BÁO CÁO KINH TẾ XÃ HỘI QUÝ I NĂM 2026
Thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2026; Công điện số 06/CĐ-TTg ngày 24/01/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm nhằm thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2026; Nghị quyết số 01-NQ/TU của Thành ủy, Nghị quyết số 113//NQ-HĐND của HĐND thành phố về nhiệm vụ và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026; Quyết định số 01/QĐ-UBND của UBND thành phố về việc triển khai thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026. Kết quả đạt được trên các ngành, lĩnh vực trên địa bàn thành phố trong quí I năm 2026 như sau:
- Tổng sản phẩm trên địa bàn ước tăng 9,01% so với cùng kỳ;
- Chỉ số sản xuất công nghiệp ước tăng 13,1%;
- Doanh thu bán lẻ hàng hóa ước tăng 16,2%;
- Lượt khách do cơ sở lưu trú phục vụ ước tăng 18,3%;
- Tổng vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn ước tăng 13,3%;
- Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước tăng 28,0%.
1. Tăng trưởng kinh tế
Tổng sản phẩm trên địa bàn thành phố quý I/2026 ước tăng 9,01% so với cùng kỳ, phản ánh xu hướng phục hồi và phát triển tích cực trong bối cảnh kinh tế còn nhiều biến động. Đây là mức tăng trưởng khá, xét trên phạm vi cả nước Huế xếp thứ 14 trong tổng số 34 địa phương, trong khu vực Bắc Trung Bộ Thành phố xếp thứ 3 trên 5 địa phương, đối với các thành phố trực thuộc Trung ương xếp thứ 2 trong số 6 thành phố. Trong đó: Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,62%, đóng góp 0,28 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,31%, đóng góp 3,21 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 9,01%, đóng góp 4,79 điểm phần trăm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 7,59%, đóng góp 0,73 điểm phần trăm trong tăng trưởng kinh tế toàn thành phố.
Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục tăng trưởng ổn định, khẳng định vai trò là trụ đỡ quan trọng của nền kinh tế. Sản xuất nông nghiệp được tổ chức hợp lý, tập trung vào các cây trồng chủ lực nhằm nâng cao năng suất và chất lượng; chăn nuôi phát triển theo hướng bền vững, đáp ứng tốt nhu cầu tiêu dùng tại địa phương; lĩnh vực lâm nghiệp được triển khai đồng bộ từ trồng, chăm sóc đến bảo vệ rừng, góp phần nâng cao độ che phủ và cải thiện môi trường sinh thái; hoạt động thủy sản duy trì ổn định với sản lượng nuôi trồng và khai thác được giữ vững. Cụ thể, ngành nông nghiệp tăng 4,75%, đóng góp 0,15 điểm phần trăm; ngành lâm nghiệp tăng 5,94%, đóng góp 0,07 điểm phần trăm; và ngành thủy sản tăng 3,49%, đóng góp 0,06 điểm phần trăm. Mặc dù tốc độ tăng trưởng chưa cao, khu vực này vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc ổn định kinh tế - xã hội trên địa bàn.
Khu vực công nghiệp - xây dựng ghi nhận mức tăng trưởng khá cao, trong đó ngành công nghiệp tăng 11,27%, đóng góp 2,83 điểm phần trăm, tuy nhiên sự phát triển giữa các ngành còn thiếu đồng đều. Công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt với mức tăng 15,13%, khẳng định là động lực chủ yếu của tăng trưởng nhờ khả năng mở rộng sản xuất và thích ứng thị trường. Ngược lại, ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt giảm 11,18%, trở thành yếu tố kìm hãm tốc độ tăng chung, đồng thời cho thấy sự phụ thuộc lớn của ngành này vào điều kiện thời tiết.
Khu vực dịch vụ tiếp tục là động lực tăng trưởng chủ yếu, với mức tăng tương đối đồng đều và ổn định giữa các ngành. Các lĩnh vực gắn với tiêu dùng và du lịch phục hồi mạnh mẽ, nổi bật là ngành bán buôn, bán lẻ hàng hoá tăng 9,66% so với cùng kỳ, đóng góp 0,85 điểm phần trăm; dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng 12,78%, đóng góp 0,98 điểm; vận tải kho bãi tăng 15,17%, đóng góp 0,51 điểm; nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 8,69%, đóng góp 0,06 điểm… Điều này cho thấy nhu cầu tiêu dùng trong nước và hoạt động du lịch đang từng bước phục hồi rõ nét. Bên cạnh đó, các lĩnh vực như tài chính, bất động sản, giáo dục và y tế tiếp tục duy trì tăng trưởng ổn định, góp phần củng cố vai trò dẫn dắt của khu vực dịch vụ trong cơ cấu kinh tế.
Cơ cấu kinh tế quý I/2026, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 5,94%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 28,90%; khu vực dịch vụ chiếm 55,59%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 9,58% (cơ cấu tương ứng của cùng kỳ năm 2025 là: 6,20%; 29,20%; 54,90% và 9,70%).
2. Tài chính, ngân hàng, bảo hiểm
2.1. Tài chính
Tổng thu ngân sách trên địa bàn trong quý I/2026 ước đạt 3.700 tỷ đồng, bằng 23,1% dự toán năm, cho thấy tiến độ thu cơ bản đảm bảo yêu cầu, bám sát kịch bản điều hành ngân sách ngay từ đầu năm. Trong đó, thu nội địa đạt 3.294,2 tỷ đồng, bằng 22,7% dự toán, khẳng định vai trò trụ cột của khu vực kinh tế trong nước trong việc tạo nguồn thu bền vững cho ngân sách; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 399,7 tỷ đồng, bằng 27,6% dự toán.
Trong thu nội địa: thu doanh nghiệp Nhà nước ước đạt 109 tỷ đồng, bằng 21,4% dự toán; thu doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 1.185 tỷ đồng, bằng 25,8% dự toán; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 600 tỷ đồng, bằng 30,3% dự toán; thuế thu nhập cá nhân 195 tỷ đồng, bằng 26,0% dự toán; thuế bảo vệ môi trường 95 tỷ đồng, bằng 23,8% dự toán
Song song với nhiệm vụ thu, việc điều hành chi ngân sách địa phương cũng được triển khai chặt chẽ với tổng chi ước đạt 3.139,5 tỷ đồng, tương đương 17,0% dự toán năm. Trong cơ cấu chi, chi thường xuyên chiếm tỷ trọng chủ đạo với 1.414,0 tỷ đồng, đạt 20,8% dự toán nhằm đảm bảo vận hành bộ máy và các hoạt động an sinh xã hội. Đối với chi đầu tư phát triển, đã giải ngân được 664 tỷ đồng, đạt 14,4% dự toán, còn chậm so với yêu cầu thúc đẩy tăng trưởng.
2.2. Bảo hiểm
Nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, các doanh nghiệp bảo hiểm đã tập trung triển khai đồng bộ nhiều giải pháp trọng tâm. Trong đó, đẩy mạnh tăng trưởng toàn diện trên tất cả các kênh bán hàng gắn với tiêu chí chất lượng được xác định là nhiệm vụ xuyên suốt; đồng thời, lấy sự khác biệt trong quản trị doanh nghiệp và tổ chức kênh phân phối làm lợi thế cạnh tranh. Các doanh nghiệp cũng tích cực đa dạng hóa phương thức thu phí trực tuyến, linh hoạt gia hạn thời gian đóng phí nhằm hỗ trợ khách hàng trong những giai đoạn gặp khó khăn.
Cùng với đó, công tác kiểm soát nội bộ tiếp tục được tăng cường, gắn với việc xây dựng và lan tỏa văn hóa quản trị rủi ro, đảm bảo tuân thủ chặt chẽ các quy định của cơ quan quản lý nhà nước. Đặc biệt, quyền lợi và trải nghiệm của khách hàng luôn được đặt ở vị trí trung tâm, thể hiện qua việc không ngừng nâng cao chất lượng tư vấn, cải tiến sản phẩm, dịch vụ và mở rộng, đa dạng hóa các kênh phân phối.
Trước những tín hiệu tích cực của thị trường, sau giai đoạn tập trung đầu tư vào nguồn nhân lực và hệ thống nhằm nâng cao chất lượng phục vụ, các doanh nghiệp bảo hiểm đã sẵn sàng bước vào chu kỳ tăng trưởng mới trong năm 2026. Dự kiến, doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường trong quý I sẽ đạt mức tăng trưởng khá, ước khoảng 6,0% - 7,0% so với cùng kỳ.
