Kinh Tế xã hội quý tháng 4 và 4 tháng đầu năm trên địa bàn thành phố Huế
1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
Trong tháng 4/2026, sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn thành phố Huế duy trì ổn định và bám sát kế hoạch đề ra nhờ điều kiện thời tiết thuận lợi và công tác chỉ đạo kịp thời. Lĩnh vực trồng trọt bước vào giai đoạn thu hoạch vụ Đông Xuân, các địa phương đang tập trung chăm sóc, thu hoạch và bảo vệ năng suất cây trồng. Công tác theo dõi sâu bệnh và phòng, chống dịch bệnh trên vật nuôi được triển khai đồng bộ, tổng đàn lợn ước tăng 2,9%. Sản xuất lâm nghiệp giữ mức ổn định, sản lượng gỗ khai thác ước tăng 4,9% so với cùng kỳ. Hoạt động nuôi trồng và khai thác thủy sản tiếp tục được duy trì, trong đó sản lượng khai thác biển ước tăng 4,8% so với cùng kỳ.
1.1. Nông nghiệp
* Trồng trọt
Sản xuất trồng trọt diễn ra đúng thời vụ, thời tiết trong tháng nhìn chung thuận lợi, tạo điều kiện cho sản xuất trồng trọt diễn ra đúng thời vụ; hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng nhu cầu tưới tiêu, cùng với sự chỉ đạo kịp thời của ngành nông nghiệp và chính quyền địa phương đã hỗ trợ tích cực cho sản xuất. Cây lúa đang trong giai đoạn chín, dự kiến hoàn thành thu hoạch vào cuối tháng 4/2026. Các loại cây hằng năm sinh trưởng, phát triển tốt, chưa ghi nhận sâu bệnh hại đáng kể. Đối với rau màu, người dân chủ động luân canh, vừa thu hoạch vừa gieo trồng, bảo đảm nguồn cung liên tục; năng suất, sản lượng tăng so với cùng kỳ, giá cả ổn định, góp phần tạo tâm lý yên tâm sản xuất. Các mô hình sản xuất theo hướng hữu cơ, VietGAP và liên kết chuỗi tiếp tục được duy trì, mở rộng; công tác chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh được tăng cường. Tuy nhiên, tình trạng chuyển mùa và nắng nóng cục bộ vẫn ảnh hưởng đến một số diện tích, tiềm ẩn nguy cơ phát sinh sâu bệnh trên cây trồng.
Gieo cấy lúa vụ Đông Xuân 2026 toàn thành phố đạt 27.587 ha, giảm 1,1% so với vụ Đông Xuân năm trước. Diện tích gieo trồng các loại cây hằng năm khác lũy kế đến tháng 4 như: ngô ước đạt 1.004 ha, tăng 10,6%; khoai lang 397 ha, tăng 4,7%; lạc 1.775 ha, giảm 13,3%; rau các loại ước đạt 2.908 ha, tăng 1,2%; đậu các loại 517 ha, tăng 0,8% so với cùng kỳ.
* Chăn nuôi
Trong tháng 4/2026, hoạt động chăn nuôi trên địa bàn thành phố tiếp tục duy trì ổn định và đạt kết quả tích cực. Giá bán các sản phẩm chăn nuôi như lợn hơi, bò hơi và gia cầm duy trì ở mức cao so với cùng kỳ, tạo động lực để doanh nghiệp và hộ chăn nuôi đẩy mạnh tái đàn, mở rộng quy mô sản xuất. Bên cạnh đó, tình hình dịch bệnh được kiểm soát tốt, góp phần bảo đảm an toàn đàn vật nuôi và ổn định sản xuất.
Ước đến ngày 30/4/2026, tổng đàn gia súc, gia cầm có xu hướng tăng ở hầu hết các loại vật nuôi: đàn trâu đạt 15.198 con, tăng 0,5% so với cùng kỳ; đàn bò 30.739 con, tăng 4,4%; đàn lợn 159.850 con tăng 2,9%; đàn gia cầm 5.251 nghìn con, tăng 4,1%, trong đó đàn gà 3.713 nghìn con, tăng 4%.
Công tác phòng, chống dịch bệnh được triển khai đồng bộ, với tiến độ tiêm phòng đạt khá ở nhiều loại vắc xin. Tính đến 20/4/2026, toàn thành phố đã tiêm được 19.304 liều vắc xin Tụ huyết trùng trâu bò (đạt 59% kế hoạch), 18.939 liều vắc xin tam liên lợn (đạt 76% kế hoạch), 4.400 liều E.coli (đạt 73% kế hoạch), 382.100 liều cúm gia cầm ( đạt 78% kế hoạch), 314.300 liều dịch tả vịt (đạt 66% kế hoạch), 524.435 liều vắc-xin các loại gia cầm, 17.400 liều LMLM (đạt 28% kế hoạch) và 24.763 liều dại (đạt 41% kế hoạch)
Nhìn chung, chăn nuôi tiếp tục là điểm sáng của ngành nông nghiệp. Trong thời gian tới cần chú trọng kiểm soát chi phí đầu vào, ổn định thị trường tiêu thụ và nâng cao hiệu quả sản xuất nhằm đảm bảo phát triển bền vững.
