Kinh tế xã hội 6 tháng đầu năm 2026 trên địa bàn thành phố Huế
Kinh tế - xã hội thành phố Huế trong sáu tháng đầu năm 2026 diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục tăng trưởng nhưng còn nhiều yếu tố bất ổn. Hoạt động sản xuất, thương mại và đầu tư toàn cầu phục hồi chậm, không đồng đều giữa các khu vực; lạm phát tại nhiều nền kinh tế lớn tuy đã hạ nhiệt nhưng vẫn ở mức cao, trong khi căng thẳng địa chính trị, biến động giá năng lượng và xu hướng gia tăng các biện pháp bảo hộ thương mại tiếp tục ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng và hoạt động thương mại quốc tế. Trong nước, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát, các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm; sản xuất công nghiệp, thương mại, dịch vụ, xuất khẩu, du lịch và thu hút đầu tư nước ngoài tiếp tục tăng trưởng tích cực. Tuy nhiên, hoạt động sản xuất, kinh doanh vẫn gặp một số khó khăn do chi phí đầu vào tăng, sức ép cạnh tranh ngày càng lớn và những biến động khó lường của kinh tế thế giới. Trong bối cảnh đó, với sự chỉ đạo quyết liệt của Thành ủy, HĐND, UBND thành phố cùng sự nỗ lực của các cấp, các ngành, cộng đồng doanh nghiệp và người dân, kinh tế thành phố Huế tiếp tục duy trì đà tăng trưởng khá; các ngành dịch vụ, du lịch phát triển tích cực, sản xuất công nghiệp, thương mại, đầu tư xây dựng và thu hút đầu tư có nhiều chuyển biến, các cân đối lớn của nền kinh tế cơ bản được bảo đảm.
Thực hiện nghị quyết và quyết định của Thành ủy, HĐND, UBND thành phố về nhiệm vụ, kế hoạch và triển khai thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026. Kết quả đạt được trên các ngành, lĩnh vực trong sáu tháng đầu năm 2026 như sau:
1. Tăng trưởng kinh tế
Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) trong 6 tháng đầu năm 2026 theo giá so sánh năm 2020 ước tăng 8,33% so với cùng kỳ năm trước. Đây là mức tăng khá, xét trên phạm vi cả nước Huế xếp thứ 20 trong tổng số 34 địa phương, trong khu vực Bắc Trung Bộ Thành phố xếp thứ 3 trên 5 địa phương, đối với các thành phố trực thuộc Trung ương xếp thứ 4 trong số 6 thành phố. Trong đó: khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,20%, đóng góp 0,40 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,56%, đóng góp 3,06 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 8,40%, đóng góp 4,18 điểm phần trăm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 7,87%, đóng góp 0,69 điểm phần trăm trong tăng trưởng kinh tế toàn thành phố.
Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản duy trì mức tăng trưởng ổn định. Sản xuất nông nghiệp diễn ra thuận lợi, năng suất và sản lượng lúa vụ Đông Xuân tăng; chăn nuôi phát triển ổn định, dịch bệnh được kiểm soát hiệu quả. Hoạt động lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục duy trì đà tăng trưởng nhờ nhu cầu thị trường ổn định và điều kiện sản xuất thuận lợi. Trong đó, ngành nông nghiệp tăng 4,33%, đóng góp 0,24 điểm phần trăm; ngành lâm nghiệp tăng 5,18%, đóng góp 0,06 điểm phần trăm; và ngành thủy sản tăng 3,50%, đóng góp 0,09 điểm phần trăm. Tốc độ tăng trưởng này góp phần giữ vững ổn định sản xuất nông nghiệp, bảo đảm nguồn cung lương thực, thực phẩm và tạo nền tảng cho phát triển kinh tế nông thôn.