3. Giá cả, lạm phát
- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
Chỉ số giá tiêu dùng trên địa bàn thành phố quý I/2026 tăng 4,49% so với cùng kỳ, chủ yếu do nhu cầu tiêu dùng tăng cao trong dịp Tết và đầu năm. Bên cạnh đó, giá nhà thuê tăng khi Huế trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, cùng với biến động tăng của giá nhiên liệu, đặc biệt là xăng dầu, đã tác động lan tỏa làm chi phí vận tải tăng, kéo theo nhóm giao thông tăng. Ngoài ra, giá vàng và đô la Mỹ biến động theo thị trường thế giới và trong nước, trong đó giá vàng tăng mạnh 82,28% và giá đô la Mỹ tăng 2,71% so với cùng kỳ.
Chỉ số giá tiêu dùng thành phố tháng 3/2026 tăng 0,80% so với tháng trước, nguyên nhân chủ yếu do tác động của nhóm giao thông khi giá xăng dầu tăng mạnh. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 7 nhóm hàng tăng giá: Giao thông tăng 11,45%; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,42%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,23%; Nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,18%; Thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,10%; Giáo dục tăng 0,02%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,01%. Có 4 nhóm hàng giảm giá: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,55%, Đồ uống và thuốc lá giảm 0,85%, May mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,43%; Thông tin và truyền thông giảm 0,14%
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 3/2026 tăng 3,65% so với tháng 12 năm trước và tăng 6,19% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân quý I/2026 tăng 4,49% so với bình quân cùng kỳ năm trước. Các nhóm hàng hóa dịch vụ có chỉ số giá bình quân quý I/2026 tăng so cùng kỳ năm trước gồm: nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 8,27%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 5,50%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 5,32%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,40%; giáo dục tăng 3,78%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 3,75%. Các nhóm còn lại tăng giảm không đáng kể.
- Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ
Chỉ số giá vàng tháng 3/2026 tăng 1,78% so với tháng trước, tăng 19,31% so với tháng 12 năm trước và tăng 81,74% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân quý I/2026 tăng 82,28% so với bình quân cùng kỳ năm trước.
Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 3/2026 tăng 0,59% so với tháng trước, giảm 0,35% so với tháng 12 năm trước và tăng 2,38% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân quý I/2026 tăng 2,71% so với bình quân cùng kỳ năm trước.
4. Hoạt động xuất nhập khẩu
Hoạt động xuất nhập khẩu trên địa bàn trong quý I/2026 khởi sắc, phản ánh rõ nét sự phục hồi của sản xuất công nghiệp và xu hướng mở rộng thị trường. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước đạt 766,4 triệu USD, tăng khoảng 28,8% so với cùng kỳ; trong đó xuất siêu đạt 75,4 triệu USD, tăng 20,4%. Những kết quả này cho thấy quy mô xuất khẩu tiếp tục được nâng lên, giữ vai trò là động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đồng thời khẳng định hiệu quả hoạt động của khu vực doanh nghiệp cũng như sự cải thiện về năng lực sản xuất và khả năng tham gia thị trường quốc tế.
4.1. Xuất khẩu
Kim ngạch xuất khẩu (KNXK) hàng hóa trong quý I/2026 ước đạt 420,9 triệu USD tăng 28,0% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực doanh nghiệp 100% vốn trong nước ước đạt 287,3 triệu USD, tăng 43,5%, tiếp tục giữ vai trò chủ lực; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 133,6 triệu USD, tăng 3,9% so với cùng kỳ. Các nhóm hàng xuất khẩu chủ lực của thành phố cụ thể như sau:
- Nhóm hàng nông, thuỷ sản: KNXK ước đạt 51,2 triệu USD, tăng gần gấp 2 lần so với cùng kỳ và chiếm tỷ trọng 12,2%.
- Nhóm hàng công nghiệp chế biến: KNXK ước đạt 257,1 triệu USD, tăng 3,9% so với cùng kỳ và chiếm tỷ trọng 61,1%.
- Nhóm các hàng hóa khác như hương và bột hương, bia, rượu sa kê, hàng thủ công mỹ nghệ, bao bì xi măng,…: KNXK ước đạt 112,6 triệu USD, tăng gấp 2 lần so với cùng kỳ.
Thị trường xuất khẩu: Trong quý I/2026, doanh nghiệp đã xuất khẩu đến khoảng 45 quốc gia và vùng lãnh thổ như Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, ASEAN, các nước Châu Âu,…
4.2. Nhập khẩu
Kim ngạch nhập khẩu (KNNK) hàng hóa trong quý I/2026 ước đạt 345,5 triệu USD tăng 29,8% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực doanh nghiệp 100% vốn trong nước ước đạt 262,3 triệu USD, tăng 43,8%; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 83,2 triệu USD, giảm 0,7% so với cùng kỳ. Các mặt hàng nhập khẩu tiếp tục phục vụ cho hoạt động sản xuất, xuất khẩu của các doanh nghiệp, cụ thể:
- Nhóm hàng cần nhập khẩu: KNNK ước đạt 150,11 triệu USD, tăng 2,69% so với cùng kỳ và chiếm tỷ trọng 43,5%, trong đó: nguyên phụ liệu dệt may ước đạt 144,6 triệu USD, tăng 0,9%; máy móc thiết bị dụng cụ phụ tùng ước đạt 3,7 triệu USD tăng 39,7%.
- Nhóm hàng cần kiểm soát nhập khẩu: linh kiện phụ tùng ô tô ước đạt 88,0 triệu USD tăng 78,0% so với cùng kỳ và chiếm tỷ trọng 25,4%
- Nhóm hàng hóa khác như thạch cao, thép, hóa chất, linh kiện điện tử, nguyên phụ liệu sản xuất bia,...: KNNK ước đạt 107,4 triệu USD, tăng 52,4% so với cùng kỳ và chiếm tỷ trọng 31,1%.
5. Vốn đầu tư và xây dựng
5.1. Vốn đầu tư
Trên cơ sở chỉ đạo của Trung ương và HĐND thành phố, UBND thành phố Huế đã chủ động phân bổ kế hoạch vốn đầu tư công ngay từ đầu năm, đồng thời tập trung tháo gỡ khó khăn để đẩy nhanh tiến độ các dự án. Hoạt động đầu tư phát triển trên địa bàn có nhiều khởi sắc, với sự tham gia tích cực của cả nguồn vốn nhà nước và ngoài nhà nước. Các dự án hạ tầng giao thông, đô thị, công nghiệp và dịch vụ trọng điểm được triển khai đồng bộ, góp phần cải thiện diện mạo đô thị và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Thực hiện Quyết định số 2691/QĐ-TTg ngày 10/12/2025 của Thủ tướng Chính phủ về giao kế hoạch vốn đầu tư công năm 2026, đồng thời căn cứ Nghị quyết số 107/NQ-HĐND ngày 08/12/2025 của HĐND thành phố Huế, UBND thành phố Huế đã ban hành Quyết định số 3991/QĐ-UBND ngày 29/12/2025 để phân bổ chi tiết 100% kế hoạch vốn cho các chương trình, nhiệm vụ và dự án. Ngay từ đầu năm, UBND thành phố đã chỉ đạo các sở, ban, ngành và địa phương tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp và các dự án, qua đó đẩy nhanh tiến độ triển khai các công trình trên địa bàn. Nhờ đó, vốn đầu tư phát triển trong quý I/2026 ước đạt 7.964,1 tỷ đồng, bằng 19,9% kế hoạch năm và tăng 13,3% so với cùng kỳ.
Vốn đầu tư khu vực nhà nước trong quý I/2026 ước đạt 1.565,9 tỷ đồng, chiếm 19,7% tổng nguồn vốn và tăng 22,7% so với cùng kỳ. Trong đó, vốn do Trung ương quản lý ước đạt 347 tỷ đồng, tăng mạnh 97,4%, chủ yếu nhờ việc tiếp tục triển khai đồng loạt nhiều dự án trọng điểm trên địa bàn như: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Lộc; Bệnh viện Quốc tế giai đoạn 2 thuộc Bệnh viện Trung ương Huế; Ký túc xá tập trung sinh viên Đại học Huế; sửa chữa đập Thảo Long; dự án mở rộng cao tốc Bắc - Nam đoạn La Sơn - Hòa Liên (dự kiến hoàn thành cuối quý II/2026) và dự án mở rộng cao tốc Cam Lộ - La Sơn (khởi công cuối tháng 12/2025, dự kiến hoàn thành cuối năm 2026). Các dự án được tập trung huy động tối đa nhân lực, máy móc, thiết bị để đẩy nhanh tiến độ thi công, qua đó góp phần làm tăng cao giá trị thực hiện so với cùng kỳ.