1.2. Lâm nghiệp
Trong tháng 4/2026, sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn thành phố Huế tiếp tục được duy trì ổn định, cả về trồng rừng và khai thác gỗ. Kế hoạch phát triển rừng trồng sản xuất gỗ lớn giai đoạn 2026-2030 đã được ban hành và đang trong giai đoạn chuẩn bị, với mục tiêu đến năm 2030 đạt 20.000 ha rừng trồng gỗ lớn và 25.000 ha rừng được cấp chứng chỉ quản lý bền vững FSC, tạo nền tảng cho phát triển lâm nghiệp bền vững.
Công tác trồng rừng bám sát kế hoạch đề ra. Trong tháng, diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 806 ha, giảm nhẹ 0,7% so với cùng kỳ; lũy kế đến cuối tháng đạt 2.956 ha, tăng 0,5%. Nguyên nhân giảm trong tháng chủ yếu do nắng nóng kéo dài, một số hộ dân giãn tiến độ trồng để chờ điều kiện thời tiết thuận lợi hơn; tuy nhiên, tiến độ chung vẫn đảm bảo kế hoạch năm và thời vụ trồng rừng.
Hoạt động khai thác gỗ tiếp tục tăng trưởng khá. Sản lượng gỗ khai thác trong tháng ước đạt 67.450 m³, tăng 4,9% so với cùng kỳ; lũy kế đạt 249.420 m³, tăng 7,7%. Nguyên nhân chủ yếu do nhu cầu nguyên liệu của các nhà máy chế biến gỗ tăng, thúc đẩy người dân khai thác các diện tích rừng đến tuổi, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế lâm nghiệp.
Công tác quản lý, bảo vệ rừng tiếp tục được triển khai, trong tháng không xảy ra cháy rừng. Tuy nhiên, tình trạng phá rừng còn diễn biến phức tạp với 12 vụ, diện tích thiệt hại 2,156 ha; lũy kế từ đầu năm đến nay là 17 vụ, diện tích 2,429 ha, tăng so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu do người dân chuyển đổi mục đích sử dụng đất sang sản xuất nương rẫy. Do vậy trong thời gian đến, cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ rừng.
1.3. Thủy sản
Tình hình sản xuất thủy sản trong tháng được duy trì ổn định. Thời tiết thuận lợi, nhu cầu tiêu dùng và giá cả thị trường bình ổn đã giúp người dân và doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư phát triển sản xuất. Dự ươc sản lượng thủy sản tháng 4 đạt 6.353 tấn, tăng 4,9% so với cùng kỳ. Lũy kế bốn tháng đầu năm sản lượng thuỷ sản ước đạt 16.568 tấn, tăng 4,1% so với cùng kỳ, trong đó: sản lượng thủy sản khai thác biển đạt 12.460 tấn, tăng 4,0%; sản lượng nuôi trồng thủy sản đạt 3.130 tấn, tăng 4,6%.
Với lợi thế có hệ thống đầm phá Tam Giang - Cầu Hai rộng lớn, bờ biển dài, thành phố Huế tập trung phát triển các mô hình nuôi tôm sú, tôm thẻ chân trắng thâm canh và các loại thủy sản khác, đồng thời áp dụng kỹ thuật tiên tiến để tăng năng suất và giảm thiểu rủi ro bệnh dịch. Diện tích nuôi trồng thủy sản thâm canh tháng 4/2026 ước đạt 78 ha, tăng 5,4% so với cùng kỳ, toàn bộ diện tích thả nuôi là tôm thẻ chân trắng. Lũy kế tổng diện tích nuôi trồng thủy sản thâm canh bốn tháng đầu năm 2026 ước đạt 256 ha, tăng 4,5% so với cùng kỳ.
Hoạt động khai thác thủy sản trong tháng diễn ra trong điều kiện thời tiết rất thuận lợi. Đây thời điểm này các tàu thuyền tích cực vươn khơi bám biển bắt đầu cho mùa vụ khai thác sôi động với nguồn lợi thủy sản dồi dào hơn. Sản lượng thủy sản khai thác biển trong tháng 4 năm 2026 ước đạt 4.880 tấn tấn, tăng 4,8% so cùng kỳ; trong đó sản lượng cá khai thác biển 4.275 tấn, tăng 4,9%, sản lượng tôm khai thác biển 108 tấn, tăng 4,9%, sản lượng thủy sản khác khai thác biển 497 tấn, tăng 4,6% so cùng kỳ năm trước. Lũy kế sản lượng thủy sản khai thác biển trong bốn tháng đầu năm ước đạt 12.460 tấn, tăng 475 tấn, tăng 4% so cùng kỳ năm trước.
2. Sản xuất công nghiệp
Tình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn thành phố Huế trong tháng 4 năm 2026 chịu tác động của nhiều yếu tố, trong đó giá năng lượng tăng cao đã tạo áp lực đáng kể lên chi phí sản xuất, mặt bằng giá cả cũng như năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Tuy vậy, toàn ngành vẫn duy trì đà tăng trưởng tích cực. Đạt kết quả đó chủ yếu do một số ngành sản xuất công nghiệp chủ lực của thành phố ghi nhận mức tăng trưởng khá ngay từ đầu năm, như sản xuất ô tô, sản xuất bia, sản xuất sợi,…Bên cạnh đó, việc bổ sung năng lực sản xuất từ một số dự án mới như Nhà máy sản xuất mũ bảo hiểm Eon Industry Việt Nam, sản phẩm thạch anh bán dẫn của Công ty TNHH America Quartz Technology, cùng với việc mở rộng Nhà máy sản xuất đồ chơi Billionmax Việt Nam đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng chung của ngành.Ước tính, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 4 năm 2026 tăng 15,1% so với cùng kỳ năm trước.
