0234 3828125 | Tphue@nso.gov.vn

Kinh Tế xã hội tháng 5 và 5 tháng đầu năm trên địa bàn thành phố Huế

02/06/2026 08:47

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Tháng 5/2026, hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn thành phố Huế được duy trì ổn định và đạt kết quả tích cực. Điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi cho sản xuất; dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi được kiểm soát tốt; công tác chỉ đạo, điều hành của chính quyền địa phương và ngành chuyên môn được triển khai kịp thời, hiệu quả. Sản xuất cây hằng năm vụ Xuân cơ bản đã hoàn thành, năng suất, sản lượng các loại cây trồng đạt cao hơn so với vụ sản xuất năm 2025, sản lượng lúa vụ Đông Xuân ước tăng 6,3%. Chăn nuôi duy trì đà phục hồi tích cực, giá bán nhiều sản phẩm chăn nuôi ở mức cao, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tái đàn và mở rộng sản xuất. Sản xuất lâm nghiệp tăng trưởng khá, trong đó sản lượng gỗ khai thác tăng 7,5% nhờ nhu cầu thu mua gỗ nguyên liệu giấy của các nhà máy chế biến dăm gỗ, viên nén và bột giấy trên địa bàn tăng cao. Hoạt động nuôi trồng và khai thác thủy sản tiếp tục được duy trì, sản lượng thủy sản ước tăng 4,2%.

1.1. Nông nghiệp

Trồng trọt

Tính đến ngày 20/5/2026, toàn bộ diện tích lúa vụ Đông Xuân trên địa bàn thành phố đã thu hoạch xong. Diện tích gieo cấy lúa vụ Đông Xuân năm 2026 trên toàn thành phố đạt 27.587 ha, giảm 1,1% so với vụ Đông Xuân năm 2025; năng suất bình quân ước đạt 67,03 tạ/ha, tăng 7,5% so với cùng kỳ; sản lượng ước đạt 184.916 tấn, tăng 6,3%. Hiện nay người dân đang khẩn trương làm đất và triển khai gieo cấy vụ Hè Thu theo đúng khung thời vụ. 

Thời tiết trong tháng thuận lợi cho sinh trưởng và phát triển của các loại cây trồng, đặc biệt là rau màu và các sản phẩm nông nghiệp đang vào kỳ thu hoạch. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của thời tiết chuyển mùa và nắng nóng cục bộ, một số diện tích cây sắn xuất hiện bệnh khảm lá, cây hành bị dòi đục thân gây hại; đồng thời các loại cây trồng khác cũng tiềm ẩn nguy cơ phát sinh sâu bệnh. Lũy kế đến tháng 5, diện tích gieo trồng một số cây hằng năm khác ước đạt: Ngô: 1.004 ha, tăng 10,6% so với cùng kỳ năm 2025; khoai lang: 397 ha, tăng 4,7%; lạc: 1.775 ha, giảm 13,3%; rau các loại: 2.975 ha, tăng 1,2%; đậu các loại: 517 ha, tăng 0,8%. 

Nhìn chung, hoạt động sản xuất trồng trọt trên địa bàn được triển khai đúng kế hoạch, bảo đảm khung thời vụ đề ra. Nhờ điều kiện thời tiết thuận lợi cùng với việc tăng cường chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh kịp thời nên năng suất, sản lượng nhiều loại cây trồng đạt khá và tăng so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, diện tích gieo trồng một số cây trồng có xu hướng giảm do hiệu quả kinh tế chưa cao và nhu cầu chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Đối với cây lúa, từ cuối năm 2025 đến nay đã có 286,6 ha đất trồng lúa được chuyển đổi sang các mục đích khác, trong đó: 224,5 ha chuyển sang trồng cây hằng năm như rau màu, sen; 5 ha chuyển sang trồng cây lâu năm; 57,1 ha chuyển sang nuôi trồng thủy sản. Ngoài ra, một phần diện tích do hiệu quả canh tác thấp nên người dân không tiếp tục sản xuất và để đất hoang hóa. Đối với cây lạc, do khả năng chịu hạn kém, năng suất và hiệu quả kinh tế thấp nên người dân đã chuyển sang sản xuất các loại cây trồng khác có hiệu quả kinh tế cao hơn.

1.2. Chăn nuôi

Trong tháng 5/2026, hoạt động chăn nuôi trên địa bàn tiếp tục duy trì ổn định, dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm cơ bản được kiểm soát tốt. Giá bán các sản phẩm chăn nuôi như bò hơi, lợn hơi và gia cầm duy trì ở mức cao so với cùng kỳ năm trước, tạo điều kiện thuận lợi để người chăn nuôi tái đàn và mở rộng quy mô sản xuất. Dự ước thời điểm 31/5/2026, tổng đàn gia súc, gia cầm có xu hướng tăng: đàn trâu: 15.054 con, tăng 0,2% so với cùng kỳ năm 2025; đàn bò: 30.732 con, tăng 4,1%; đàn lợn (không tính lợn sữa) 126.560 con, tăng 1,0%; đàn gia cầm: 5.100 nghìn con, tăng 1,8%.

Công tác phòng, chống dịch bệnh cho đàn vật nuôi tiếp tục được các địa phương và ngành chuyên môn quan tâm triển khai, góp phần hạn chế nguy cơ phát sinh và lây lan dịch bệnh, bảo đảm an toàn cho hoạt động chăn nuôi trên địa bàn. Tính đến 20/5/2026, toàn thành phố đã tiêm được 19.804 liều vắc xin Tụ huyết trùng trâu bò (đạt 60% kế hoạch), 20.924 liều vắc xin tam liên lợn (86%), 4.800 liều E.coli (83%), 400.200 liều cúm gia cầm (83%), 327.800 liều dịch tả vịt (71%), 264.855 liều Newcastle (81%), 186.650 liều Gumboro (91%), 90.050 liều đậu gà (82%), 27.390 liều THT gia cầm (86%) và 31.895 liều LMLM (52%), dại 55.747 (94%).