Vốn nhà nước do địa phương quản lý quý I/2026 ước đạt 1.218,9 tỷ đồng, tăng 10,7% so với cùng kỳ. Trong đó, vốn từ nguồn NSNN do địa phương quản lý đạt 1.054,4 tỷ đồng, tăng 10,6%. Quý I năm 2026, nguồn vốn từ nguồn ngân sách nhà nước tiếp tục thực hiện các dự án đầu tư trọng của thành phố như: Tuyến đường bộ ven biển đoạn qua Thành phố Huế và cầu qua cửa Thuận An; Đường Nguyễn Hoàng; Đường vành đai 3; Dự án Cải thiện môi trường nước thành phố Huế giai đoạn 2; Các dự án xây dựng khu tái định cư, khu nghĩa trang phục vụ giải phóng mặt bằng đường sắt cao tốc Bắc - Nam đang được tập trung đẩy nhanh tiến độ thi công để hoàn thành. Bên cạnh đó, các dự án trọng điểm dự kiến khởi công mới trong năm 2026 cũng đang được hoàn thiện thủ tục đầu tư để đảm bảo điều kiện khởi công như dự án Cầu qua Cồn Hến và đường dẫn hai đầu cầu (đã bố trí vốn chuẩn bị đầu tư và thành lập Hội đồng thi tuyển phương án thiết kế kiến trúc); dự án Cầu qua phá Tam Giang nối xã Phú Vang đi xã Phú Vinh (đã hoàn thiện thiết kế thi công); các dự án trùng tu di tích Văn Miếu, Quốc Tử Giám (đã phê duyệt thiết kế thi công); các dự án đầu tư hoàn thiện kết cấu hạ tầng khu kinh tế Chân Mây – Lăng Cô và các trường phổ thông nội trú liên cấp TH và THCS các xã biên giới A Lưới 1, 2, 5...
Vốn ngoài nhà nước Quý I/2026 ước đạt 5.555,0 tỷ đồng, chiếm 69,7% tổng nguồn vốn và tăng 14,5% so với cùng kỳ. Quý I năm 2026, vốn từ nguồn nhà nước trong quý tập trung vào thực hiện các dự án trọng điểm tại thành phố Huế như: Dự án Đầu tư xây dựng bến tổng hợp - container số 4 và số 5 cảng Vsico Chân Mây; Cải tạo, xây dựng lại các dãy nhà A,B,C khu chung cư Đống Đa; dự án Khu liên hợp sản xuất, lắp ráp Kim Long Motors Huế; Nhà máy chế biến cát thạch anh công nghệ cao Creanza; Nhà máy sản xuất kính hoa tiêu trắng Đạt Phương; Trung tâm Logistics Chân Mây; Khu Đô thị Phía Đông đường Thủy Dương- Thuận An, thuộc khu E đô thị mới An Vân Dương; Tổ hợp nhà ở, thương mại - dịch vụ và vui chơi giải trí An Đông; Tổ hợp khu nhà ở - thương mại, dịch vụ 38 Hồ Đắc Di; Dự án Đào Tấn Diamond City; Tổ hợp showroom và trung tâm bảo hành bảo trì ô tô - xe máy của công ty Cổ phần Tổng công ty PGS; Dự án nhà ở xã hội như dự án Eco Garden;… đầu tư trong dân cũng tăng so với cùng kỳ, đây là nguyên nhân khiến vốn ngoài nhà nước tăng cao, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn. Quý I năm 2026, trên địa bàn thành phố có 10 dự án đăng ký mới với tổng số vốn 5.653 tỷ đồng. Trong đó, công ty TNHH một thành viên hạ tầng khu công nghiệp Kim Long Huế và công ty cổ phần Kim Long Motor Huế có 2 dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp số 02, Khu phi thuế quan Chân Mây –Lăng Cô với tổng mức đầu tư 4.170,8 tỷ đồng.
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài quý I/2026 ước đạt 843,2 tỷ đồng, đạt 19,4% kế hoạch năm và giảm 6,7% so với cùng kỳ. Các dự án FDI chuyển tiêp tiếp tục thực hiện và hoàn thành đưa vào sử dụng như: Nhà máy Sản xuất Mũ bảo hiểm EON Industry Việt Nam giai đoạn 2; Nhà máy sản xuất cụm rotor, stato của công ty thiết bị điện Thượng Hải CI; Nhà máy gia công thạch anh của công ty TNHH America Quartz Technolozy;…Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn thành phố có 1 dự án FDI đăng ký mới với tổng số vốn đăng ký 123 triệu USD (tương đương 3.075 tỷ đồng) đầu tư vào kết cấu hạ tầng khu công nghiệp VSIP Huế do công ty liên doanh khu công nghiệp Việt Nam – Singapor đầu tư, dự kiến khởi công vào quý IV/2026 và đưa vào kinh doanh quý III/2031.
Nhìn chung, tình hình thực hiện vốn đầu tư quý I/2026 trên địa bàn thành phố ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực khi nguồn lực được ưu tiên cho các dự án hạ tầng trọng điểm, đồng thời đẩy nhanh hoàn thiện hạ tầng đô thị, khu kinh tế và khu công nghiệp; công tác chỉ đạo, điều hành linh hoạt, kịp thời tháo gỡ vướng mắc về vốn, góp phần đảm bảo tiến độ giải ngân. Tuy nhiên, hoạt động thu hút đầu tư vẫn còn khó khăn, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế hỗ trợ; tăng cường tháo gỡ vướng mắc về thủ tục pháp lý, giải phóng mặt bằng để đẩy nhanh triển khai các dự án mới.
5.2. Xây dựng
Hoạt động xây dựng trong quý I/2026 trên địa bàn thành phố diễn ra trong điều kiện khá thuận lợi. Việc đồng loạt triển khai các dự án mới, cùng với nỗ lực đẩy nhanh tiến độ thi công ở các công trình đang thực hiện, cho thấy sự chủ động của các chủ đầu tư cũng như hiệu quả trong công tác điều hành, phối hợp giữa các bên liên quan. Đây là yếu tố nền tảng góp phần thúc đẩy tăng trưởng giá trị sản xuất toàn ngành.
Giá trị sản xuất ngành xây dựng quý I/2026 đạt mức tăng khá cao so với cùng kỳ năm trước, theo giá hiện hành ước đạt 4.723,2 tỷ đồng, tăng 14,8% so với cùng kỳ; theo giá so sánh năm 2010, giá trị sản xuất ngành xây dựng quý I/2026 ước đạt 3.728,6 tỷ đồng, tăng 9,29% so với cùng kỳ. Mức tăng trưởng này phản ánh sự mở rộng hoạt động xây dựng cả về khối lượng công trình lẫn tiến độ thực hiện.
Động lực tăng trưởng chính đến từ hai nhóm công trình: nhà ở và công trình kỹ thuật dân dụng. Đối với công trình nhà ở, sự gia tăng xuất phát từ việc nhiều dự án bất động sản, khu dân cư được khởi công trong giai đoạn cuối năm 2025 và đầu năm 2026, tạo ra khối lượng thi công lớn trong quý I. Đối với công trình kỹ thuật dân dụng, mức tăng cao chủ yếu nhờ vào việc tiếp tục triển khai và đẩy nhanh tiến độ các dự án hạ tầng trọng điểm, đặc biệt là các dự án giao thông và khu công nghiệp quy mô lớn: Các dự án lớn như tuyến cao tốc Bắc - Nam phía Đông (đoạn Cam Lộ - La Sơn giai đoạn 2), cầu vượt biển Thuận An, hay Khu công nghiệp và Khu phi thuế quan Sài Gòn - Chân Mây tại Khu kinh tế Chân Mây - Lăng Cô… đóng vai trò dẫn dắt tăng trưởng của ngành xây dựng. Đây đều là những công trình có quy mô vốn lớn, khối lượng thi công cao và tác động lan tỏa mạnh đến các lĩnh vực khác như vật liệu xây dựng, vận tải, lao động… Việc các dự án này được đẩy nhanh tiến độ không chỉ làm tăng giá trị sản xuất trong ngắn hạn mà còn góp phần hoàn thiện kết cấu hạ tầng, tạo dư địa phát triển kinh tế trong dài hạn.
6. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp
Tình hình hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Huế trong quý I năm 2026 tiếp tục có nhiều chuyển biến tích cực. Phần lớn doanh nghiệp duy trì được sự ổn định và từng bước nâng cao hiệu quả hoạt động, với 75,0% doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất, kinh doanh khả quan hơn hoặc giữ ổn định so với quý trước. Cùng với đó, môi trường đầu tư, kinh doanh tiếp tục được cải thiện, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp gia nhập thị trường. Tính đến thời điểm báo cáo, toàn thành phố có 317 doanh nghiệp thành lập mới, với tổng vốn đăng ký đạt 716 tỷ đồng, góp phần bổ sung nguồn lực và tạo thêm động lực cho tăng trưởng kinh tế địa phương.
Tính đến thời điểm báo cáo, trên địa bàn thành phố Huế có 317 doanh nghiệp thành lập mới, với tổng vốn đăng ký đạt 716 tỷ đồng, tăng 75,0% so với cùng kỳ. Trong đó, công ty TNHH một thành viên chiếm tỷ trọng lớn với 190 doanh nghiệp; tiếp đến là công ty TNHH hai thành viên trở lên với 92 doanh nghiệp; công ty cổ phần 16 doanh nghiệp và doanh nghiệp tư nhân 6 doanh nghiệp. Bên cạnh đó, có 183 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động; 73 doanh nghiệp đã giải thể và 464 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động.
Đánh giá về tình hình sản xuất, kinh doanh trong quý I/2026 cho thấy bức tranh chung tương đối tích cực. Có 75,0% doanh nghiệp nhận định hoạt động sản xuất, kinh doanh khả quan hơn hoặc duy trì ổn định so với quý IV/2025 (trong đó 29,7% đánh giá thuận lợi và 45,3% cho rằng không thay đổi); trong khi 25,0% doanh nghiệp cho biết còn gặp khó khăn.
Về triển vọng quý II/2026, đa số doanh nghiệp giữ tâm lý lạc quan khi có 73,4% dự báo hoạt động sản xuất, kinh doanh sẽ tốt hơn hoặc tiếp tục ổn định so với quý I/2026 (gồm 42,2% dự báo cải thiện và 31,2% dự báo giữ ổn định), trong khi 26,6% doanh nghiệp dự báo còn khó khăn.
Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong quý I/2026, có 68,8% doanh nghiệp cho rằng tính cạnh tranh của hàng trong nước cao đã ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tiếp theo là các yếu tố: nhu cầu thị trường trong nước còn thấp (60,9%) và sự suy giảm của thị trường quốc tế (50,0%). Ngoài ra, một số khó khăn khác cũng được ghi nhận như thiếu nguyên, nhiên, vật liệu (31,3%), khó khăn trong tuyển dụng lao động và lãi suất vay vốn cao (cùng ở mức 29,7%), cạnh tranh từ hàng nhập khẩu (26,6%), khó khăn về tài chính (21,9%), hạn chế về công nghệ, thiết bị (20,3%) và tác động từ cơ chế, chính sách (10,9%).
7. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trong quý I/2026 duy trì ổn định nhờ điều kiện thời tiết thuận lợi. Sản xuất trồng trọt cơ bản đảm bảo tiến độ, lúa Đông Xuân sinh trưởng tốt, mặc dù một số sâu bệnh có xuất hiện nhưng đã được khống chế hiệu quả. Chăn nuôi tiếp tục khởi sắc, dịch bệnh được kiểm soát, tổng đàn gia súc, gia cầm tăng, trong đó đàn lợn tăng 2,0% so với cùng kỳ, góp phần đảm bảo nguồn cung thực phẩm. Lâm nghiệp duy trì tăng trưởng với sản lượng gỗ khai thác tăng 8,8%, cho thấy nhu cầu thị trường và hiệu quả sản xuất được cải thiện. Thủy sản phát triển ổn định, tổng sản lượng toàn ngành tăng 3,6%, phản ánh sự mở rộng cả nuôi trồng và khai thác.
7.1. Sản xuất nông nghiệp
* Trồng trọt
Trong ba tháng đầu năm 2026, điều kiện thời tiết nhìn chung khá thuận cho sản xuất nông nghiệp. Nền nhiệt duy trì ở mức ấm áp, nắng nhẹ, không xuất hiện các đợt mưa lớn gây ngập úng; lượng mưa chủ yếu là mưa vừa và mưa nhỏ, phân bố tương đối đều giữa các tháng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc gieo trồng và sinh trưởng của cây trồng.
Vụ Đông Xuân năm 2026, toàn thành phố gieo cấy 27.587 ha lúa, giảm 1,1% so với vụ Đông Xuân năm 2025. Hiện nay, lúa đang sinh trưởng, phát triển tốt; người dân tích cực chăm sóc, theo dõi sâu bệnh để xử lý kịp thời, hạn chế lây lan trên diện rộng. Tính đến ngày 20/3/2026, diện tích lúa nhiễm bệnh đạo ôn lá là 789 ha, chủ yếu trên các giống J02 và lúa nếp tại nhiều địa phương; trong đó có 5 ha nhiễm nặng, gây cháy chòm cục bộ. Bệnh khô vằn xuất hiện trên 180 havới tỷ lệ nhiễm phổ biến từ 10–20%. Chuột gây hại trên 372 ha. Các đối tượng sinh vật gây hại khác như sâu cuốn lá nhỏ, rầy các loại xuất hiện ở mức độ nhẹ, không đáng kể.
Trước diễn biến sâu bệnh có xu hướng gia tăng, ngành nông nghiệp thành phố đã kịp thời hướng dẫn và triển khai các biện pháp phòng, trừ hiệu quả. Nhờ đó, dịch bệnh cơ bản được kiểm soát, không ảnh hưởng đáng kể đến quá trình sinh trưởng của cây lúa. Đối với các cây trồng khác như rau, ngô, khoai, sắn, sen, đậu và hoa, mức độ sâu bệnh nhìn chung thấp, mật độ và tỷ lệ gây hại không đáng kể.
Diện tích gieo trồng một số cây hằng năm khác có xu hướng tăng: ngô ước đạt 975 ha, tăng 8,8%; khoai lang 380 ha, tăng 0,3%; rau các loại 2.590 ha, tăng 4,7%; đậu các loại 525 ha, tăng 4,8%. Ngược lại, diện tích lạc ước đạt 1.775 ha, giảm 12,6%. Sự biến động này chủ yếu do một số diện tích đất bị khô hạn, không còn phù hợp với cây lạc; bên cạnh đó, cây lạc đòi hỏi công chăm sóc lớn nhưng năng suất và hiệu quả kinh tế chưa cao, nên người dân có xu hướng chuyển sang trồng ngô nhằm phù hợp điều kiện canh tác và nâng cao thu nhập.
* Chăn nuôi
Trong quý I/2026, hoạt động chăn nuôi gia súc, gia cầm trên địa bàn thành phố Huế tiếp tục khởi sắc rõ nét so với cùng kỳ năm 2025. Dịch bệnh được kiểm soát tốt, không phát sinh ổ dịch; giá lợn hơi, gà, vịt duy trì ở mức cao hơn cùng kỳ, tạo động lực để người chăn nuôi mạnh dạn đầu tư, mở rộng sản xuất. Công tác tiêm phòng thú y và vệ sinh môi trường chăn nuôi được triển khai đồng bộ, hiệu quả, góp phần nâng cao năng suất và đảm bảo an toàn dịch bệnh.
Đáng chú ý, sự tham gia ngày càng tích cực của các doanh nghiệp trong lĩnh vực chăn nuôi trâu, bò và sản xuất giống gia cầm đã góp phần mở rộng quy mô, cải thiện chất lượng đàn vật nuôi theo hướng chuyên nghiệp. Bên cạnh đó, công tác quản lý chăn nuôi và kiểm soát giết mổ tiếp tục được tăng cường; các trạm thú y duy trì kiểm soát chặt chẽ, đồng thời thường xuyên tổ chức tiêu độc, khử trùng tại chuồng trại và khu vực giết mổ, góp phần bảo đảm vệ sinh thú y và an toàn thực phẩm.