Chỉ số IIP tháng 4 năm 2026 tăng 15,1% so với cùng kỳ, trong đó: ngành công nghiệp khai khoáng giảm 1,2%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 16,0%; sản xuất và phân phối điện tăng 9,9%; cấp nước và thu gom rác thải tăng 11,4%. Tính chung bốn tháng đầu năm 2026 chỉ số IIP tăng 13,1% so với năm trước, trong đó: ngành công nghiệp khai khoáng tăng 15,8%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 15,4%; cấp nước và thu gom rác thải tăng 5,6%. Riêng sản xuất và phân phối điện giảm 3,6%.
Các ngành công nghiệp cấp 4 trong bốn tháng đầu năm 2026 có chỉ số sản xuất tăng so với cùng kỳ: Khai thác quặng kim loại (+15,50%); sản xuất đồ uống có cồn (+31,1%); sản xuất sợi (+7,4%); sản xuất sản phẩm khác từ cao su (+11,5%); sản xuất sản phẩm từ plastic (+22,9%); sản xuất linh kiện điện tử (+8,4 lần); sản xuất đồ chơi (+28,4%); sản xuất khác chưa được phân vào đâu (+4,4 lần); sản xuất ô tô (+52,3%)...
Bên cạnh những dấu hiệu tích cực, hiện nay một số ngành sản xuất công nghiệp vẫn đang gặp không ít khó khăn, dự ước các ngành công nghiệp cấp 4 trong bốn tháng đầu năm 2026 có chỉ số sản xuất giảm so với cùng kỳ: Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (-7,3%); in ấn (-10,9%); sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất (-9,6%); sản xuất vật liệu xây dựng từ đất sét (-6,7%); sản xuất giường, tủ, bàn ghế gỗ (-11,7%); sản xuất, truyền tải và phân phối điện (-3,6%)...
Các sản phẩm công nghiệp ước bốn tháng đầu năm 2026 tăng so với cùng kỳ năm trước: Quặng inmenit và tinh quặng inmenit 7,7 nghìn tấn (+15,5%); tôm đông lạnh 1,2 nghìn tấn (+22,1%); bánh làm từ bột khác bảo quản được 1,6 nghìn tấn (+37,6%); đồ uống có cồn 110,7 triệu lít (+28,9%); sợi 37,8 nghìn tấn (+7,4%); quần áo lót cho người lớn không dệt kim hoặc đan móc 124,2 triệu cái (+4,8%); Găng tay, găng hở ngón và găng bao tay bằng cao su lưu hoá 5,1 nghìn tấn (+11,5%); Ô tô 1.327 chiếc (+94,6%)...
Các sản phẩm công nghiệp bốn tháng đầu năm 2026 giảm so với cùng kỳ: Vỏ bào, dăm gỗ 290,7 nghìn tấn (-7,3%); sản phẩm in 68,2 triệu trang (-10,8%); cao su tổng hợp và các chất thay thế cao su dẫn xuất từ dầu, ở dạng nguyên sinh hoặc tấm lá hoặc dải 2,1 nghìn tấn (-8,1%); tấm lát đường và vật liệu lát, gạch ốp tường 3,1 triệu m2 (-6,9%); điện sản xuất 504,5 triệu Kwh (-9,2%)…
Chỉ số sử dụng lao động thán 4/2026 ước tăng 0,7% so với tháng trước và tăng 10,1% so với cùng kỳ. Tính chung chỉ số sử dụng lao động bốn tháng đầu năm 2026 tăng 8,5% so với cùng kỳ, trong đó tập trung vào một số ngành: Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (+24,1%); sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic (+20,4%); sản xuất xe có động cơ (+23,1%); công nghiệp chế biến, chế tạo khác (+1,2 lần). Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số sử dụng lao động giảm đó là: Sản xuất chế biến thực phẩm (-11,0%); sản xuất trang phục (-9,5%); sản xuất da và các sản phẩm có liên quan (-3,9%); sản xuất kim loại (-33,3%); sản xuất giường, tủ, bàn, ghế (-2,8%)…
3. Vốn đầu tư ngân sách do địa phương quản lý
Tình hình thực hiện vốn ngân sách do địa phương quản lý bốn tháng đầu năm 2026 tiếp tục chuyển biến tích cực, với tiến độ thi công các công trình trọng điểm được tăng tốc. Các đơn vị chủ động phối hợp, đẩy nhanh triển khai các hạng mục chuyển tiếp, qua đó tạo khối lượng thực hiện ngày càng rõ nét. Công tác chỉ đạo, điều hành được triển khai quyết liệt ngay từ đầu năm, bảo đảm các dự án hạ tầng chiến lược bám sát quy hoạch và yêu cầu kỹ thuật, qua đó góp phần đưa vốn ngân sách thực hiện trong tháng 4 ước tăng 7,8% so với cùng kỳ.
