch thông minh và dự án cải thiện dịch vụ y tế thành phố.4. Thương mại, dịch vụ và giá cảTháng 8/2025, thành phố Huế triển khai hiệu quả Kế hoạch 35/KH-UBND về Năm Du lịch Quốc gia và Festival Huế 2025, duy trì nhiều hoạt động văn hóa - du lịch gắn với Lễ hội mùa Thu “Huế vào Thu”, các chương trình nghệ thuật cộng đồng; xúc tiến thương mại tại các trung tâm lớn (Aeon Mall, GO, CoopMart, Mini GO…) và ra mắt dịch vụ Grab Xích lô - Kinh đô xưa, trải nghiệm mới tại thành phố Huế. Thành phố cũng tổ chức hai sự kiện chính trị, văn hóa trọng điểm “Dưới cờ vinh quang” và “Thời cơ vàng” kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2/9; đồng thời miễn vé tham quan di tích cho công dân Việt Nam ngày 19/8. Các hoạt động này không chỉ nâng cao đời sống tinh thần, khơi dậy niềm tự hào dân tộc mà còn kích thích tiêu dùng, thúc đẩy tăng trưởng thương mại - dịch vụ của địa phương.Kết quả hoạt động thương mại, dịch vụ và vận tải trên địa bàn thành phố tháng 8 năm 2025 ước đạt như sau:4.1. Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùngTháng 8/2025, các sự kiện, hoạt động văn hóa, du lịch trong khuôn khổ Lễ hội mùa Thu diễn ra khá nhộn nhịp, qua đó thúc đẩy hoạt động thương mại, dịch vụ trên địa bàn tăng trưởng tốt. Đây cũng là khoảng thời gian người dân tranh thủ du lịch cuối hè và nhu cầu mua sắm cho mùa khai giảng năm học mới gia tăng, thúc đẩy tiêu dùng trong dân cư và khách du lịch. Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 8 tăng 14,7% so với cùng kỳ.Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 8/2025 ước đạt 5.678 tỷ đồng, tăng 1,8% so với tháng trước và tăng 14,7% so với cùng kỳ. Chia theo ngành kinh tế: bán lẻ hàng hóa ước đạt 3.949 tỷ đồng, chiếm 69,5% trong tổng số, tăng 1,0% so với tháng trước và tăng 14,9% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống tháng 8 ước đạt 1.210 tỷ đồng, chiếm 21,3%, tương ứng tăng 3,6% và tăng 13,6%; doanh thu dịch vụ lữ hành đạt 40 tỷ đồng, chiếm 0,7%, tương ứng tăng 2,6% và tăng 14,6%; doanh thu dịch vụ khác đạt 479 tỷ đồng, chiếm 8,4%, tăng 3,2% và tăng 16,2%.Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 8 tháng đầu năm 2025 đạt 43.203 tỷ đồng, tăng 14,8% so với cùng kỳ, trong đó doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 30.441 tỷ đồng, chiếm 70,5% tổng số và tăng 14,1%; dịch vụ lưu trú và ăn uống đạt 8.884 tỷ đồng, chiếm 20,6% và tăng 17,5%; dịch vụ lữ hành đạt 290 tỷ đồng, chiếm 0,7% và tăng 27,6%; dịch vụ khác đạt 3.588 tỷ đồng, chiếm 8,3% và tăng 13,0%. 4.2. Vận tải hành khách và hàng hóaTháng 8, người dân vẫn đang trong thời kỳ nghỉ hè, nhu cầu đi lại tăng lên, đồng thời đây cũng là tháng cao điểm mùa xây dựng, vận tải hàng hóa tiếp tục duy trì ổn định, đảm bảo lưu thông hàng hóa, đặc biệt là vận chuyển vật liệu xây dựng nhằm cung cấp cho các công trình cần đẩy nhanh tiến độ trước mùa mưa bão. Dự ước doanh thu vận tải và bốc xếp tháng 8 năm 2025 tăng 1,2% so với tháng trước và tăng 17,3% so với cùng kỳ.Dự ước hành khách vận chuyển tháng 8 năm 2025 đạt 3,7 triệu hành khách, tăng 1,0% so với tháng trước và tăng 20,7% so với cùng kỳ; hành khách luân chuyển đạt 183,3 triệu hành khách.km, tăng 0,9% và tăng 20,9%. Tính chung 8 tháng đầu năm 2025, vận tải hành khách ước đạt 28,5 triệu hành khách, tăng 