Ước đến ngày 31/3/2026, tổng đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn thành phố tiếp tục tăng so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể, đàn trâu đạt 15.234 con, tăng 0,7%; đàn bò đạt 30.678 con, tăng 6,4%. Mức tăng này chủ yếu nhờ Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Chăn nuôi Phương Diệu đầu tư nuôi 225 con trâu và 1.785 con bò tại xã Đan Điền nhằm phục vụ sản xuất giống và chăn nuôi thương phẩm. Đàn lợn ước đạt 159.708 con, tăng 2,0%. Đàn gia cầm đạt 5.248 nghìn con, tăng 4,2%, trong đó đàn gà đạt 3.711 nghìn con, tăng 4,6% so với cùng kỳ.
Sản lượng thịt xuất chuồng và các sản phẩm chăn nuôi khác trong quý I/2026 tăng so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể, sản lượng thịt trâu đạt 238 tấn, tăng 0,8%; thịt bò 338 tấn, tăng 4,0%; thịt lợn 5.154 tấn, tăng 4,7%; thịt gia cầm 3.850 tấn, tăng 4,7%. Sản lượng trứng gia cầm ước đạt 8,7 triệu quả, tăng 4,3% so với cùng kỳ. Phản ánh được xu hướng phục hồi và phát triển ổn định của ngành chăn nuôi, góp phần bảo đảm nguồn cung thực phẩm và nâng cao thu nhập cho người sản xuất.
Công tác tiêm phòng được triển khai tích cực và đạt nhiều kết quả đáng ghi nhận. Tính đến ngày 20/3/2026, toàn thành phố đã tiêm được 18.134 liều vắc xin tụ huyết trùng trâu bò (đạt 55% kế hoạch), 17.497 liều vắc xin tam liên lợn (70%), 3.700 liều vắc xin E.coli (62%), 337.100 liều vắc xin cúm gia cầm (69%), 274.300 liều vắc xin dịch tả vịt (58%), 220.725 liều vắc xin Newcastle (68%), 160.100 liều vắc xin Gumboro (69%), 73.700 liều vắc xin đậu gà (72%), 23.510 liều vắc xin tụ huyết trùng gia cầm (74%) và 4.000 liều vắc xin lở mồm long móng (đạt 7%).
7.2. Lâm nghiệp
Trong tháng 3/2026, diện tích trồng rừng mới tập trung ước đạt 750 ha, tăng 1,4% so với cùng kỳ. Tính chung quý I/2026 diện tích trồng rừng mới tập trung đạt 2.150 ha, tăng 1,0%. Mức tăng này chủ yếu nhờ thời tiết đầu năm thuận lợi, độ ẩm đất và lượng mưa phù hợp, tạo điều kiện tốt cho việc xuống giống và nâng cao tỷ lệ cây sống. Bên cạnh đó, nhu cầu nguyên liệu gỗ phục vụ chế biến ngày càng tăng đã thúc đẩy người dân và doanh nghiệp chủ động đầu tư, từng bước hình thành vùng nguyên liệu ổn định gắn với chế biến và tiêu thụ.
Về khai thác, sản lượng gỗ từ rừng trồng trong tháng 3/2026 ước đạt 76.560 m³, tăng 7,9%; Tính chung quý I/2026 sản lượng gỗ từ rừng trồng đạt 181.970 m³, tăng 8,8% so với cùng kỳ. Đây là mức tăng khá, nguyên nhân chủ yếu là do các nhà máy chế biến dăm gỗ tăng cường thu mua nguyên liệu để đáp ứng nhu cầu xuất khẩu, trong khi giá gỗ nguyên liệu duy trì ổn định. Điều này tạo động lực để các chủ rừng đẩy mạnh khai thác, đặc biệt đối với diện tích rừng trồng đã đến tuổi thu hoạch.
Công tác bảo vệ rừng tiếp tục được chú trọng. Trong tháng 3/2026 không xảy ra cháy rừng, cho thấy các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng phát huy hiệu quả. Tuy nhiên, tình trạng phá rừng trái pháp luật vẫn còn xảy ra, với 2 vụ trong tháng, diện tích thiệt hại 0,21 ha; Tính chung quý I/2026, toàn thành phố ghi nhận 5 vụ, tổng diện tích thiệt hại 0,27 ha. Dù diện tích thiệt hại không lớn, tình trạng này vẫn cần được quan tâm do chủ yếu xuất phát từ nhu cầu chuyển đổi đất rừng sang đất sản xuất.
Trong thời gian tới, để phát triển lâm nghiệp theo hướng bền vững, cần tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức của người dân về bảo vệ rừng; đồng thời tăng cường tuần tra, kiểm soát và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm. Bên cạnh đó, cần có cơ chế hỗ trợ sinh kế, phát triển kinh tế dưới tán rừng và khuyến khích trồng rừng, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và phát triển rừng lâu dài.
7.3. Thủy sản
Tình hình nuôi trồng thủy sản trong tháng 3/2026 tiếp tục duy trì ổn định và có xu hướng mở rộng nhẹ, với tổng diện tích ước đạt 198 ha, tăng 1,5% so với cùng kỳ. Trong đó, diện tích nuôi nước ngọt đạt 64 ha, giảm 3,0%; ngược lại, diện tích nuôi nước lợ đạt 134 ha, tăng 3,9%. Đáng chú ý, các đối tượng nuôi trong môi trường nước lợ đều ghi nhận mức tăng trưởng tích cực: nuôi cá đạt 20 ha, tăng 5,3%, nuôi tôm 56 ha, tăng 5,7% và các loại thủy sản khác 58 ha, tăng 1,8%.
Tính chung quý I/2026, diện tích nuôi trồng thủy sản ước đạt 518 ha, tăng 1,0% so với cùng kỳ. Chia ra diện tích nuôi nước ngọt 185 ha, giảm 3,6%; diện tích nuôi nước lợ 333 ha, tăng 3,7%. Trong nuôi nước lợ, diện tích nuôi cá 82 ha, tăng 5,1%; nuôi tôm 188 ha, tăng 3,9%; nuôi các loại thủy sản khác 58 ha, tăng 1,8%; ươm, nuôi giống thủy sản 5 ha, bằng với cùng kỳ.
Sản lượng thủy sản nuôi trồng thu hoạch trong tháng 3/2026 ước đạt 608 tấn, tăng 3,2% so với cùng kỳ. Trong đó, sản lượng cá đạt 300 tấn (tăng 2,4%), tôm đạt 239 tấn (tăng 4,4%) và các loại thủy sản khác đạt 69 tấn (tăng 3,0%). Tính chung quý I/2026, sản lượng nuôi trồng đạt 1.898 tấn, tăng 4,3%; trong đó cá đạt 1.040 tấn (tăng 3,8%), tôm đạt 789 tấn (tăng 5,2%) và các loại thủy sản khác đạt 69 tấn (tăng 3,0%).
Đối với hoạt động khai thác thủy sản, trong tháng 3/2026, điều kiện thời tiết thuận lợi đã hỗ trợ tích cực cho hoạt động đánh bắt. Ngư dân chủ động chuẩn bị cho vụ cá Nam, đặc biệt các tàu khai thác xa bờ đã tăng cường đầu tư, bổ sung ngư lưới cụ nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất. Sản lượng khai thác trong tháng 3 ước đạt 4.160 tấn, tăng 3,4% so với cùng kỳ; trong đó khai thác biển đạt 3.880 tấn (tăng 3,6%), khai thác nội địa đạt 280 tấn (giảm 0,4%). Tính chung quý I/2026, sản lượng khai thác thủy sản ước đạt 8.317 tấn, tăng 3,4% so với cùng kỳ; trong đó khai thác biển đạt 7.580 tấn (tăng 3,4%), còn khai thác nội địa đạt 737 tấn (giảm 3,5%).
Tổng hợp chung, trong quý I/2026, sản lượng thủy sản (bao gồm nuôi trồng và khai thác) ước đạt 10.215 tấn, tăng 3,6% so với cùng kỳ, cho thấy toàn ngành tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ổn định.