Nguồn vốn ngân sách Nhà nước đầu tư trên địa bàn thành phố Huế do địa phương quản lý thực hiện trong tháng 4/2026 đạt 469 tỷ đồng, đạt 7,3% kế hoạch năm, tăng 7,8% so cùng kỳ. Trong đó, vốn NSNN cấp thành phố ước đạt 397 tỷ đồng, đạt 6,9% kế hoạch, tăng 9,4% so cùng kỳ. Đưa nguồn vốn ngân sách Nhà nước trên địa bàn bốn tháng đầu năm ước đạt 1.438 tỷ đồng, đạt 22,3% kế hoạch năm, tăng 3,5% so với cùng kỳ. Trong đó, vốn NSNN cấp tỉnh bốn tháng đầu năm ước đạt 1.199 tỷ đồng, đạt 21% kế hoạch năm, tăng 10,1% so với cùng kỳ.
Nguồn vốn đầu tư ngân sách do địa phương quản lý trong tháng 4/2026 tiếp tục tập trung vào các công trình trọng điểm nhằm đẩy nhanh tiến độ thi công. Trong đó, dự án tuyến đường bộ ven biển qua thành phố và cầu qua cửa Thuận An đang tập trung triển khai thi công đường dẫn đầu cầu phía phường Thuận An và phấn đấu thông xe vào dịp 30/4/2026; các chủ đầu tư đang đôn đốc các nhà thầu thi công gấp rút trong điều kiện thời tiết thuận lợi các tháng đầu năm: dự án đường vành đai 3 đang thực hiện điều chỉnh quy mô với đoạn tuyến phía bắc và triển khai thi công mặt bằng tại các phường Kim Long, Thuận Hóa, Thủy Xuân, Hương An; Dự án đường Nguyễn Hoàng khởi công tháng 1/2026 đang triển khai thi công mở rộng đường; công trình Trường phổ thông nội trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở tại xã A Lưới 3 và 4; các công trình đầu tư xây dựng hạ tầng để di dời, tái định cư (các khu tái định cư, nghĩa trang, chợ, trường học) phục vụ giải phóng mặt bằng Đường sắt tốc độ cao theo trục Bắc - Nam…
Bên cạnh đó, một số dự án lớn như cầu Cồn Hến, cầu qua phá Tam Giang và các dự án tạo quỹ đất tái định cư, bảo tồn Kinh thành Huế giai đoạn 2… cũng đang được triển khai các thủ tục đầu tư và thi công theo kế hoạch.
Nhìn chung, nguồn vốn ngân sách nhà nước tiếp tục ưu tiên cho các dự án chuyển tiếp quy mô lớn. Công tác chỉ đạo, điều hành được thực hiện quyết liệt, góp phần tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ. Đồng thời, nhiều dự án giai đoạn 2026-2030 đang hoàn thiện hồ sơ để sớm khởi công, tạo động lực phát triển hạ tầng đô thị và nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư trên địa bàn.
4. Thương mại, dịch vụ và giá cả
Tháng 4/2026 tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn thành phố tiếp tục ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực, các hoạt động thương mại, vận tải, dịch vụ và du lịch diễn ra sôi động góp phần thúc đẩy tiêu dùng và lưu thông hàng hóa. Chuỗi hoạt động trong khuôn khổ Festival Huế 2026 được tổ chức phong phú, đặc sắc, kết hợp các không gian văn hóa truyền thống và hoạt động vui chơi giải trí mang đậm bản sắc dân gian. Đặc biệt, trong dịp nghỉ lễ Giỗ Tổ Hùng Vương và kỳ nghỉ 30/4–01/5, lượng khách du lịch trong và ngoài nước đến Huế tăng cao, góp phần tích cực vào tăng trưởng chung của thành phố.
4.1. Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Tháng 4 tiếp tục là cao điểm của các hoạt động lễ hội, nổi bật là chương trình Lễ hội Mùa Hạ gắn với kỳ nghỉ 30/4–01/5, thu hút lượng lớn du khách đến Huế tham quan, mua sắm. Cùng với đó, các chương trình kích cầu, khuyến mãi của hệ thống phân phối tiếp tục phát huy hiệu quả, góp phần thúc đẩy sức mua trên thị trường. Dự ướ tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 4 tăng 17,5% so với cùng kỳ.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 4/2026 ước đạt 6.217 tỷ đồng, tăng 2,6% so với tháng trước và tăng 17,5% so với cùng kỳ. Chia theo ngành kinh tế: Bán lẻ hàng hóa ước đạt 4.438 tỷ đồng, chiếm 71,4% trong tổng số, tăng 1,6% so với tháng trước và tăng 15,4% so với cùng kỳ. Nguyên nhân tăng so với tháng trước do tháng 4/2026 là tháng diễn ra nhiều lễ hội lớn, do đó nhu cầu mua sắm trong dịp lễ tăng và tháng 4 nhu cầu xây dựng tiếp tục tăng làm cho nhóm hàng này cũng tăng mạnh so với tháng trước. Doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống tháng 4 ước đạt 1.297 tỷ đồng, chiếm 20,9%, tăng 6,9% so với tháng trước và tăng 23,7% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ lữ hành đạt 33 tỷ đồng, chiếm 0,5%, tương ứng tăng 3,1% và tăng 23,0%; doanh thu dịch vụ khác đạt 449 tỷ đồng, chiếm 7,2%, tăng 0,9% và tăng 21,0%.
Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng bốn tháng đầu năm 2026 đạt 24.520 tỷ đồng, tăng 17,8% so với cùng kỳ, trong đó doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 17.506 tỷ đồng, chiếm 71,4% trong tổng số và tăng 15,4% so với cùng kỳ; dịch vụ lưu trú và ăn uống đạt 5.044 tỷ đồng, chiếm 20,6% và tăng 24,0%; dịch vụ lữ hành đạt 141 tỷ đồng, chiếm 0,6% và tăng 18,4%; dịch vụ khác đạt 1.829 tỷ đồng, chiếm 7,5% và tăng 24,5%.
4.2. Vận tải hành khách và hàng hóa
Hoạt động vận tải trên địa bàn thành phố Huế trong tháng 4/2026 diễn ra sôi động, với việc tăng cường phương tiện phục vụ dịp lễ 30/4–01/5 và khởi động du lịch thuyền điện trên sông Ngự Hà nhằm khôi phục giao thông đường thủy và tạo điểm nhấn du lịch. Nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hóa gia tăng trong mùa cao điểm du lịch đã thúc đẩy hoạt động vận tải tăng khá. Tuy nhiên với giá nhiên liệu tăng làm chi phí vận hành của các đơn vị vận tải gia tăng, tạo áp lực nhất định lên hoạt động kinh doanh.
Dự ước tháng 4/2026 hành khách vận chuyển đạt 4,3 triệu hành khách, tăng 3,7% so với tháng trước và tăng 20,5% so với cùng kỳ; hành khách luân chuyển đạt 209,3 triệu hành khách.km, tăng 3,3% so với tháng trước và tăng 21,0% so với cùng kỳ. Tính chung bốn tháng đầu năm 2026, vận tải hành khách ước đạt 16,6 triệu hành khách, tăng 20,3% so với cùng kỳ và luân chuyển ước đạt 812,9 triệu hành khách.km, tăng 20,6%.
Dự ước hàng hóa vận chuyển tháng 4/2026 đạt 2,4 triệu tấn, tăng 1,2% so với tháng trước và tăng 15,1% so với cùng kỳ; hàng hóa luân chuyển đạt 196,9 triệu tấn.km, tăng 1,6% so với tháng trước và tăng 15,2% so với cùng kỳ. Tính chung bốn tháng đầu năm 2026, vận tải hàng hóa ước đạt 9,3 triệu tấn tăng 15,7% so với cùng kỳ và luân chuyển ước đạt 777,8 triệu tấn.km, tăng 15,3%.
Dự ước doanh thu vận tải, kho bãi và bưu chính chuyển phát tháng 4/2026 đạt 602,1 tỷ đồng, tăng 2,2% so với tháng trước và tăng 19,7% so với cùng kỳ. Đưa doanh thu vận tải, bốc xếp bốn tháng đầu năm 2026 ước đạt 2.355,7 tỷ đồng, tăng 20,1% so cùng kỳ. Chia theo loại hình dịch vụ: doanh thu vận tải hành khách ước đạt 515,5 tỷ đồng, tăng 21,6%; vận tải hàng hóa ước đạt 1.606,8 tỷ đồng, tăng 17,1%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 233,4 tỷ đồng, tăng 41,3%. Trong đó doanh thu vận tải bao gồm: đường bộ đạt 2.120,1 tỷ đồng, tăng 18,2%; đường sông đạt 2,2 tỷ đồng, tăng 24,6%.
4.3. Lượt khách các cơ sở lưu trú phục vụ và du lịch lữ hành
Tháng 4, hoạt động du lịch trên địa bàn tiếp tục diễn ra sôi động nhờ hiệu ứng lan tỏa từ mùa cao điểm Tết Nguyên đán, cùng chuỗi sự kiện chào mừng dịp lễ 30/4–01/5, Lễ hội Mùa Hạ và Tuần lễ Festival Nghệ thuật Quốc tế Huế 2026. Các hoạt động kích cầu du lịch được tổ chức đồng bộ, hiệu quả, các lĩnh vực lưu trú, ăn uống, lữ hành và dịch vụ hỗ trợ du lịch có sự phối hợp chặt chẽ, chủ động nâng cao chất lượng sản phẩm và đa dạng hóa trải nghiệm nhằm thu hút và giữ chân du khách, qua đó thúc đẩy lượt khách lưu trú tăng lên.
Dự ước lượt khách do cơ sở lưu trú phục vụ tháng 4/2026 đạt 263,7 nghìn lượt khách, tăng 1,0% so với tháng trước và tăng 20,5% so với cùng kỳ. Trong đó, lượt khách ngủ qua đêm tháng 4/2026 ước đạt 225,7 nghìn lượt khách, tăng 1,1% so với tháng trước và tăng 23,2% so với cùng kỳ; lượt khách trong ngày đạt 38,0 nghìn lượt khách, tăng 0,8% so với tháng trước và tăng 6,4% so với cùng kỳ. Đưa lượt khách do các cơ sở lưu trú phục vụ bốn tháng đầu năm 2026 đạt 991,2 nghìn lượt, tăng 20,2% so với cùng kỳ. Trong đó, lượt khách ngủ qua đêm bốn tháng đầu năm đạt 840,6 nghìn lượt, tăng 22,7% so cùng kỳ; lượt khách trong ngày đạt 150,6 nghìn lượt, tăng 7,8% so với cùng kỳ. Trong lượt khách ngủ qua đêm, khách quốc tế 379,3 nghìn lượt, tăng 24,4%; khách trong nước 461,3 nghìn lượt, tăng 21,3% so với cùng kỳ.