2. Lâm nghiệp

Hoạt động sản xuất lâm nghiệp trong tháng tiếp tục ổn định. Đề án phát triển rừng trồng sản xuất gỗ lớn giai đoạn 2026-2030 tại thành phố Huế đang được đẩy mạnh triển khai, hiện toàn thành phố có hơn 14.000 ha rừng trồng gỗ lớn và trên 15.000 ha rừng đạt chứng chỉ quản lý bền vững FSC.  

Diện tích rừng trồng mới tập trung trong tháng ước đạt 794 ha, tăng 2,5% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế đến cuối tháng đạt 3.755 ha, tăng 1,1%. Diện tích rừng trồng trong kỳ tăng và ổn định là nhờ vào các giải pháp phát triển đồng bộ, chuyển đổi rừng trồng gỗ nhỏ sang rừng trồng sản xuất gỗ lớn, nhằm kéo dài chu kỳ sản xuất góp phần nâng cao chất lượng rừng trồng và gia tăng giá trị kinh tế từ rừng.

Sản lượng gỗ khai thác trong tháng ước đạt 86.680 m3, tăng 7,5% so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế năm tháng đạt 337.465 m3, tăng 7,3%. Sản lượng gỗ khai thác tăng do nhu cầu thu mua gỗ nguyên liệu giấy của các nhà máy chế biến dăm gỗ, viên nén và bột giấy trên địa bàn thành phố tiếp tục mở rộng; ngoài nguồn cung trong thành phố còn thu mua thêm từ các địa phương lân cận.

Thiệt hại rừng: Trong tháng, trên địa bàn xảy ra 01 vụ cháy rừng trồng sản xuất tại xã Khe Tre với diện tích thiệt hại 0,46 ha, nguyên nhân do người dân đốt xử lý thực bì. Đồng thời phát sinh 11 vụ phá rừng với diện tích thiệt hại 1,357 ha, chủ yếu là rừng tự nhiên bị lấn chiếm để sản xuất. Lũy kế từ đầu năm đến nay xảy ra 28 vụ phá rừng với diện tích thiệt hại 3,786 ha, tăng 19 vụ và tăng 2,586 ha so với cùng kỳ năm trước. Trước tình trạng trên, cần tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm và đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao ý thức người dân trong bảo vệ rừng.

3. Thủy sản

Hoạt động nuôi trồng và khai thác thủy sản trong tháng được duy trì ổn định, nhiều diện tích nuôi trồng thủy sản đã cho thu hoạch trong tháng. Ước tính sản lượng thủy sản trong tháng đạt 8.224 tấn, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế sản lượng thuỷ sản năm tháng đạt 24.766 tấn, tăng 4,1% so với cùng kỳ, trong đó: sản lượng thủy sản khai thác đạt 19.430 tấn, tăng 4,0%; sản lượng nuôi trồng thủy sản đạt 5.336 tấn, tăng 4,5%.

Nuôi trồng thủy sản: hoạt động nuôi trồng thủy sản trên địa bàn thành phố được kiểm soát chặt chẽ, công tác phòng chống dịch bệnh được chú trọng nhằm ngăn chặn dịch bệnh lây lan, hướng tới nuôi trồng an toàn và bền vững. Nhờ hiệu quả của mô hình nuôi xen ghép tôm-cua-cá, một số nơi ở các xã Phú Hồ, Phú Vang, Phú Vinh, người dân triển khai nuôi vượt lũ tại các vùng cao triều và hạ triều, thả nuôi liên tục quanh năm, một số diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng được tái sản xuất làm tăng sản lượng và nâng cao thu nhập từ nuôi trồng thủy sản. Tôm thẻ chân trắng là loại thủy sản có giá trị kinh tế cao được nuôi trồng chủ đạo ở một số xã phường như xã Quảng Điền, phường Phong Phú, Phong Quảng, Thuận An. Diện tích nuôi trồng thủy sản thâm canh của tôm sú và tôm thẻ chân trắng trong tháng ước đạt 60 ha, tăng 4,3% so với cùng kỳ năm 2025. 

Sản lượng nuôi trồng thủy sản trong tháng đạt 2.211 tấn, tăng 4,3% so với cùng kỳ năm 2025, trong đó: sản lượng cá với 1.677 tấn, tăng 4,2%; tôm 463 tấn, tăng 4,8%; thủy sản khác 71 tấn, tăng 4,4%. Lũy kế sản lượng nuôi trồng thủy sản năm tháng ước đạt 5.336 tấn, tăng 4,5% so với cùng kỳ năm 2025.

Khai thác thủy sản: hoạt động khai thác thủy sản trong tháng duy trì ổn định nhờ điều kiện thời tiết thuận lợi. Sản lượng khai thác thủy sản chủ yếu là khai thác biển, thời điểm này là mùa vụ khai thác chính, sản lượng thủy sản biển dồi dào hơn nên các tàu thuyền tích cực vươn khơi bám biển.