8. Sản xuất Công nghiệp
Tình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn thành phố Huế trong ba tháng đầu năm 2026 tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Nhiều ngành công nghiệp chủ lực ghi nhận sản lượng cao ngay từ đầu năm, tiêu biểu như sản xuất ô tô, đồ uống có cồn và sợi. Đồng thời, năng lực sản xuất trên địa bàn được tăng cường với việc đưa vào hoạt động nhà máy sản xuất mũ bảo hiểm Eon Industry Việt Nam và mở rộng nhà máy sản xuất đồ chơi Billionmax Việt Nam. Nhờ các yếu tố thuận lợi này, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 3/2026 ước tăng 13,8% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 3 tháng đầu năm 2026, chỉ số IIP tăng 13,1% so với cùng kỳ năm 2025.
Chỉ số IIP tháng 3 năm 2026 tăng 13,8% so với cùng kỳ, trong đó: ngành công nghiệp khai khoáng tăng 10,5%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 15,6%; sản xuất và phân phối điện tăng 1,3%; cấp nước và thu gom rác thải giảm 0,4%. Tính chung quý I/2026 chỉ số IIP tăng 13,1% so với năm trước, trong đó: ngành công nghiệp khai khoáng tăng 26,2%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 16,7%; cấp nước và thu gom rác thải tăng 2,9%. Riêng sản xuất và phân phối điện giảm 11,3%.
Các ngành công nghiệp cấp 4 trong quý I/2026 có chỉ số sản xuất tăng so với cùng kỳ: Khai thác quặng kim loại (+22,0%); sản xuất sản phẩm đồ uống có cồn (+33,4%); sản xuất sợi (+7,3%); sản xuất sản phẩm khác từ cao su (+24,5%); sản xuất sản phẩm từ plastic (+24,5%); sản xuất đồ chơi (+25,1%); sản xuất khác chưa được phân vào đâu (+5,9 lần); sản xuất ô tô (+77,4%)...
Bên cạnh những dấu hiệu tích cực, hiện nay một số ngành sản xuất công nghiệp vẫn đang gặp không ít khó khăn, dự ước các ngành công nghiệp cấp 4 trong quý I/2026 có chỉ số sản xuất giảm so với cùng kỳ: May trang phục (-0,2%); sản xuất vật liệu xây dựng từ đất sét (-8,2%); sản xuất giường, tủ, bàn ghế gỗ (-11,4%); sản xuất, truyền tải và phân phối điện (-11,3%)...
Các sản phẩm công nghiệp ước quý I2026 tăng so với cùng kỳ năm trước: quặng inmenit và tinh quặng inmenit 5,7 nghìn tấn (22,0%); Đồ uống có cồn 78,8 triệu lít (+31,2%); găng tay, găng hở ngón và găng bao tay bằng cao su lưu hoá 3,3 nghìn tấn (+3,1%); hàng may mặc và đồ phụ trợ may mặc bằng plastic 3,2 nghìn tấn (+49,7 lần); ô tô1.064 chiếc (+33,0%)...
Các sản phẩm công nghiệp quý I/2026 giảm so với cùng kỳ: Quần áo lót cho người lớn không dệt kim hoặc đan móc 93,9 triệu cái (-0,2%); sản phẩm in khác 52,6 triệu trang (-9,6%); cao su tổng hợp và các chất thay thế cao su dẫn xuất từ dầu, ở dạng nguyên sinh hoặc tấm lá hoặc dải 1,6 nghìn tấn (-6,8%); tấm lát đường và vật liệu lát, gạch ốp tường 2,2 triệu m2 (-8,2%); điện sản xuất 386,1 triệu Kwh (-15,1%)…
Chỉ số sử dụng lao động tháng 3/2026 ước tăng 0,9% so với tháng trước và tăng 8,1% so với cùng kỳ. Tính chung chỉ số sử dụng lao động quý I/2026 tăng 8,0% so với cùng kỳ, trong đó tập trung vào một số ngành: Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (+25,0%); sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic (+21,9%); sản xuất xe có động cơ (+27,9%); công nghiệp chế biến, chế tạo khác (+1,2 lần). Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số sử dụng lao động giảm đó là: Sản xuất chế biến thực phẩm (-11,6%); sản xuất trang phục (-10,8%); sản xuất da và các sản phẩm có liên quan (-5,0%); sản xuất kim loại (-33,3%); sản xuất giường, tủ, bàn, ghế (-1,7%)…
9. Thương mại, dịch vụ
Tháng 3/2026, các hoạt động thương mại, dịch vụ và du lịch trên địa bàn thành phố diễn ra sôi động, góp phần thúc đẩy tiêu dùng và lưu thông hàng hóa. Nổi bật là chuỗi hoạt động văn hóa trong khuôn khổ Festival Huế 2026 được tổ chức xuyên suốt tháng 3 và ba tháng đầu năm, với Lễ hội mùa Xuân “Xuân Cố đô” kéo dài, bao gồm các lễ hội cung đình, lễ hội truyền thống và lễ hội dân gian đặc sắc. Điểm nhấn là Chương trình Công bố Festival Huế 2026, tái hiện Lễ Ban Sóc cùng nhiều hoạt động Tết cung đình và dân gian phong phú, tái hiện không gian văn hóa Tết cổ truyền của Kinh đô Huế xưa gắn với kỷ niệm Ngày Giải phóng Huế.... Các hoạt động văn hóa mang đậm bản sắc đã thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước đến tham quan, trải nghiệm và mua sắm, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương.
Kết quả hoạt động thương mại, dịch vụ và vận tải trên địa bàn thành phố quý I năm 2026 ước đạt như sau:
9.1. Bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Thương mại, dịch vụ trong ba tháng đầu năm 2026 tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực khi nhu cầu tiêu dùng gia tăng mạnh trước, trong và sau Tết Nguyên đán, tập trung ở các mặt hàng thiết yếu và tiêu dùng nhanh. Du lịch khởi sắc, lượng khách tăng đã góp phần thúc đẩy hoạt động mua sắm và sử dụng dịch vụ. Cùng với đó, các doanh nghiệp đẩy mạnh khuyến mại, kích cầu tiêu dùng; thu nhập và tâm lý tiêu dùng của người dân dần ổn định, đời sống được cải thiện. Nhờ vậy, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng quý I/2026 ước tăng 18,5% so với cùng kỳ.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 3/2026 ước đạt 6.162 tỷ đồng, giảm 0,7% so với tháng trước và tăng 19,2% so với cùng kỳ. Chia theo ngành kinh tế: Bán lẻ hàng hóa ước đạt 4.459 tỷ đồng, chiếm 72,3% trong tổng số, tăng 1,0% so với tháng trước và tăng 17,7% so với cùng kỳ; nguyên nhân tăng so với tháng 2 là do trong tháng 3, nhu cầu một số mặt hàng tăng dịp lễ Quốc tế phụ nữ và phong tục cúng đất tháng 2 âm lịch hàng năm của người Huế. Doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống đạt 1.198 tỷ đồng, chiếm 19,5%, tương ứng giảm 6,3% và tăng 20,0%; dịch vụ du lịch lữ hành đạt 33 tỷ đồng, chiếm 0,5%, giảm 17,5% và tăng 24,2%; doanh thu dịch vụ khác đạt 472 tỷ đồng, chiếm 7,7%, giảm 0,4% và tăng 32,7%.
Dự ước tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng quý I/2026 đạt 18.408 tỷ đồng, tăng 18,5% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 13.160 tỷ đồng, tăng 16,2%; dịch vụ lưu trú và ăn uống đạt 3.732 tỷ đồng, tăng 23,6%; du lịch lữ hành đạt 109 tỷ đồng, tăng 18,0%; dịch vụ khác đạt 1.407 tỷ đồng, tăng 28,1%.
9.2. Vận tải hành khách và hàng hóa
Hoạt động vận tải hành khách và hàng hóa trong ba tháng đầu năm 2026 trên địa bàn diễn ra khá sôi động, nhất là trong hai tháng đầu năm khi nhu cầu vận chuyển phục vụ Tết Nguyên đán tăng cao, cả về hàng hóa lẫn hành khách. Sang tháng 3, sau Tết, hoạt động vận tải giảm so với tháng trước. Tuy nhiên, với giá xăng dầu trong nước tăng mạnh theo biến động của giá dầu thế giới (giá xăng tăng 40,96%, giá dầu tăng gần 58% – mức cao nhất kể từ tháng 7/2022) đã làm chi phí nhiên liệu tăng cao, kéo theo giá cước vận tải tăng, qua đó góp phần làm doanh thu vận tải vẫn tăng so với cùng kỳ.