Ngày khách dự ước tháng 4/2026 đạt 383,9 nghìn ngày, tăng 1,0% so với tháng trước và tăng 26,0% so với cùng kỳ. Trong đó: Ngày khách quốc tế đạt 187,4 nghìn ngày, giảm 1,3% so với tháng trước và tăng 45,1% so với cùng kỳ; ngày khách trong nước đạt 196,4 nghìn ngày, tăng 3,2% so với tháng trước và tăng 11,9% so với cùng kỳ. Đưa ngày khách dự ước bốn tháng đầu năm đạt 1.428,2 nghìn ngày, tăng 24,7% so với cùng kỳ. Trong đó: Ngày khách quốc tế đạt 678,6 nghìn ngày, tăng 28,0%; ngày khách trong nước đạt 749,6 nghìn ngày, tăng 21,8%.
Lượt khách phục vụ của các cơ sở lữ hành thực hiện tháng 4/2026 ước đạt 22,8 nghìn lượt, tăng 5,6% với tháng trước và tăng 25,1% so với cùng kỳ; đưa lượt khách bốn tháng đầu năm ước đạt 85,9 nghìn lượt, tăng 20,0 so với cùng kỳ. Ngày khách theo tour ước thực hiện tháng 4/2026 là 47,5 nghìn ngày, tăng 5,8% so với tháng trước và tăng 25,1% so với cùng kỳ. Đưa ngày khách theo tour bốn tháng đầu năm ước đạt 177,7 nghìn ngày khách, tăng 20,0% so với cùng kỳ.
4.4. Giá cả
- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
Chỉ số giá tiêu dùng chung toàn thành phố tháng 4/2026 tăng 0,50% so với tháng trước. Nguyên nhân tăng chủ yếu là do tác động của nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng khi giá gas và điện sinh hoạt tăng mạnh. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 8 nhóm hàng tăng giá: Nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 2,73%; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,76%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,54%; Đồ uống và thuốc lá tăng 0,43%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,32%; May mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,28%; Thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,06%; Bưu chính viễn thông tăng 0,05%. Có 3 nhóm hàng giảm giá: Giao thông giảm 0,67%; Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,18%; Giáo dục giảm 0,01%.
Chỉ số giá tiêu dùng chung toàn thành phố tháng 4/2026 tăng 4,14% so với tháng 12 năm trước và tăng 6,34% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân bốn tháng đầu năm 2026 tăng 4,94% so với bình quân cùng kỳ năm trước, nguyên nhân chủ yếu là do một số nhóm hàng hóa và dịch vụ tăng như: nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 8,74%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 5,95%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 5,54%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,28%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 3,89%; giáo dục tăng 3,77%.
- Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ
Chỉ số giá vàng tháng 4/2026 giảm 7,22% so với tháng trước, tăng 10,70% so với tháng 12 năm trước và tăng 53,69% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 4/2026 tăng 0,17% so với tháng trước, giảm 0,18% so với tháng 12 năm trước và tăng 1,39% so với cùng kỳ năm trước.
5. Tài chính, ngân hàng
2.1. Tài chính
Tổng thu ngân sách trên địa bàn bốn tháng đầu năm 2026 ước đạt 5.055 tỷ đồng, bằng 31,6% dự toán năm, cho thấy tiến độ thu cơ bản đảm bảo yêu cầu, bám sát kịch bản điều hành ngân sách ngay từ đầu năm. Trong đó, thu nội địa đạt 4.512,8 tỷ đồng, bằng 31,1% dự toán, khẳng định vai trò trụ cột của khu vực kinh tế trong nước trong việc tạo nguồn thu bền vững cho ngân sách; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 535,7 tỷ đồng, bằng 36,9% dự toán.
Trong thu nội địa: thu doanh nghiệp Nhà nước ước đạt 162 tỷ đồng, bằng 31,8% dự toán; thu doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 1.665 tỷ đồng, bằng 36,3% dự toán; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 853 tỷ đồng, bằng 37,1% dự toán; thuế thu nhập cá nhân 272 tỷ đồng, bằng 36,3% dự toán; thuế bảo vệ môi trường 15 tỷ đồng, bằng 33,0% dự toán.
Song song với nhiệm vụ thu, việc điều hành chi ngân sách địa phương cũng được triển khai chặt chẽ với tổng chi ước đạt 4.478,9 tỷ đồng, tương đương 24,2% dự toán năm. Trong cơ cấu chi, chi thường xuyên chiếm tỷ trọng chủ đạo với 3.331,0 tỷ đồng, đạt 28,7% dự toán nhằm đảm bảo vận hành bộ máy và các hoạt động an sinh xã hội. Đối với chi đầu tư phát triển, đã giải ngân được 809,2 tỷ đồng, đạt 17,6% dự toán, còn chậm so với yêu cầu thúc đẩy tăng trưởng.