Khu vực công nghiệp và xây dựng tiếp tục là động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế, với giá trị tăng thêm ước tăng 9,56% so với cùng kỳ, trong đó ngành công nghiệp tăng 10,20%. Sản xuất công nghiệp khởi sắc nhờ nhiều ngành chủ lực duy trì tăng trưởng khá và một số dự án mới đi vào hoạt động, mở rộng sản xuất. Hoạt động xây dựng tăng 7,00%, chủ yếu nhờ tiến độ triển khai các công trình trọng điểm và dự án hạ tầng được đẩy nhanh. Tuy nhiên, khu vực vẫn chịu tác động của giá nguyên vật liệu, chi phí năng lượng ở mức cao; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 10,28% do lưu lượng nước về các hồ thủy điện thấp.
Khu vực dịch vụ tăng 8,40% so với cùng kỳ, đóng góp quan trọng vào mức tăng GRDP chung. Hoạt động thương mại, dịch vụ diễn ra sôi động nhờ sức mua của người dân cải thiện và du lịch tiếp tục phục hồi tích cực. Một số ngành đạt mức tăng trưởng khá như: bán buôn, bán lẻ hàng hóa tăng 9,69%, đóng góp 0,75 điểm phần trăm; dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng 12,90%, đóng góp 0,91 điểm phần trăm; vận tải, kho bãi tăng 13,31%, đóng góp 0,41 điểm phần trăm. Bên cạnh đó, các ngành thông tin và truyền thông, tài chính - ngân hàng, khoa học và công nghệ cùng các dịch vụ khác tiếp tục duy trì tăng trưởng ổn định, góp phần thúc đẩy khu vực dịch vụ phát triển.
Cơ cấu kinh tế 6 tháng đầu năm 2026, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 9,02%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 29,81%; khu vực dịch vụ chiếm 52,42%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 8,75% (cơ cấu tương ứng của cùng kỳ năm 2025 là: 9,79%; 29,68%; 51,74% và 8,79%).
2. Tài chính, ngân hàng, bảo hiểm
2.1. Tài chính
Tổng thu ngân sách trên địa bàn sáu tháng năm 2026 ước đạt 8.068 tỷ đồng, bằng 50,4% dự toán năm, tăng 8,6% so cùng kỳ. Trong đó: Thu nội địa ước đạt 7.238 tỷ đồng, bằng 49,8% dự toán, tăng 8,8% so với cùng kỳ, khẳng định vai trò trụ cột trong việc tạo nguồn thu bền vững cho ngân sách; thu thuế từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 813 tỷ đồng, bằng 56,1% dự toán, tăng 19,4% so với cùng kỳ. Thu viện trợ, huy động đóng góp 16,7 tỷ đồng, bằng 60,7% dự toán, giảm 87,9% so với cùng kỳ.
Song song với nhiệm vụ thu, việc điều hành chi ngân sách địa phương cũng được triển khai chặt chẽ , bảo đảm các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và an sinh xã hội trên địa bàn. Tổng chi ngân sách địa phương sáu tháng năm 2026 ước đạt 6.429 tỷ đồng, bằng 34,8% dự toán. Trong cơ cấu chi, chi thường xuyên chiếm tỷ trọng chủ đạo với 4.910 tỷ đồng, bằng 42,2% dự toán nhằm đảm bảo vận hành bộ máy và các hoạt động an sinh xã hội; chi đầu tư phát triển 896 tỷ đồng, bằng 19,5% dự toán, còn chậm so với yêu cầu thúc đẩy tăng trưởng.
2.2. Ngân hàng
Triển khai Chương trình tín dụng 140.000 tỷ đồng theo Nghị quyết 33/NQ-CP ngày 11/3/2023 của Chính phủ về một số giải pháp tháo gỡ và thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển an toàn, lành mạnh, bền vững. Thực hiện Thông tư 02/2023/TT-NHNN và Chỉ thị số 02/CT-NHNN ngày 23/5/2023 của NHNN VN về việc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng gặp khó khăn
Tổng nguồn vốn huy động đến cuối tháng 6 năm 2026 ước đạt 94,7 nghìn tỷ đồng, tăng 5,8% so với cuối năm 2025; tổng dư nợ tín dụng ước đạt 98,9 nghìn tỷ đồng, tăng 3,2%.