Vận tải hành khách tháng 3/2026 ước đạt 4.179,7 nghìn lượt khách, giảm 1,8% so với tháng trước và tăng 21,7% so với cùng kỳ; luân chuyển là 204,3 triệu lượt khách.km, giảm 1,6% và tăng 21,6%. Dự ước vận tải hành khách quý I/2026 đạt 12.381,8 nghìn hành khách, tăng 20,9% và 605,3 triệu hành khách.km, tăng 20,8% so với cùng kỳ.
Dự ước hàng hóa vận chuyển tháng 3/2026 ước đạt 2.341,2 nghìn tấn, giảm 0,8% so với tháng trước và tăng 16,2% so với cùng kỳ; hàng hóa luân chuyển đạt 194,8 triệu tấn.km, giảm 0,5% và tăng 15,7%. Đưa hàng hóa vận chuyển quý I/2026 ước đạt 6.983,6 nghìn tấn, tăng 15,9% và luân chuyển đạt 581,8 triệu tấn.km, tăng 15,6% so với cùng kỳ.
Dự ước doanh thu vận tải và dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 3/2026 đạt 593,1 tỷ đồng, giảm 0,6% so với tháng trước và tăng 21,3% so với cùng kỳ. Tính chung quý I năm 2026, doanh thu vận tải, bốc xếp ước đạt 1.757,6 tỷ đồng, tăng 20,5% so cùng kỳ. Chia theo loại hình dịch vụ: doanh thu vận tải hành khách ước đạt 382,2 tỷ đồng, tăng 21,2%; vận tải hàng hóa ước đạt 1.203,4 tỷ đồng, tăng 17,8%; dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 172 tỷ đồng, tăng 41,3%. Trong đó doanh thu vận tải bao gồm: đường bộ đạt 1.584 tỷ đồng, tăng 18,6%; đường sông đạt 1,7 tỷ đồng, tăng 24,1%.
9.3. Lượt khách các cơ sở lưu trú phục vụ và du lịch lữ hành
Trong tháng 3 và ba tháng đầu năm 2026, hoạt động du lịch trên địa bàn thành phố tiếp tục diễn ra sôi động, được thúc đẩy bởi hiệu ứng từ mùa cao điểm Tết Nguyên đán cùng chuỗi sự kiện, lễ hội và chương trình kích cầu được tổ chức đồng bộ. Các lĩnh vực lưu trú, ăn uống, lữ hành và dịch vụ du lịch chủ động nâng cao chất lượng, đa dạng hóa sản phẩm, góp phần thu hút và giữ chân du khách. Mặc dù bước sang tháng 3, nhu cầu du lịch có xu hướng giảm nhẹ so với tháng trước do yếu tố mùa vụ, song nhìn chung ngành du lịch vẫn duy trì đà tăng trưởng khá so với cùng kỳ năm trước.
Lượt khách do cơ sở lưu trú phục vụ tháng 3/2026 ước đạt 250,3 nghìn lượt, giảm 1,1% so với tháng trước và tăng 15,7% so với cùng kỳ. Trong đó, lượt khách ngủ qua đêm tháng 3/2026 ước đạt 213,7 nghìn lượt, tương ứng giảm 0,6% và tăng 18,1%; trong lượt khách ngủ qua đêm: lượt khách Quốc tế 95,2 nghìn lượt, tăng 5,4 và tăng 5,2%; lượt khách trong nước 118,5 nghìn lượt, giảm 5,0% và tăng 31,1%. Lượt khách trong ngày 36,6 nghìn lượt khách, giảm 4,2% và tăng 3,3%.
Tính chung quý I/2026 tổng lượt khách phục vụ đạt 716,7 nghìn lượt tăng 18,3% so cùng kỳ. Trong đó lượt khách ngủ qua đêm 3 tháng đầu năm đạt 605,2 nghìn lượt, tăng 20,6% so cùng kỳ. Trong lượt khách ngủ qua đêm, lượt khách Quốc tế 265,6 nghìn lượt, tăng 15,2%; khách trong nước 339,6 nghìn lượt, tăng 25,2%. Lượt khách trong ngày 111,5 nghìn lượt, tăng 7,2%.
Ngày khách tháng 3/2026 ước đạt 364,5 nghìn ngày, tăng 0,7% so với tháng trước và tăng 21,4% so với cùng kỳ. Trong đó: ngày khách quốc tế 173,7 nghìn ngày, tương ứng tăng 5,2% và tăng 11,2%; ngày khách trong nước 190,8 nghìn ngày, giảm 3,1% và tăng 32,5%. Tính chung quý I/2026 ngày khách đạt 1.028,7 nghìn ngày, tăng 22,3% so với cùng kỳ. Trong đó: ngày khách quốc tế 475 nghìn ngày, tăng 18,5%; ngày khách trong nước 553,7 nghìn ngày, tăng 25,9%.
Lượt khách phục vụ của các cơ sở lữ hành thực hiện tháng 3/2026 ước đạt 20,4 nghìn lượt, giảm 8,5% so với tháng trước và tăng 13,5% so với cùng kỳ; Tính chung quý I/2026 lượt khách đạt 61,9 nghìn lượt, tăng 16,1% so với cùng kỳ. Ngày khách theo tour tháng 3/2026 ước đạt 42,8 nghìn ngày, giảm 3,4% so với tháng trước và tăng 14,1% so với cùng kỳ; đưa ngày khách theo tour 3 tháng ước đạt 128,1 nghìn ngày khách, tăng 16,3% so với cùng kỳ.
10. Các vấn đề xã hội
10.1. Giải quyết việc làm
Từ đầu năm đến nay, toàn thành phố đã giải quyết việc làm cho 5.349 người, trong đó đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài 589 người. cho thấy sự phục hồi tích cực của thị trường lao động, đặc biệt ở các lĩnh vực du lịch - dịch vụ, công nghiệp chế biến, chế tạo và thương mại. Chất lượng việc làm từng bước được cải thiện, thu nhập của người lao động có xu hướng tăng so với cùng kỳ. Tổng hợp kết quả khảo sát mức sống dân cư kỳ 1 năm 2026, thu nhập bình quân đầu người của toàn thành phố tăng 10,1% so với cùng kỳ.
10.2. Đời sống dân cư
Trong ba tháng đầu năm 2026, kinh tế - xã hội ghi nhận những tín hiệu khởi sắc đáng khích lệ khi hoạt động sản xuất kinh doanh của các ngành trọng điểm duy trì đà tăng trưởng ổn định. Sự phục hồi của chuỗi cung ứng và nhu cầu thị trường đã góp phần cải thiện đáng kể các chỉ số về thu nhập, giải quyết việc làm và củng cố hệ thống an sinh xã hội, giúp nâng cao mức sống của đại bộ phận dân cư so với cùng kỳ năm trước.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, nền kinh tế vẫn đang đối mặt với những thách thức nội tại và khách quan. Đời sống nhân dân hiện chịu áp lực trực tiếp từ những biến động bất thường của giá cả hàng hóa thế giới, dẫn đến chi phí sinh hoạt thiết yếu leo thang, phần nào bào mòn thành quả thu nhập vừa đạt được.
10.3. Chính sách - xã hội
Chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng được thực hiện kịp thời và đầy đủ; các hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa”, “Uống nước nhớ nguồn” được quan tâm. Nhân dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026, các ngành chức năng phối hợp với chính quyền các cấp đã thăm hỏi, chúc Tết và tặng quà cho các đối tượng chính sách đầy đủ, kịp thời với 141.569 suất quà, tổng kinh phí gần 45 tỷ đồng.
Công tác giảm nghèo: UBND thành phố đã chỉ đạo các ngành, địa phương tập trung thực hiện các giải pháp đồng bộ, có hiệu quả chương trình, dự án giảm nghèo; lồng ghép chính sách và nguồn lực có hiệu quả để phát triển kinh tế, thoát nghèo.
10.4. Giáo dục
Ngành Giáo dục và Đào tạo thành phố Huế đã đạt được 56 giải thưởng tại Cuộc thi tìm hiểu kiến thức pháp luật về trật tự, an toàn giao thông cấp Quốc gia năm học 2025-2026, trong đó có 04 giải Nhất, 01 giải Nhì, 16 giải Ba và 35 giải Khuyến khích. Kết quả này thể hiện sự quan tâm và nỗ lực của các cơ sở giáo dục trong việc đưa nội dung giáo dục pháp luật về trật tự, an toàn giao thông vào hoạt động dạy học và giáo dục học sinh.