Sản lượng thủy sản khai thác trong tháng đạt 6.013 tấn, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm 2025; trong đó sản lượng khai thác biển trong tháng ước đạt 5.660 tấn, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm 2025 với sản lượng cá khai thác biển 4.943 tấn, tăng 4,2%; sản lượng tôm khai thác biển 160 tấn, tăng 3,9%; sản lượng thủy sản khác khai thác biển 557 tấn, tăng 4,1%. Lũy kế sản lượng thủy sản khai thác biển trong năm tháng đầu năm ước đạt 18.101 tấn, tăng 4,0% so với cùng kỳ năm 2025.

2. Sản xuất công nghiệp

Tình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn thành phố Huế trong tháng 5 năm 2026 tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực, chủ yếu nhờ các năng lực sản xuất mới được bổ sung từ một số dự án như: Nhà máy sản xuất tấm thạch anh của Công ty TNHH America Quartz Technology, Nhà máy sản xuất mũ bảo hiểm Eon Industry Việt Nam (giai đoạn 1), và giai đoạn 5 của Nhà máy sản xuất đồ chơi Billion Max Việt Nam. Bên cạnh đó, hoạt động ổn định của các ngành công nghiệp chủ lực như sản xuất ô tô, sản xuất đồ uống… cũng góp phần quan trọng vào kết quả tăng trưởng chung. Ước tính, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 5 năm 2026 tăng 8,3% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm tháng đầu năm 2026, chỉ số IIP tăng 10,9% so với cùng kỳ năm 2025.

Chỉ số IIP tháng 5 năm 2026 tăng 8,3% so với cùng kỳ, trong đó: ngành công nghiệp khai khoáng giảm 18,8%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,8%; sản xuất và phân phối điện tăng 0,6%; cấp nước và thu gom rác thải tăng 1,5%. Tính chung năm tháng đầu năm 2026 chỉ số IIP tăng 10,9% so với năm trước, trong đó: ngành công nghiệp khai khoáng tăng 2,1%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13,1%; cấp nước và thu gom rác thải tăng 6,3%. Riêng sản xuất và phân phối điện giảm 4,3%.

Các ngành công nghiệp cấp 4 trong năm tháng đầu năm 2026 có chỉ số sản xuất tăng so với cùng kỳ: Khai thác quặng kim loại (+12,5%); sản xuất đồ uống có cồn (+28,7%); sản xuất sợi (+8,9%); may trang phục (+5,0%); sản xuất sản phẩm khác từ cao su (+14,4%); sản xuất sản phẩm từ plastic (+14,7%); sản xuất linh kiện điện tử (+6 lần); sản xuất đồ chơi (+29,4%); sản xuất khác chưa được phân vào đâu (+4 lần); sản xuất ô tô các loại (+26,9%)...

Bên cạnh những dấu hiệu tích cực, hiện nay một số ngành sản xuất công nghiệp vẫn đang gặp không ít khó khăn, một số ngành công nghiệp cấp 4 trong năm tháng đầu năm 2026 có chỉ số sản xuất giảm so với cùng kỳ: Sản xuất vật liệu xây dựng từ đất sét (-9,6%); sản xuất sản phẩm từ chất khoáng phi kim loại khác chưa được phân vào đâu (-35,9%); sản xuất giường, tủ, bàn ghế gỗ (-12,0%); sản xuất, truyền tải và phân phối điện (-4,3%)...

Các sản phẩm công nghiệp ước năm tháng đầu năm 2026 tăng so với cùng kỳ năm trước: Quặng inmenit và tinh quặng inmenit 9,7 nghìn tấn (+12,5%); tôm đông lạnh 1,6 nghìn tấn (+22,1%); bánh làm từ bột khác bảo quản được 1,8 nghìn tấn (+31,4%); đồ uống có cồn 139,6 triệu lít (+24,1%); sợi 45,8 nghìn tấn (+8,9%); quần áo lót cho người lớn không dệt kim hoặc đan móc 155,7 triệu cái (+5,0%); găng tay, găng hở ngón và găng bao tay bằng cao su lưu hoá 6,6 nghìn tấn (+14,4%); ô tô các loại 1.830 chiếc (+6,6%); điện thương phẩm 972,1 triệu kwh (+8,9%)...

Các sản phẩm công nghiệp năm tháng đầu năm 2026 giảm so với cùng kỳ: Sản phẩm in 90,0 triệu trang (-5,6%); cao su tổng hợp và các chất thay thế cao su dẫn xuất từ dầu, ở dạng nguyên sinh hoặc tấm lá hoặc dải 2,7 nghìn tấn (-4,0%); tấm lát đường và vật liệu lát, gạch ốp tường 3,8 triệu m2 (-9,6%); điện sản xuất 665,9 triệu Kwh (-8,9%)…

Chỉ số sử dụng lao động tháng 5/2026 ước tăng 0,7% so với tháng trước và tăng 8,8% so với cùng kỳ. Tính chung chỉ số sử dụng lao động năm tháng đầu năm 2026 tăng 8,5% so với cùng kỳ, trong đó tập trung vào một số ngành: Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (+24,1%); sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic (+19,5%); sản xuất xe có động cơ (+21,6%); công nghiệp chế biến, chế tạo khác (+1,2 lần). Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số sử dụng lao động giảm đó là: Sản xuất chế biến thực phẩm (-10,3%); sản xuất trang phục (-8,9%); sản xuất da và các sản phẩm có liên quan (-2,5%); sản xuất kim loại (-36,7%); sản xuất giường, tủ, bàn, ghế (-7,3%)…

3. Vốn đầu tư thuộc nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn thành phố

Tình hình thực hiện vốn ngân sách do địa phương quản lý năm tháng đầu năm 2026 tiếp tục chuyển biến tích cực, với tiến độ thi công các công trình trọng điểm được tăng tốc. Các đơn vị chủ động phối hợp, đẩy nhanh triển khai các hạng mục chuyển tiếp, qua đó góp phần nâng cao khối lượng thực hiện vốn đầu tư. Công tác chỉ đạo, điều hành được triển khai quyết liệt ngay từ đầu năm, bảo đảm các dự án hạ tầng chiến lược bám sát quy hoạch và yêu cầu kỹ thuật, qua đó góp phần đưa vốn ngân sách thực hiện trong tháng 5 ước tăng 11,3% so với cùng kỳ.