18,6% so với cùng kỳ và luân chuyển ước đạt 1.394,9 triệu hành khách.km, tăng 17,8% so với cùng kỳ.Dự ước hàng hóa vận chuyển tháng 8 năm 2025 ước đạt 2,2 triệu tấn, tăng 1,4% so với tháng trước và tăng 12,1% so với cùng kỳ; hàng hóa luân chuyển đạt 183,3 triệu tấn.km, tăng 1,1% và tăng 12,4%. Tính chung 8 tháng đầu năm 2025, vận tải hàng hóa ước đạt 16,7 triệu tấn, tăng 10,9% so với cùng kỳ và luân chuyển ước đạt 1.391,1 triệu tấn.km, tăng 12,1%.Dự ước doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 8/2025 đạt 534,4 tỷ đồng, tăng 1,2% so với tháng trước và tăng 17,3% so với cùng kỳ. Đưa doanh thu vận tải, bốc xếp 8 tháng đầu năm 2025 ước đạt 4.059,5 tỷ đồng, tăng 16,0% so với cùng kỳ. Chia theo loại hình dịch vụ: doanh thu vận tải hành khách ước đạt 876 tỷ đồng, tăng 19,1%; vận tải hàng hóa ước đạt 2.843,4 tỷ đồng, tăng 14,6%; dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 340,1 tỷ đồng, tăng 20,4%. Trong đó doanh thu vận tải bao gồm: đường bộ đạt 3.715,7 tỷ đồng, tăng 15,6%; đường sông đạt 3,8 tỷ đồng, tăng 20,6%.4.3. Lượt khách các cơ sở lưu trú phục vụ và du lịch lữ hànhTháng 8/2025, trùng với thời điểm cuối kỳ nghỉ hè và cận kề dịp Lễ Quốc khánh 2/9 kéo dài 4 ngày, trước khi học sinh bước vào năm học mới, lượng khách du lịch nội địa đến Huế dự ước tiếp tục tăng. Nhờ đó, doanh thu ngành lưu trú, ăn uống và lữ hành trong tháng dự kiến tăng cao so với cùng kỳ.Dự ước lượt khách do cơ sở lưu trú phục vụ tháng 8/2025 đạt 239 nghìn lượt khách, tăng 27,1% so với cùng kỳ. Trong đó, lượt khách ngủ qua đêm tháng 8/2025 ước đạt 198,7 nghìn lượt khách, tăng 0,1% so với tháng trước và tăng 33,9% so với cùng kỳ; lượt khách trong ngày đạt 40,2 nghìn lượt khách, giảm 0,7% so với tháng trước và tăng 1,5% so với cùng kỳ. Đưa lượt khách do các cơ sở lưu trú phục vụ tám tháng đầu năm 2025 đạt 1.729,3 nghìn lượt, tăng 24,6% so với cùng kỳ. Trong đó, lượt khách ngủ qua đêm tám tháng đầu năm đạt 1.433,7 nghìn lượt, tăng 29% so với cùng kỳ. Trong lượt khách ngủ qua đêm, khách quốc tế 483 nghìn lượt, tăng 9%; khách trong nước 950,7 nghìn lượt, tăng 42,2% so với cùng kỳ. Lượt khách trong ngày tám tháng đầu năm 2025 đạt 295,7 nghìn lượt, tăng 7% so với cùng kỳ.Ngày khách dự ước tháng 8/2025 đạt 320,3 nghìn ngày, giảm 0,3% so với tháng trước và tăng 23,6% so với cùng kỳ. Trong đó: Ngày khách quốc tế đạt 98,7 nghìn ngày, tăng 3% so với tháng trước và tăng 12,9% so với cùng kỳ; ngày khách trong nước đạt 221,6 nghìn ngày, giảm 1,8% so với tháng trước và tăng 29% so với cùng kỳ. Đưa ngày khách dự ước tám tháng đầu năm đạt 2.388 nghìn ngày, tăng 26,5% so với cùng kỳ. Trong đó: Ngày khách quốc tế đạt 864,5 nghìn ngày, tăng 9,7%; ngày khách trong nước đạt 1.523,5 nghìn ngày, tăng 38,5%.Lượt khách phục vụ của các cơ sở lữ hành thực hiện tháng 8/2025 ước đạt 19 nghìn lượt, tăng 1,1% so với tháng trước và giảm 0,1% so với cùng kỳ; đưa lượt khách tám tháng đầu năm ước đạt 139,9 nghìn lượt, tăng 0,6% so với cùng kỳ. Ngày khách theo tour ước thực hiện tháng 8/2025 là 43 nghìn ngày, tăng 0,9% so với tháng trước và giảm 0,6% so với cùng kỳ. Đưa ngày khách theo tour tám tháng đầu năm ước đạt 313,8 nghìn ngày khách, tăng 11,6% so với cùng kỳ.4.4. Giá cả - Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)Chỉ số giá tiêu dùng chung thành phố Huế tháng 8/2025 giảm 0,07% so với tháng trước. Nguyên nhân giảm chủ yếu là do Tập đoàn Petrolimex điều chỉnh giá xăng dầu trong tháng 8, cùng với đó dịch tả lợn Châu Phi, liên cầu lợn cũng đang diễn ra làm ảnh hưởng đến nhu cầu tiêu dùng của người dân. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng có 03 nhóm hàng giảm so với tháng trước gồm: nhóm giao thông giảm 0,26%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,24%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,17%. Có 5 nhóm hàng tăng so với tháng trước gồm: nhóm giáo dục tăng 0,05%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,07%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,22%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,40%; đồ ăn uống và thuốc lá tăng 0,57%. Có 03 nhóm hàng ổn định: nhóm thuốc và dịch vụ y tế; bưu chính viễn thông; văn hóa, giải trí và du lịch.Chỉ số giá tiêu dùng chung thành phố tháng 8/2025 tăng 1,99% so với tháng 12 năm trước và tăng 3,17% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 8 tháng đầu năm 2025 tăng 2,89% so với bình quân cùng kỳ năm trước, trong đó một số nhóm hàng hóa và dịch vụ tăng khá như: thuốc và dịch vụ y tế tăng 14,21%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 6,87%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,71%; giáo dục tăng 2,61%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,57%; các nhóm còn lại có tăng không đáng kể; bên cạnh đó có nhóm giao thông giảm 3,44%.- Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ Chỉ số giá vàng tháng 8/2025 tăng 0,45% so với tháng trước, tăng 30,71% so với tháng 12 năm trước và tăng 42,37% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 8/2025 tăng 0,42% so với tháng trước, tăng 3,68% so với tháng 12 năm trước và tăng 4,60% so với cùng kỳ năm trước.5. Tài chính, ngân hàng5.1. Tài chínhTổng thu ngân sách trên địa bàn 8 tháng năm 2025 ước đạt 9.624,0 tỷ đồng, bằng 77,9% dự toán năm. Trong đó: Thu nội địa ước đạt 8.544,0 tỷ đồng, bằng 75,6% dự toán; thu thuế từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 964,5 tỷ đồng, bằng 91,9% dự toán. Trong thu nội địa: Thu doanh nghiệp Nhà nước ước đạt 309,5 tỷ đồng, bằng 79,3% dự toán; thu doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 2.700,0 tỷ đồng, bằng 66,7% dự toán; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 1.262,4 tỷ đồng, bằng 72,1% dự toán; thuế thu nhập cá nhân 507 tỷ đồng, bằng 90,5% dự toán; thuế bảo vệ môi trường 275 tỷ đồng, bằng 38,7% dự toán.Tổng chi ngân sách địa phương 8 tháng năm 2025 ước đạt 11.483,2 tỷ đồng, bằng 72,9% dự toán, trong đó chi đầu tư phát triển 2.473 tỷ đồng, bằng 57,4% dự toán; chi thường xuyên 8.898 tỷ đồng, bằng 82,7% dự toán; bao gồm: chi sự nghiệp kinh tế 619,5 tỷ đồng, bằng 63,3% dự toán; chi sự nghiệp giáo dục đào tạo 3.389,5 tỷ đồng, bằng 65,5% dự toán; chi sự nghiệp y tế 487,5 tỷ đồng, bằng 63,9% dự toán; chi quản lý Nhà nước 1.923 tỷ đồng, bằng 92,0% dự toán.                                  5.2. Ngân hàngThực hiện tín dụng an toàn, hiệu quả, hướng dòng vốn vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng theo chủ trương của Chính phủ; Đẩy mạnh thực hiện Chương trình kết nối Ngân hàng – Doanh nghiệp theo Công văn số 