Trong hai ngày 21-22/3, Sở GD&ĐT tổ chức kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp THCS năm học 2025-2026 tại Trường THCS Nguyễn Tri Phương. Kỳ thi thu hút 1.385 học sinh lớp 8 và 9 đến từ các trường THCS trên địa bàn thành phố. Đây là những học sinh có kết quả học tập, rèn luyện từ khá trở lên ở học kỳ I và được các trường tuyển chọn, bồi dưỡng.
Chiều 22/3, Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức bế mạc và trao giải Cuộc thi khoa học kỹ thuật cấp quốc gia dành cho học sinh THCS, THPT năm học 2025-2026. Học sinh TP Huế đạt được 2 giải thưởng, gồm 1 giải Ba và 1 giải Tư ở lĩnh vực khoa học xã hội và hành vi, qua đó khẳng định năng lực nghiên cứu và sáng tạo của học sinh.
10.5. Hoạt động văn hóa, thể thao
Bảo tàng Lịch sử tổ chức trưng bày chuyên đề giới thiệu Di sản văn hoá phi vật thể của thành phố Huế với chủ đề “Di sản Văn hóa phi vật thể Huế – Khởi nguồn, sáng tạo và phát triển” tại tỉnh Bắc Ninh, khai mạc vào ngày 27/3/2026; tổ chức triển lãm chuyên đề “Huế – Dấu ấn lịch sử và hành trình vươn lên trong kỷ nguyên mới” và Hội thi tìm hiểu lịch sử “Tự hào trang sử thành Huế” cho các trường THCS thuộc phường Dương Nỗ.
Trong tháng, thành phố Huế đã tổ chức nhiều hoạt động thể dục thể thao sôi nổi trong khuôn khổ Đại hội TDTT lần thứ X năm 2026. Nổi bật là giải bắn nỏ thu hút 50 VĐV đến từ 5 đơn vị; giải bi sắt quy tụ 100 VĐV của 13 đơn vị trên địa bàn, đáng chú ý, tại giải bi sắt có sự tham gia của nhiều VĐV từ 70 tuổi trở lên, thể hiện tinh thần thể thao rộng khắp trong cộng đồng. Đến nay, Đại hội đã tổ chức thi đấu 13 môn gồm: Đua ghe, Karate, Taekwondo, đá cầu, bóng chuyền, cầu lông, bóng bàn, Vovinam, cờ vua, cờ tướng, Billiards, bi sắt và bắn nỏ. Bên cạnh đó, sáng 7/3 tại Trung tâm Thanh thiếu nhi thành phố Huế diễn ra giải võ cổ truyền thanh thiếu nhi thành phố Huế mở rộng lần thứ II năm 2026. Hoạt động nhằm chào mừng kỷ niệm 95 năm ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, 51 năm ngày giải phóng Huế, đồng thời hưởng ứng Tháng Thanh niên và Tuần lễ văn hóa – thể thao thanh thiếu nhi lần thứ XXII.
Lễ phát động “Cuộc vận động toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”, ngày chạy Olympic “Vì sức khỏe toàn dân – Vì An ninh Tổ quốc” và khai mạc giải việt dã truyền thống lần thứ 34 năm 2026. Sự kiện quy tụ gần 3.000 VĐV đến từ 24 đơn vị tham gia. Tiếp đó, tổ chức giải chạy “Chinh phục đỉnh Bạch Mã năm 2026 – Chung tay bảo tồn đa dạng sinh học”. Hoạt động mang thông điệp ý nghĩa về việc bảo vệ rừng, giữ gìn cảnh quan thiên nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học, đồng thời góp phần gắn kết cộng đồng, thúc đẩy lối sống năng động, lành mạnh.
Giải vật bãi biển vô địch Quốc gia 2026 diễn ra từ ngày 8 đến 15/3 tại Bắc Ninh, thu hút gần 600 VĐV đến từ 21 tỉnh, thành, ngành thi đấu. Tại giải lần này, tuyển Huế xuất sắc giành 5 HCV, 3 HCB và 9 HCĐ.
10.6. Y tế
Trong ba tháng đầu năm, ngành y tế đã tích cực triển khai nhiều biện pháp nhằm kiểm soát cả bệnh không lây nhiễm và bệnh truyền nhiễm. Thành phố Huế chú trọng đẩy mạnh tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng để nâng cao nhận thức của người dân về phòng, chống dịch bệnh. Đồng thời, công tác đảm bảo an toàn thực phẩm cũng được tăng cường thông qua việc tổ chức các đoàn thanh tra, kiểm tra thường xuyên.
Tháng 3/2026, trên địa bàn có 17 ca sốt xuất huyết, tăng 2 ca so với cùng kỳ; có 33 ca mắc tay chân miệng, tăng 11 ca so với cùng kỳ. Tính chung quý I/2026, trên địa bàn có 44 ca sốt xuất huyết, giảm 32 ca so với cùng kỳ; có 47 ca mắc tay chân miệng, tăng 6 ca so với cùng kỳ; 1 ca liên cầu lợn, tăng 1 ca so với cùng kỳ.
Tháng 2/2026, trên địa bàn đã phát hiện 4 ca nhiễm mới HIV, giảm 8 ca so cùng kỳ; có 1 ca chuyển qua AIDS, giảm 5 ca so với cùng kỳ; không có ca tử vong, bằng cùng kỳ. Hai tháng đầu năm, trên địa bàn có 10 ca nhiễm mới HIV, giảm 10 ca so cùng kỳ; 1 ca chuyển qua AIDS, giảm 5 ca so với cùng kỳ; không có ca tử vong, giảm 1 ca so với cùng kỳ. Hiện tại, trên địa bàn có 601 bệnh nhân đang được quản lý và điều trị tại các cơ sở y tế, trong đó có 596 bệnh nhân điều trị ARV .
Tháng 3/2026, trên địa bàn không xảy ra ngộ độc thực phẩm, bằng cùng kỳ. Trong quý I/2026, trên địa bàn không xảy ra ngộ độc thực phẩm, bằng cùng kỳ.
10.7. Tình hình trật tự, an toàn xã hội
Theo báo cáo của Ban ATGT thành phố, từ 15/02/2026 đến 14/3/2026, trên địa bàn đã xảy ra 18 vụ tai nạn giao thông, tăng 1 vụ so với cùng kỳ; làm 14 người chết, tăng 6 người so với cùng kỳ; làm bị thương 8 người, giảm 3 người so với cùng kỳ. Tính chung quý I/2026, trên địa bàn xảy ra 39 vụ tai nạn giao thông, giảm 23 vụ so với cùng kỳ; làm chết 30 người, tăng 2 người và làm bị thương 22 người, giảm 24 người so với cùng kỳ.
10.8. Tình hình cháy nổ và bảo vệ môi trường
Trong tháng 3/2026 trên địa bàn xảy ra 2 vụ cháy; tăng 2 vụ so với cùng kỳ, tăng 1 vụ so với tháng trước; không gây thiệt hại về người và tài sản. Tính chung quý I/2026, trên địa bàn xảy ra 4 vụ cháy, tăng 2 vụ so với cùng kỳ, không có thiệt hại về người, tổng giá trị thiệt hại 5,4 triệu đồng.
Trong tháng 3/2026 trên địa bàn xảy ra 2 vụ vi phạm môi trường, giảm 2 vụ so với cùng kỳ, tăng 2 vụ so với tháng trước. Các hình thức vi phạm: 1 vụ không có giấy phép kinh doanh, giữ chất thải nguy hại quá 12 tháng không báo cáo; 1 vụ khai thác và mua bán khoáng sản trái phép; tiến hành xử lý 4 vụ với số tiền xử phạt 382,8 triệu đồng. Tính chung quý I/2026, trên địa bàn xảy ra 16 vụ, giảm 26 vụ; tiến hành xử lý 18 vụ với số tiền xử phạt 1914,9 triệu đồng.
10.9. Thiệt hại do thiên tai
Tháng 3/2026 không xảy ra thiên tai, bằng cùng kỳ, bằng tháng trước. Trong quý I/2026, trên địa bàn không xảy ra thiên tai, bằng cùng kỳ.
Nguồn Cục Thống kê thành phố Huế
Tin khác