Nguồn vốn ngân sách nhà nước đầu tư trên địa bàn thành phố do địa phương quản lý thực hiện trong tháng 5/2026 đạt 587,1 tỷ đồng, đạt 7,3% kế hoạch năm, tăng 31% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn NSNN cấp thành phố ước đạt 506,5 tỷ đồng, đạt 7,6% kế hoạch, tăng 33,7% so với cùng kỳ. Tính chung năm tháng đầu năm nguồn vốn ngân sách Nhà nước trên địa bàn ước đạt 2.043,2 tỷ đồng, đạt 25,4% kế hoạch năm, tăng 11,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn NSNN cấp thành phố năm tháng đầu năm ước đạt 1.725,5 tỷ đồng, đạt 25,7% kế hoạch năm, tăng 17,6% so với cùng kỳ năm trước. 

Nguồn vốn đầu tư công trong tháng 5/2026 tiếp tục được ưu tiên tập trung cho các công trình, dự án trọng điểm; đồng thời tăng cường đôn đốc, đẩy nhanh tiến độ thi công nhằm sớm hoàn thành và đưa vào sử dụng các dự án như: đường Nguyễn Hoàng, đường Vành đai 3, dự án Cải thiện môi trường nước thành phố Huế, các khu tái định cư và khu nghĩa trang phục vụ giải phóng mặt bằng Dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam...

Các chủ đầu tư và đơn vị thi công đang tranh thủ điều kiện thời tiết thuận lợi trong những tháng đầu năm để đẩy nhanh tiến độ thực hiện. Dự án đường Vành đai 3 hiện đang triển khai điều chỉnh quy mô đoạn tuyến phía Bắc, đồng thời tổ chức thi công tại các phường Kim Long, Thuận Hóa, Thủy Xuân và Hương An. Đối với hai công trình Trường phổ thông dân tộc nội trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở tại xã A Lưới 3 và A Lưới 4, các đơn vị thi công đang huy động nhân lực, tăng ca, đẩy nhanh tiến độ thực hiện đồng loạt các hạng mục như khối nhà hành chính, khối lớp học, nhà đa năng, khu nội trú và các công trình phụ trợ; phấn đấu hoàn thành vào ngày 30/7/2026.

Bên cạnh đó, nhiều dự án quy mô lớn khác như cầu Cồn Hến, cầu qua phá Tam Giang, các dự án tạo quỹ đất tái định cư, dự án đầu tư hoàn thiện kết cấu hạ tầng Khu kinh tế Chân Mây - Lăng Cô và dự án bảo tồn Kinh thành Huế giai đoạn 2 cũng đang được triển khai thủ tục đầu tư và thi công theo kế hoạch đề ra.

Đối với các dự án chậm tiến độ, UBND thành phố đã chỉ đạo các sở, ngành và địa phương tập trung phối hợp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc nhằm đẩy nhanh tiến độ thực hiện và sớm đưa công trình vào khai thác, sử dụng. Cụ thể, dự án đường Tố Hữu nối sân bay Phú Bài hiện vẫn triển khai chậm do gặp khó khăn trong công tác giải phóng mặt bằng và thiếu nguồn vật liệu xây dựng. Đối với dự án nâng cấp, mở rộng cầu Vỹ Dạ, cầu qua sông Như Ý và tuyến đường 100m nối khu A với khu B đô thị An Vân Dương thuộc Chương trình phát triển đô thị loại II, do nhà thầu thi công không bảo đảm tiến độ nên đã thực hiện chấm dứt hợp đồng để tổ chức đấu thầu lại, nhằm khắc phục tình trạng kéo dài ảnh hưởng đến đời sống người dân.

Nhìn chung, nguồn vốn ngân sách nhà nước tiếp tục được ưu tiên bố trí cho các dự án chuyển tiếp có quy mô lớn và các công trình trọng điểm. Công tác chỉ đạo, điều hành được triển khai quyết liệt, góp phần tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy tiến độ giải ngân và thi công các dự án. Đồng thời, nhiều dự án thuộc giai đoạn 2026-2030 đang được khẩn trương hoàn thiện hồ sơ, thủ tục đầu tư để sớm khởi công, tạo động lực phát triển hạ tầng đô thị và nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư trên địa bàn thành phố.

4. Thương mại, dịch vụ và giá cả

Tháng 5 năm 2026, tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn thành phố tiếp tục ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực. Hoạt động thương mại, dịch vụ diễn ra sôi động, góp phần thúc đẩy tiêu dùng và lưu thông hàng hóa. Nhiều lễ hội nằm trong chuỗi các hoạt động văn hóa tiêu biểu của Festival Huế 2026 được tổ chức phong phú, đặc sắc với các không gian văn hóa truyền thống cùng nhiều hoạt động vui chơi giải trí, biểu diễn nghệ thuật mang đậm bản sắc dân gian. Đặc biệt, trong dịp nghỉ lễ Giỗ Tổ Hùng Vương và kỳ nghỉ lễ 30/4 - 01/5, lượng khách du lịch trong và ngoài nước đến Huế tham quan, trải nghiệm và mua sắm tăng cao, góp phần tích cực vào tăng trưởng chung của thành phố.