2.2. Ngân hàng
Hoạt động tín dụng trên địa bàn thành phố Huế được điều hành bám sát định hướng của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước, đặc biệt là việc triển khai Chương trình tín dụng 140 nghìn tỷ đồng theo Nghị quyết 33/NQ-CP và các cơ chế hỗ trợ như cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giữ nguyên nhóm nợ theo quy định. Các chính sách này đã góp phần tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và người dân, đồng thời hỗ trợ phục hồi thị trường, nhất là lĩnh vực bất động sản, khu vực có tác động lan tỏa lớn đến nền kinh tế.
Tổng nguồn vốn huy động đến cuối tháng 4/2026 ước đạt 92,5 nghìn tỷ đồng, tăng 2,89% so với cuối năm 2025; tổng dư nợ tín dụng đạt 98,7 nghìn tỷ đồng, tăng 3,02%. Mức tăng trưởng này khá khiêm tốn, phản ánh nhu cầu hấp thụ vốn của nền kinh tế chưa thực sự mạnh, đồng thời cho thấy các tổ chức tín dụng vẫn duy trì xu hướng thận trọng trong cấp tín dụng nhằm kiểm soát rủi ro.
Các TCTD trên địa bàn thành phố Huế tiếp tục chú trọng cho vay các lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ. Tính đến cuối tháng 04/2026: Tín dụng đối với nông nghiệp nông thôn ước đạt 19.000 tỷ đồng, tăng 5,76% so với cuối năm 2025; Tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa ước đạt 18.000 tỷ đồng, tăng 4,46% so với cuối năm 2025; Tín dụng đối với xuất khẩu ước đạt 6.000 tỷ đồng, tăng 4,11% so với cuối năm 2025; Cho vay công nghiệp hỗ trợ ước đạt 7.200 tỷ đồng, tăng 358,89%% so với cuối năm 2025. Trên địa bàn chưa phát sinh có dư nợ cho vay doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao.
6. Các vấn đề xã hội
6.1. Giáo dục - Đào tạo
Trong tháng 4 năm 2026, lĩnh vực giáo dục - đào tạo trên địa bàn Huế tiếp tục được duy trì nề nếp, đúng kế hoạch. Đây là thời điểm các cơ sở giáo dục tập trung hoàn thành chương trình giảng dạy, đồng thời tăng cường ôn tập, củng cố kiến thức cho học sinh, chuẩn bị cho các kỳ kiểm tra cuối kỳ và kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông sắp tới.
Ngành Giáo dục và Đào tạo triển khai nhiều hoạt động thi đua, hội thi nhằm nâng cao chất lượng dạy và học: cuộc thi “Học sinh, sinh viên với ý tưởng khởi nghiệp” lần thứ VIII dự án “Cháo An Vị” của nhóm sinh viên Trường Đại học Y - Dược, Đại học Huế xuất sắc đạt giải Ba. Hội thao Giáo dục quốc phòng và an ninh học sinh THPT toàn quốc lần thứ IV năm 2026 tại TP. Hồ Chí Minh. Đoàn Huế gồm 18 vận động viên (6 nữ, 12 nam), được tuyển chọn từ những học sinh đạt thành tích cao tại hội thao cấp thành phố năm 2026.
Chất lượng giáo dục tiếp tục được duy trì. Theo kết quả kỳ thi chọn đội tuyển quốc gia dự thi Olympic quốc tế và khu vực năm 2026, học sinh trường chuyên Quốc Học được chọn vào đội tuyển Olympic Tin học châu Á - Thái Bình Dương, khẳng định vị thế của giáo dục Huế trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi.
Ngày 18/4, Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế tổ chức “Ngày hội việc làm năm 2026” với sự tham gia của 21 đơn vị tuyển dụng, 717 vị trí việc làm và 156 vị trí thực tập. Sự kiện thu hút hơn 1.000 lượt sinh viên tham gia phỏng vấn, chủ yếu là sinh viên năm thứ 3 và thứ 4. Hoạt động góp phần tăng cường kết nối giữa cơ sở đào tạo và thị trường lao động.
6.2. Tình hình y tế
Tháng 4/2026, trên địa bàn có 13 ca sốt xuất huyết, giảm 10 ca so cùng kỳ; có 86 ca mắc tay chân miệng, tăng 55 ca so với cùng kỳ; 2 ca mắc liên cầu lợn, tăng 2 ca so với cùng kỳ. Bốn tháng đầu năm, trên địa bàn có 57 ca sốt xuất huyết, giảm 42 ca so cùng kỳ; có 133 ca mắc tay chân miệng, tăng 61 ca so với cùng kỳ; 3 ca liên cầu lợn, tăng 3 ca so với cùng kỳ.
Tháng 3/2026, trên địa bàn đã phát hiện 5 ca nhiễm mới HIV, giảm 3 ca so cùng kỳ; 2 ca chuyển qua AIDS, tăng 1 ca so với cùng kỳ; 1 ca tử vong, bằng cùng kỳ. Ba tháng đầu năm, trên địa bàn có 15 ca nhiễm mới HIV, giảm 13 ca so cùng kỳ; 3 ca chuyển qua AIDS, giảm 4 ca so với cùng kỳ; 1 ca tử vong, giảm 1 ca so cùng kỳ. Hiện tại, trên địa bàn có 604 bệnh nhân đang được quản lý và điều trị tại các cơ sở y tế, trong đó có 599 bệnh nhân điều trị ARV.