4315/NHNN-TD ngày 21/5/2024 của NHNNVN. Triển khai Chương trình tín dụng 120.000 tỷ đồng theo Nghị quyết 33/NQ-CP ngày 11/3/2023 của Chính phủ về một số giải pháp tháo gỡ và thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển an toàn, lành mạnh, bền vững.Tổng nguồn vốn huy động đến cuối tháng 8 năm 2025 ước đạt 85,4 nghìn tỷ đồng, tăng 10,56% so với cuối năm 2024; tổng dư nợ tín dụng ước đạt 87,7 nghìn tỷ đồng, tăng 5,37%. Các TCTD trên địa bàn thành phố Huế tiếp tục chú trọng cho vay các lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ. Tín dụng đối với nông nghiệp nông thôn ước đạt 17.900 tỷ đồng, tăng 7,25% so với cuối năm 2024; Tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa ước đạt 14.520 tỷ đồng, tăng 14,03% so với cuối năm 2024; Tín dụng đối với xuất khẩu ước đạt 5.700 tỷ đồng, tăng 12,47% so với cuối năm 2024; Cho vay công nghiệp hỗ trợ ước đạt 1.900 tỷ đồng, tăng 27,6% so với cuối năm 2024. Trên địa bàn chưa phát sinh có dư nợ cho vay doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao.6. Các vấn đề xã hội6.1. Giáo dục - Đào tạoNgành Giáo dục trên địa bàn đang tích cực triển khai công tác chuẩn bị cho năm học mới 2025 – 2026. Trong đó, tập trung thực hiện hiệu quả chương trình giáo dục phổ thông đối với các lớp cuối cấp. Đồng thời đẩy mạnh đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực học sinh; Sáng 21/8, học sinh đầu cấp ở các bậc TH, THCS và THPT trên địa bàn thành phố náo nức đến trường, bắt đầu làm quen với trường, lớp học và bạn bè mới; Năm học 2025-2026, toàn thành phố tuyển sinh 21.829 học sinh lớp 1; 20.896 học sinh lớp 6 và 12.445 học sinh lớp 10.Sáng 24/8, tại Quảng trường Ngọ Môn, diễn ra lễ tuyên dương học sinh đạt danh hiệu “Học sinh danh dự toàn trường” năm học 2024-2025. Tuyên dương 384 học sinh: 212 học sinh tiểu học, 132 học sinh trung học cơ sở và 40 học sinh trung học phổ thông. Đây là những học sinh xuất sắc toàn diện, được trường bình chọn là học sinh danh dự tiêu biểu điển hình.6.2. Tình hình y tế, dịch bệnh, ngộ độc thực phẩmTháng 8/2025, trên địa bàn có 43 ca sốt xuất huyết, giảm 201 ca so cùng kỳ; có 9 ca mắc tay chân miệng, tăng 4 ca so với cùng kỳ; 3 ca liên cầu lợn, tăng 2 ca so với cùng kỳ, làm 4 người chết, tăng 4 người so với cùng kỳ; 3 ca sốt phát ban, bằng cùng kỳ. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn có 200 ca sốt xuất huyết, giảm 848 ca so cùng kỳ; có 149 ca mắc tay chân miệng, tăng 67 ca so với cùng kỳ; 42 ca liên cầu lợn, tăng 40 ca so với cùng kỳ, làm 4 người chết, tăng 4 người so với cùng kỳ; 1571 ca sốt phát ban, tăng 1540 ca và có 349 ca sởi, tăng 347 ca so với cùng kỳ.Tháng 7/2025, trên địa bàn đã phát hiện 7 ca nhiễm mới HIV, giảm 2 ca so cùng kỳ; có 2 ca chuyển qua AIDS, giảm 1 ca so cùng kỳ; không có ca tử vong, bằng cùng kỳ. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn có 58 ca nhiễm mới HIV, tăng 5 ca so cùng kỳ; 14 ca chuyển qua AIDS, giảm 2 ca so cùng kỳ; 3 ca tử vong, bằng cùng kỳ. Hiện tại, trên địa bàn có 575 bệnh nhân đang được quản lý và điều trị tại các cơ sở y tế, trong đó có 568 bệnh nhân điều trị ARV.Tháng 8/2025, trên địa bàn không xảy ra ngộ độc thực phẩm, bằng cùng kỳ. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn xảy ra 1 vụ ngộ độc thực phẩm, giảm 3 vụ so với cùng kỳ.6.3. Hoạt động văn hóa, thể thaoHòa chung không khí cả nước kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám (19/8/1945 – 19/8/2025) và Quốc khánh nước CHXHCN Việt Nam (2/9/1945 – 2/9/2025), thành phố Huế đã và đang tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, thể thao phong phú, đậm bản sắc dân tộc, góp phần tạo nên bầu không khí sôi nổi, lan tỏa trong cộng đồng.Trong chuỗi hoạt động chào mừng, thành phố Huế tham gia Triển lãm thành tựu đất nước với chủ đề “Huế – Di sản, bản sắc và tầm nhìn phát triển xanh”. Từ ngày 30/8 đến 1/9, thành phố tổ chức Lễ hội Điện Huệ Nam – một lễ hội linh thiêng gắn với tín ngưỡng thờ Mẫu. Song song với các hoạt động văn hóa, Huế còn trở thành điểm đến hấp dẫn của đông đảo vận động viên và người hâm mộ thông qua các sự kiện thể thao quy mô lớn, tiêu biểu: Huế Sport Festival 2025 với 12 môn thi đấu, giải vô địch Pickleball trẻ quốc gia quy tụ hơn 300 VĐV, giải cầu lông thành phố Huế mở rộng tranh cúp Vũ Bảo với hơn 1.000 VĐV, giải chạy Hueba Jogging lần II-2025 thu hút hơn 4000 VĐV tham dự, giải bóng rổ 3x3 Cố đô Huế lần II-2025, giải Billiards Carom 3 băng, các giải bóng đá phong trào... Các hoạt động này góp phần thúc đẩy phong trào thể dục thể thao và lan tỏa giá trị văn hóa trong cộng đồng.6.4. Tai nạn giao thông  Theo báo cáo của Ban ATGT thành phố, từ 15/7/2025 đến 14/8/2025, trên địa bàn đã xảy ra 21 vụ tai nạn giao thông, tăng 1 vụ so với cùng kỳ; làm 13 người chết, tăng 7 người và làm 12 người bị thương, giảm 6 người so cùng kỳ. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn xảy ra 145 vụ tai nạn giao thông, giảm 56 vụ so với cùng kỳ; làm chết 77 người, giảm 10 người và làm 99 người bị thương, giảm 47 người so với cùng kỳ.6.5. Tình hình cháy nổ và bảo vệ môi trườngTrong tháng 8/2025 trên địa bàn xảy ra 3 vụ cháy, tăng 3 vụ so với cùng kỳ, tăng 1 vụ so với tháng trước. Cụ thể, 1 vụ cháy xe ô tô, 1 vụ cháy gara ô tô và 1 vụ cháy trụ sở công ty; không gây thiệt hại về người, tổng giá trị thiệt hại khoảng 1,4 tỷ đồng. Hiện nay các cơ quan chức năng đang tiến hành điều tra làm rõ nguyên nhân. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn xảy ra 11 vụ cháy, giảm 3 vụ so với cùng kỳ, không có thiệt hại về người, giá trị thiệt hại khoảng 6,1 tỷ đồng.Trong tháng 8/2025 trên địa bàn xảy ra 10 vụ vi phạm môi trường, giảm 5 vụ so với cùng kỳ, tăng 5 vụ so với tháng trước. Các hình thức vi phạm: 8 vụ vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm, 1 vụ xả nước thải vượt quy chuẩn kỹ thuật và 1 vụ kinh doanh hàng hóa không rõ nguồn gốc xuất xứ; tiến hành xử lý 9 vụ với số tiền xử phạt 130,5 triệu đồng. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn xảy ra 86 vụ vi phạm, giảm 79 vụ so với cùng kỳ; xử lý 85 vụ với tổng số tiền phạt thu được khoảng 3 tỷ đồng.6.6. Thiệt hại do thiên taiTháng 8/2025 trên địa bàn xảy ra 1 vụ thiên tai do ảnh hưởng của bão số 5, bằng cùng kỳ, tăng 1 vụ so với tháng trước. Thống kê thành phố Huế tiếp tục cập nhật và báo cáo khi có số liệu thu thập đầy đủ về thiệt hại do bão gây ra. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn xảy ra 5 vụ thiên tai, bằng cùng kỳ. Tổng giá trị thiệt hại 39,5 tỷ đồng; chính quyền các cấp đã hỗ trợ 3,2 tỷ đồng./.Nguồn Thống kê thành phố Huế