Kết quả hoạt động thương mại, dịch vụ và vận tải trên địa bàn thành phố tháng 5 năm 2026 ước đạt như sau:

4.1. Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Tháng 5, hoạt động du lịch trên địa bàn thành phố tiếp tục sôi động nhờ chuỗi sự kiện đặc sắc thuộc khuôn khổ Festival Huế mùa Hạ 2026. Nhiều sự kiện văn hóa, du lịch tiêu biểu được tổ chức như: Tuần lễ Phật đản và Lễ hội Ẩm thực chay; Ngày hội làng Dương Nỗ; triển lãm “Ngày hội non sông”; Đại hội Thể dục thể thao thành phố; chương trình quảng bá “Lăng Cô - Vịnh đẹp thế giới”; Ngày hội Văn hóa, Thể thao và Du lịch các dân tộc miền núi... đã thu hút được lượng lớn khách du lịch đến Huế, kéo theo tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 5/2026 ước đạt 6.232 tỷ đồng, tăng 0,5% so với tháng trước và tăng 16,0% so với cùng kỳ. Chia theo ngành kinh tế: Bán lẻ hàng hóa ước đạt 4.409 tỷ đồng, chiếm 70,8% trong tổng số, tăng 0,3% so với tháng trước và tăng 14,1% so với cùng kỳ. Mặc dù doanh thu bán lẻ có mức tăng không cao như tháng trước, tuy nhiên sức mua trên thị trường vẫn được duy trì nhờ nhu cầu tiêu dùng thiết yếu, hoạt động xây dựng dân sinh và nhu cầu đi lại, du lịch trong mùa hè bắt đầu tăng. Doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống tháng 5 ước đạt 1.338 tỷ đồng, chiếm 21,4%, tăng 1,1% so với tháng trước và tăng 21,2% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ lữ hành đạt 31 tỷ đồng, chiếm 0,5%, giảm 6,1% so với tháng trước và tăng 20,3% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ khác đạt 454 tỷ đồng, chiếm 7,3%, tăng 1,8% so với tháng trước và tăng 20,1% so với cùng kỳ.

Biểu 3. Tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 

Đơn vị tính: Tỷ đồng

Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm tháng đầu năm 2026 đạt 30.738 tỷ đồng, tăng 17,3% so với cùng kỳ, trong đó doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 21.875 tỷ đồng, chiếm 71,1% tổng số và tăng 14,9%; dịch vụ lưu trú và ăn uống đạt 6.409 tỷ đồng, chiếm 20,9% và tăng 23,9%; dịch vụ lữ hành đạt 172 tỷ đồng, chiếm 0,6% và tăng 18,7%; dịch vụ khác đạt 2.282 tỷ đồng, chiếm 7,4% và tăng 23,5%. 

4.2. Vận tải hành khách và hàng hóa

Dịp nghỉ lễ 30/4 và 01/5, trong đó có 3 ngày rơi vào tháng 5, cũng là thời gian nghỉ kéo dài nhất từ đầu năm nên nhu cầu đi lại của người dân trong dịp này tăng. Tháng 5 cũng diễn ra nhiều sự kiện sôi động trong chuỗi Festival mùa Hạ, tác động tích cực đến nhiều ngành kinh tế, trong đó có vận tải hành khách. Bên cạnh đó, đây là tháng cao điểm mùa xây dựng, nhu cầu vận tải nguyên, nhiên vật liệu, thiết bị phục vụ cho các dự án, công trình tăng mạnh làm cho hoạt động vận tải hàng hóa đạt kết quả cao so với cùng kỳ năm trước.

Dự ước hành khách vận chuyển tháng 5 năm 2026 đạt 4,4 triệu hành khách, tăng 2,6% so với tháng trước và tăng 21,0% so với cùng kỳ; hành khách luân chuyển đạt 213,9 triệu hành khách.km, tăng 2,5% và tăng 21,4%. Tính chung năm tháng đầu năm 2026, vận tải hành khách ước đạt 20,9 triệu hành khách, tăng 20,3% so với cùng kỳ và luân chuyển ước đạt 1.026,1 triệu hành khách.km, tăng 20,7% so với cùng kỳ.

Dự ước hàng hóa vận chuyển tháng 5 năm 2026 ước đạt 2,4 triệu tấn, tăng 1,6% so với tháng trước và tăng 14,6% so với cùng kỳ; hàng hóa luân chuyển đạt 197,8 triệu tấn.km, tăng 1,5% và tăng 14,0%. Tính chung năm tháng đầu năm 2026, vận tải hàng hóa ước đạt 11,7 triệu tấn, tăng 15,3% so với cùng kỳ và luân chuyển ước đạt 973,5 triệu tấn.km, tăng 14,8%.

Dự ước doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 5/2026 đạt 608,8 tỷ đồng, tăng 2,0% so với tháng trước và tăng 18,7% so với cùng kỳ. Lũy kế doanh thu vận tải, bốc xếp năm tháng đầu năm 2026 ước đạt 2.959,1 tỷ đồng, tăng 19,6% so với cùng kỳ. Chia theo loại hình dịch vụ: doanh thu vận tải hành khách ước đạt 652,6 tỷ đồng, tăng 22,2%; vận tải hàng hóa ước đạt 2.016,3 tỷ đồng, tăng 16,6%; dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 290,2 tỷ đồng, tăng 37,5% so với cùng kỳ. Trong đó doanh thu vận tải bao gồm: đường bộ đạt 2.666,1 tỷ đồng, tăng 16,6%; đường sông đạt 2,8 tỷ đồng, tăng 24,8%.