Tháng 4/2026, trên địa bàn xảy ra 2 vụ ngộ độc thực phẩm, tăng 2 vụ so cùng kỳ, làm 25 người bị ngộ độc, không có người chết. Bốn tháng đầu năm, trên địa bàn xảy ra 4 vụ ngộ độc thực phẩm, tăng 4 vụ so với cùng kỳ, làm 25 người bị ngộ độc và không có người chết.
6.3. Hoạt động văn hóa, thể thao
Tình hình văn hóa – thể thao trong tháng diễn ra sôi nổi, hưởng ứng mùa du lịch cao điểm và chuỗi hoạt động lễ hội truyền thống. Các hoạt động được tổ chức phong phú, đa dạng, vừa đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa, giải trí của người dân và du khách, vừa góp phần quảng bá hình ảnh địa phương.
Sáng 18/4, Lễ hội Điện Huệ Nam chính thức khai hội, mở màn Festival mùa Hạ - Festival Huế 2026. Lễ hội Điện Huệ Nam được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2025. Lễ hội không chỉ tôn vinh nét đẹp tín ngưỡng thờ Mẫu mà còn góp phần lan tỏa giá trị văn hóa, hướng đến không gian lễ hội văn minh, giàu bản sắc.
Tổ chức thành công nhiều giải thể thao cấp quốc gia và địa phương, nổi bật gồm: Các chặng đua tại thành phố Huế trong khuôn khổ Giải đua xe đạp toàn quốc tranh cúp Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ 38 năm 2026, góp phần tạo không khí sôi động và quảng bá hình ảnh thành phố. Giải bóng bàn đồng đội CLB Nguyễn Trãi mở rộng lần I. Giải vô địch đá cầu xuất sắc Quốc Gia 2026, giải đấu lần đầu được bộ môn đá cầu Việt Nam tổ chức, thành phố Huế là đơn vị đầu tiên đăng cai. Giải bơi vô địch quốc gia, giải Lặn vô địch quốc gia, quy tụ nhiều VĐV xuất sắc trên toàn quốc.
Các sự kiện thể thao quy mô lớn như VnExpress Marathon Huế 2026, Kun Marathon 2026 đã góp phần làm phong phú thêm nội dung của Festival Huế, đồng thời tạo động lực thúc đẩy phát triển du lịch, dịch vụ và kinh tế địa phương. Việc kết hợp giữa thể thao – văn hóa – giáo dục môi trường thể hiện xu hướng tổ chức sự kiện hiện đại, bền vững và có sức lan tỏa cao.
Đến nay, 100% xã, phường đã triển khai tổ chức Đại hội cấp cơ sở, đảm bảo tiến độ, an toàn, tiết kiệm và thu hút đông đảo người dân tham gia. Ở cấp thành phố, đã tổ chức thi đấu 14/18 môn; công tác chuẩn bị Lễ khai mạc dự kiến tổ chức vào tháng 9/2026 đang được triển khai tích cực
6.4. Tai nạn giao thông
Theo báo cáo của Ban ATGT thành phố, từ 15/03/2026 đến 14/04/2026, trên địa bàn đã xảy ra 17 vụ tai nạn giao thông, giảm 4 vụ so với cùng kỳ; làm 10 người chết, tăng 5 người so với cùng kỳ; làm bị thương 9 người, giảm 6 người so với cùng kỳ. Bốn tháng đầu năm, trên địa bàn xảy ra 56 vụ tai nạn giao thông, giảm 27 vụ so với cùng kỳ; làm chết 40 người, tăng 7 người và làm bị thương 31 người, giảm 30 người so với cùng kỳ.
6.5. Tình hình cháy nổ và bảo vệ môi trường
Trong tháng 4/2026 trên địa bàn xảy ra 4 vụ cháy; tăng 3 vụ so cùng kỳ, tăng 2 vụ so với tháng trước. Các vụ cháy xảy ra tại nhà dân và xe tải; nguyên nhân do sự cố hệ thống điện; thiệt hại ước khoảng 80 triệu đồng, làm 1 người chết. Bốn tháng đầu năm, trên địa bàn xảy ra 8 vụ cháy, tăng 5 vụ so với cùng kỳ, làm 1 người chết, tổng giá trị thiệt hại 85,4 triệu đồng.
Trong tháng 4/2026 trên địa bàn xảy ra 3 vụ vi phạm môi trường, giảm 8 vụ so với cùng kỳ, tăng 1 vụ so với tháng trước. Các hình thức vi phạm: 1 vụ xả nước thải vượt quy chuẩn kỹ thuật và 2 vụ xả khí thải vượt quy chuẩn kỹ thuật; tiến hành xử lý 3 vụ với số tiền xử phạt 469,2 triệu đồng. Bốn tháng đầu năm, trên địa bàn xảy ra 19 vụ, giảm 34 vụso với cùng kỳ; tiến hành xử lý 21 vụ với số tiền xử phạt 2384,1 triệu đồng.
6.6. Thiệt hại do thiên tai
Tháng 4/2026 không xảy ra thiên tai, giảm 2 vụ so với cùng kỳ, bằng tháng trước. Bốn tháng đầu năm, trên địa bàn không xảy ra thiên tai, giảm 2 vụ so với cùng kỳ./. 1. Sản hống kê thành phố Huế
Tin khác