4.3. Lượt khách các cơ sở lưu trú phục vụ và du lịch lữ hành

Tháng 5 năm 2026, hoạt động du lịch trên địa bàn thành phố tiếp tục diễn ra sôi động nhờ hiệu ứng tích cực từ chuỗi sự kiện, lễ hội, chương trình kích cầu được tổ chức đồng bộ đặc biệt là 2 kỳ nghỉ lễ gần nhau Giỗ tổ Hùng Vương (10/3 ÂL) và 30/4 – 01/5. Các lĩnh vực lưu trú, ăn uống, lữ hành và dịch vụ hỗ trợ du lịch có sự phối hợp chặt chẽ, chủ động nâng cao chất lượng sản phẩm và đa dạng hóa trải nghiệm nhằm thu hút và giữ chân du khách. 

Dự ước lượt khách do cơ sở lưu trú phục vụ tháng 5/2026 đạt 254,9 nghìn lượt khách, giảm 2,4% so với tháng trước và tăng 21,7% so với cùng kỳ. Trong đó, lượt khách ngủ qua đêm tháng 5/2026 ước đạt 215,7 nghìn lượt khách, giảm 2,8% so với tháng trước và tăng 24,5% so với cùng kỳ; lượt khách trong ngày đạt 39,2 nghìn lượt khách, giảm 0,3% so với tháng trước và tăng 8,3% so với cùng kỳ. Lũy kế lượt khách do các cơ sở lưu trú phục vụ năm tháng đầu năm 2026 đạt 1.243,4 nghìn lượt, tăng 20,2% so với cùng kỳ. Trong đó, lượt khách ngủ qua đêm năm tháng đầu năm đạt 1.052,4 nghìn lượt, tăng 22,6% so với cùng kỳ; lượt khách trong ngày đạt 191,0 nghìn lượt, tăng 8,6% so với cùng kỳ. Trong lượt khách ngủ qua đêm, khách quốc tế 441,6 nghìn lượt, tăng 27,6%; khách trong nước 610,8 nghìn lượt, tăng 19,2% so với cùng kỳ.

Ngày khách dự ước tháng 5/2026 đạt 351,9 nghìn ngày, giảm 2,8% so với tháng trước và tăng 20,8% so với cùng kỳ. Trong đó: Ngày khách quốc tế đạt 132,5 nghìn ngày, giảm 6,4% so với tháng trước và tăng 80,8% so với cùng kỳ; ngày khách trong nước đạt 219,4 nghìn ngày, giảm 0,5% so với tháng trước và tăng 0,7% so với cùng kỳ. Lũy kế ngày khách dự ước năm tháng đầu năm đạt 1.758,2 nghìn ngày, tăng 22,4% so với cùng kỳ. Trong đó: Ngày khách quốc tế đạt 765,2 nghìn ngày, tăng 26,8%; ngày khách trong nước đạt 993,0 nghìn ngày, tăng 19,1% so với cùng kỳ.

Lượt khách phục vụ của các cơ sở lữ hành thực hiện tháng 5/2026 ước đạt 20,2 nghìn lượt, giảm 7,3% với tháng trước và tăng 22,1% so với cùng kỳ; lũy kế lượt khách năm tháng đầu năm ước đạt 105,1 nghìn lượt, tăng 19,3% so với cùng kỳ. Ngày khách theo tour ước thực hiện tháng 5/2026 là 46,8 nghìn ngày, giảm 7,0% so với tháng trước và tăng 23,6% so với cùng kỳ; lũy kế ngày khách theo tour năm tháng đầu năm ước đạt 227,2 nghìn ngày khách, tăng 22,2% so với cùng kỳ.

4.4. Giá cả

- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)

Chỉ số giá tiêu dùng chung của thành phố tháng 5/2026 tăng 0,38% so với tháng trước, nguyên nhân tăng chủ yếu là do tác động của nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng khi giá thuê nhà và điện sinh hoạt tăng mạnh, trong khi nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm do nguồn cung lương thực, thực phẩm dồi dào. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 4 nhóm hàng tăng giá: Nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 3,18%; Giao thông tăng 0,85%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,08%; Đồ uống và thuốc lá tăng 0,03%. Có 6 nhóm hàng giảm giá: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,79%; Văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,52%; May mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,43%; Bưu chính viễn thông giảm 0,08%; Thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,07%; Thuốc và dịch vụ y tế giảm 0,06%. Riêng nhóm Giáo dục ổn định so với tháng trước.

Chỉ số giá tiêu dùng chung toàn thành phố tháng 5/2026 tăng 4,54% so với tháng 12 năm trước và tăng 6,55% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm tháng đầu năm 2026 tăng 5,26% so với bình quân cùng kỳ năm trước, nguyên nhân là do một số nhóm hàng hóa và dịch vụ tăng khá như: hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 5,47%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 9,57%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 3,95%; giao thông tăng 4,37%; giáo dục tăng 3,77%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 6,10%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,42%.

- Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ 

Chỉ số giá vàng tháng 5/2026 giảm 4,16% so với tháng trước, tăng 6,09% so với tháng 12 năm trước và tăng 38,07% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 5/2026 tăng 0,06% so với tháng trước, giảm 0,12% so với tháng 12 năm trước và tăng 0,92% so với cùng kỳ năm trước.

5. Tài chính, ngân hàng

5.1. Tài chính

Tổng thu ngân sách trên địa bàn năm tháng năm 2026 ước đạt 6.561 tỷ đồng, bằng 41,0% dự toán năm. Trong đó: Thu nội địa ước đạt 5.915,0 tỷ đồng, bằng 40,7% dự toán; thu thuế từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 636,1 tỷ đồng, bằng 43,9% dự toán. Trong thu nội địa: Thu doanh nghiệp Nhà nước ước đạt 201 tỷ đồng, bằng 39,4% dự toán; thu doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 2.067 tỷ đồng, bằng 45,1% dự toán; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 1.173 tỷ đồng, bằng 51,0% dự toán; thuế thu nhập cá nhân 340 tỷ đồng, bằng 45,3% dự toán; thuế bảo vệ môi trường 151 tỷ đồng, bằng 37,8% dự toán.

Tổng chi ngân sách địa phương năm tháng năm 2026 ước đạt 5.436 tỷ đồng, bằng 29,4% dự toán, trong đó chi đầu tư phát triển 817,3 tỷ đồng, bằng 17,8% dự toán; chi thường xuyên 4.117 tỷ đồng, bằng 35,4% dự toán.                                    

5.2. Ngân hàng

Ngành ngân hàng trên địa bàn tiếp tục triển khai các chương trình tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nhằm hỗ trợ phục hồi và phát triển kinh tế. Trong đó, tiếp tục thực hiện Chương trình tín dụng đối với lĩnh vực nông, lâm, thủy sản cho đến khi doanh số cho vay đạt 185.000 tỷ đồng với mức lãi suất cho vay thấp hơn tối thiểu từ 1% - 2%/năm so với mức lãi suất cho vay bình quân theo quy định tại Công văn số 5631/NHNN-TD ngày 14/7/2023, Công văn số 2756/NHNN-TD ngày 15/4/2025 và Công văn số 8333/NHNN-TD ngày 23/9/2025 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Đồng thời, tiếp tục triển khai thực hiện Công văn số 4290/NHNN-TD ngày 29/5/2025 về cho vay người trẻ dưới 35 tuổi mua nhà ở xã hội.

Tổng nguồn vốn huy động trên địa bàn đến cuối tháng 5/2026 ước đạt 94,0 nghìn tỷ đồng, tăng 5,07% so với cuối năm 2025; tổng dư nợ tín dụng ước đạt 96,3 nghìn tỷ đồng, tăng 3,65%.

Các tổ chức tín dụng trên địa bàn thành phố tiếp tục tập trung ưu tiên nguồn vốn cho vay đối với các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh theo chủ trương của Chính phủ. Tính đến cuối tháng 5/2026, dư nợ tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn ước đạt 19.700 tỷ đồng, tăng 9,7% so với cuối năm 2025; dư nợ cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa đạt 18.500 tỷ đồng, tăng 7,4%; dư nợ cho vay lĩnh vực xuất khẩu đạt 6.000 tỷ đồng, tăng 4,1%; dư nợ cho vay công nghiệp hỗ trợ đạt 7.200 tỷ đồng, tăng 358,9%. Hiện nay, trên địa bàn chưa phát sinh dư nợ cho vay đối với doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao.

6. Các vấn đề xã hội

6.1. Giáo dục - Đào tạo 

Thành phố vừa ban hành kế hoạch tổ chức Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026 và xét công nhận tốt nghiệp THPT năm học 2025-2026. Kỳ thi diễn ra từ 10-12/6, năm nay thành phố Huế dự kiến có 13.630 thí sinh đăng ký dự thi, trong đó 12.311 thí sinh giáo dục phổ thông, 1.119 thí sinh giáo dục thường xuyên và 200 thí sinh tự do. Để phục vụ kỳ thi, thành phố dự kiến bố trí 37 điểm thi đặt các trường THPT và THCS trên địa bàn với khoảng 620 phòng thi. Đảm bảo kỳ thi diễn ra an toàn, nghiêm túc, đúng quy chế và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho thí sinh.

Đối với kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT năm học 2026-2027, kỳ thi sẽ diễn ra từ 27-28/5 với 17.919 thí sinh đăng ký dự thi. Dự kiến có 53 hội đồng thi với 750 phòng thi được bố trí phục vụ kỳ thi.

Hướng đến kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890-19/5/2026), Hội Khuyến học thành phố tổ chức trao học bổng cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn thành phố. Hội Khuyến học trao 100 suất học bổng, trong đó có 40 học sinh TH, 40 học sinh THCS và 20 học sinh THPT. Hoạt động không chỉ góp phần hỗ trợ học sinh khó khăn mà còn kịp thời động viên, lan tỏa tinh thần hiếu học, ý chí vượt khó của các em học sinh. Bên cạnh đó, tại trường THPT chuyên Quốc Học, Quỹ học bổng Khuyến tài Nguyễn Chí Thanh thuộc Hội Khuyến học thành phố đã tổ chức trao học bổng cho 94 học sinh đạt thành tích cao tại kỳ thi học sinh giỏi quốc gia năm học 2025-2026.

6.2. Tình hình y tế, dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm

Số lượt khám chữa bệnh BHYT tính đến hết ngày 18/5/2026 là 927.599 lượt, trong đó 809.980 lượt khám chữa bệnh ngoại trú và 117.619 lượt khám chữa bệnh nội trú.

Tháng 5/2026, trên địa bàn có 18 ca sốt xuất huyết, tăng 6 ca so với cùng kỳ; có 39 ca mắc tay chân miệng, tăng 3 ca so với cùng kỳ; 1 ca mắc liên cầu lợn, tăng 1 ca so với cùng kỳ. Năm tháng đầu năm, trên địa bàn có 75 ca sốt xuất huyết, giảm 36 ca so với cùng kỳ; có 172 ca mắc tay chân miệng, tăng 64 ca so với cùng kỳ; 4 ca liên cầu lợn, tăng 4 ca so với cùng kỳ.

Tháng 4/2026, trên địa bàn đã phát hiện 8 ca nhiễm mới HIV, tăng 3 ca so với cùng kỳ; 1 ca chuyển qua AIDS, giảm 1 ca so với cùng kỳ; không có ca tử vong, bằng cùng kỳ. Bốn tháng đầu năm, trên địa bàn có 23 ca nhiễm mới HIV, giảm 10 ca so với cùng kỳ; 4 ca chuyển qua AIDS, giảm 5 ca so với cùng kỳ; 1 ca tử vong, giảm 1 ca so với cùng kỳ. Hiện tại, trên địa bàn có 602 bệnh nhân đang được quản lý và điều trị tại các cơ sở y tế, trong đó có 597 bệnh nhân điều trị ARV.

Tháng 5/2026, trên địa bàn không xảy ra ngộ độc thực phẩm, bằng cùng kỳ. Năm tháng đầu năm, trên địa bàn xảy ra 2 vụ ngộ độc thực phẩm, tăng 2 vụ so với cùng kỳ, làm 25 người bị ngộ độc và không có người chết.

6.3. Hoạt động văn hóa, thể thao

Lễ khai mạc làng Dương Nỗ 2026 diễn ra tại Đình làng Dương Nỗ với chủ đề “Dương Nỗ - Hành trình tháng Năm”. Đây là hoạt động ý nghĩa chào mừng kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 – 19/5/2026), đồng thời là hoạt động nổi bật trong khuôn khổ Festival mùa Hạ Huế 2026. Điểm nhấn của lễ hội là lễ rước và dâng hoa sen lên Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bên cạnh đó, lễ hội còn có các hoạt động: Chương trình nghệ thuật tái hiện ký ức tháng Năm, trình diễn nghề dệt Dèng truyền thống, bài chòi, không gian ẩm thực Huế, làng nghề thủ công truyền thống… 

Tổ chức thành công các giải thể thao quốc gia như Giải vô địch các Câu lạc bộ Vật cổ điển, Vật tự do quốc gia; Giải vô địch Bóng rổ 3x3 U20, U23 quốc gia. Ngoài ra, tại Giải vô địch Vật bãi biển thế giới 2026, đoàn thể thao Huế tham gia với 2 VĐV và đã thi đấu xuất sắc, mang về 2 HCĐ.

 Phong trào thể dục thể thao quần chúng tiếp tục được duy trì và phát triển. Tập trung triển khai Chương trình bơi an toàn, phòng chống đuối nước trẻ em giai đoạn 2021-2030; kiểm tra hoạt động kinh doanh thể thao môn Bơi, Lặn.

6.4. Tai nạn giao thông

Theo báo cáo của Ban ATGT thành phố, từ 15/4/2026 đến 14/5/2026, trên địa bàn đã xảy ra 10 vụ tai nạn giao thông, bằng cùng kỳ; làm 4 người chết, giảm 2 người so với cùng kỳ; làm bị thương 7 người, giảm 2 người so với cùng kỳ. Năm tháng đầu năm 2026, trên địa bàn xảy ra 66 vụ tai nạn giao thông, giảm 27 vụ so với cùng kỳ; làm chết 44 người, tăng 5 người và làm bị thương 38 người, giảm 32 người so với cùng kỳ.

*Tình hình trật tự an toàn giao thông 4 ngày Lễ 30/4 & 1/5

Từ ngày 30/4/2026 đến 03/5/2026, trên địa bàn thành phố đã xảy ra 3 vụ tai nạn giao thông, giảm 3 vụ so với cùng kỳ; làm 1 người chết và làm bị thương 3 người, bằng cùng kỳ.

6.5. Tình hình cháy nổ và bảo vệ môi trường

Trong tháng 5/2026 trên địa bàn xảy ra 4 vụ cháy; tăng 2 vụ so với cùng kỳ, bằng tháng trước. Các vụ cháy xảy ra tại nhà dân, phương tiện tàu cá và xe đầu kéo; không có thiệt hại về người, thiệt hại ước khoảng 632 triệu đồng. Năm tháng đầu năm, trên địa bàn xảy ra 12 vụ cháy, tăng 7 vụ so với cùng kỳ, làm 1 người chết, tổng giá trị thiệt hại 718 triệu đồng.

Trong tháng 5/2026 trên địa bàn xảy ra 2 vụ vi phạm môi trường, giảm 10 vụ so với cùng kỳ, giảm 1 vụ so với tháng trước. Các hình thức vi phạm: 2 vụ xả nước thải vượt quy chuẩn kỹ thuật; tiến hành xử lý 2 vụ với số tiền xử phạt 995 triệu đồng. Năm tháng đầu năm, trên địa bàn xảy ra 21 vụ, giảm 44 vụ; tiến hành xử lý 23 vụ với số tiền xử phạt 3,34 tỷ đồng. 

6.6. Thiệt hại do thiên tai

Tháng 5/2026 không xảy ra thiên tai, giảm 1 vụ so với cùng kỳ, bằng tháng trước. Năm tháng đầu năm, trên địa bàn không xảy ra thiên tai, giảm 3 vụ so với cùng kỳ./.

Nguồn Thống kê Thành phố Huế