Các TCTD trên địa bàn thành phố Huế tiếp tục chú trọng cho vay các lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ. Tính đến cuối tháng 06/2026: Tín dụng đối với nông nghiệp nông thôn ước đạt 19.700 tỷ đồng, tăng 9,7% so với cuối năm 2025; Tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa ước đạt 18.000 tỷ đồng, tăng 4,5% so với cuối năm 2025; Tín dụng đối với xuất khẩu ước đạt 6.000 tỷ đồng, tăng 4,1% so với cuối năm 2025; Cho vay công nghiệp hỗ trợ ước đạt 7.200 tỷ đồng, tăng 358,9% so với cuối năm 2025. Trên địa bàn chưa phát sinh có dư nợ cho vay doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao.
2.3. Bảo hiểm
Thị trường bảo hiểm trong sáu tháng đầu 2026 tiếp tục có nhiều tín hiệu tích cực, tạo điều kiện để các doanh nghiệp bảo hiểm đẩy mạnh hoạt động kinh doanh sau thời gian tập trung đầu tư nâng cao chất lượng nhân sự và hệ thống. Doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường dự kiến tăng khoảng 6,5%–7,5% so với cùng kỳ.
Để nâng cao hiệu quả hoạt động, các doanh nghiệp bảo hiểm tập trung thúc đẩy tăng trưởng trên các kênh bán hàng gắn với nâng cao chất lượng dịch vụ, đa dạng hóa kênh thu phí trực tuyến, tăng cường chuyển đổi số và nâng cao năng lực quản trị. Đồng thời, các doanh nghiệp chú trọng kiểm soát nội bộ, quản lý rủi ro, bảo đảm tuân thủ quy định của cơ quan quản lý nhà nước, lấy chất lượng sản phẩm, dịch vụ và quyền lợi khách hàng làm trọng tâm nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh.
3. Giá cả, lạm phát
- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
Chỉ số giá tiêu dùng trên địa bàn thành phố 6 tháng đầu năm 2026 tăng 5,31% so với cùng kỳ, nguyên nhân chủ yếu là do giá thực phẩm tăng cao làm cho chỉ số giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng cao; nhóm nhà ở, nhóm điện và chất đốt cũng tăng cao.
Chỉ số giá tiêu dùng thành phố tháng 6/2026 giảm 0,60% so với tháng trước, tăng 3,91% so với tháng 12 năm trước, tăng 5,58% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân giảm so với tháng trước chủ yếu do giá xăng dầu trong nước biến động giảm, giá gạo và thịt lợn giảm. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 05 nhóm hàng tăng giá so với tháng trước: Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,17%; Nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,11%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,10%; Thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,05%; Giáo dục tăng 0,01% so với tháng trước. Có 06 nhóm có chỉ số giảm so với tháng trước như: Giao thông giảm 4,71%; Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,37%; Thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,36%; May mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,34%; Thông tin và truyền thông giảm 0,13%; Đồ uống và thuốc lá giảm 0,05% so với tháng trước.
Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 6 tháng đầu năm 2026 tăng 5,31% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chính tăng giá do nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng cao (5,43%) khi giá thực phẩm, lương thực và ăn uống ngoài gia đình tăng cao; nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng cũng tăng cao (9,90%) khi nhóm nhà ở, nhóm ga và các loại chất đốt, nhóm điện và dịch vụ điện tăng cao do nhu cầu tiêu dùng tăng.
Các nhóm hàng hóa dịch vụ còn lại có chỉ số giá bình quân 6 tháng đầu năm 2026 tăng khá so cùng kỳ năm trước: Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 6,15%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,50%; Giao thông tăng 4,35%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 3,87%; Giáo dục tăng 3,76%.
- Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ
Chỉ số giá vàng tháng 6/2026 giảm 8,11% so với tháng trước, giảm 2,52% so với tháng 12 năm trước và tăng 27,90% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 6 tháng đầu năm 2026 tăng 59,46% so với bình quân cùng kỳ năm trước.
Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 6/2026 tăng 0,15% so với tháng trước, tăng 0,03% so với tháng 12 năm trước và tăng 0,72% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 6 tháng đầu năm 2026 tăng 1,85% so với bình quân cùng kỳ năm trước.
4. Hoạt động xuất nhập khẩu
Trong sáu tháng đầu năm 2026, hoạt động xuất nhập khẩu trên địa bàn thành phố Huế tiếp tục duy trì đà tăng trưởng. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước đạt 1.453,1 triệu USD, tăng 13,8%; trong đó kim ngạch xuất khẩu tăng 18,2%, cao hơn mức tăng của kim ngạch nhập khẩu (8,4%), đưa giá trị xuất siêu đạt 214,7 triệu USD. Nhóm hàng công nghiệp chế biến tiếp tục giữ vai trò chủ lực trong cơ cấu xuất khẩu, còn nhập khẩu chủ yếu phục vụ sản xuất và xuất khẩu của doanh nghiệp.
4.1. Xuất khẩu
Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa sáu tháng đầu năm 2026 ước đạt 833,9 triệu USD, tăng 18,2% so với cùng kỳ và đạt 52,1% kế hoạch năm.
Hầu hết các nhóm hàng xuất khẩu chủ lực đều tăng so với cùng kỳ. Trong đó, nhóm hàng công nghiệp chế biến tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn nhất với 587,6 triệu USD, tăng 14,1% và chiếm 70,5% tổng kim ngạch xuất khẩu; nhóm hàng nông, thủy sản đạt 93,8 triệu USD, tăng 70,0% và chiếm 11,2%; nhóm hàng khác đạt 152,5 triệu USD, tăng 13,0% và chiếm 18,3%.
Một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu duy trì tăng trưởng khá như hàng may mặc, xơ sợi dệt, gỗ và sản phẩm gỗ. Hàng hóa của thành phố đã được xuất khẩu đến hơn 50 quốc gia và vùng lãnh thổ, tập trung ở các thị trường như Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, ASEAN, châu Âu…
4.2. Nhập khẩu
Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa sáu tháng đầu năm 2026 ước đạt 619,2 triệu USD, tăng 8,4% so với cùng kỳ.
Cơ cấu nhập khẩu chủ yếu phục vụ hoạt động sản xuất và xuất khẩu của doanh nghiệp. Trong đó, nhóm hàng cần nhập khẩu đạt 325,4 triệu USD, tăng 4,1% và chiếm 52,6% tổng kim ngạch nhập khẩu; nhóm hàng cần kiểm soát nhập khẩu đạt 90,5 triệu USD, tăng 6,3% và chiếm 14,6%; nhóm hàng hóa khác đạt 203,3 triệu USD, tăng 33,4% và chiếm 32,8%.
Một số mặt hàng nhập khẩu có mức tăng cao gồm máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng; thủy sản; thép, hóa chất, chất dẻo nguyên liệu và cao su. Trong khi đó, nguyên phụ liệu dệt may giảm so với cùng kỳ.
5. Vốn đầu tư và xây dựng
5.1. Vốn đầu tư
Thực hiện chỉ đạo của Trung ương, Thành ủy và HĐND thành phố, UBND thành phố Huế đã chủ động phân bổ kế hoạch vốn đầu tư công ngay từ đầu năm, đồng thời tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc nhằm đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án. Bên cạnh đó, hoạt động đầu tư phát triển trên địa bàn được triển khai tích cực với sự tham gia của cả khu vực ngoài nhà nước và khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Các dự án hạ tầng giao thông, đô thị, công nghiệp và dịch vụ trọng điểm tiếp tục được thực hiện, góp phần hoàn thiện kết cấu hạ tầng và tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế.
Dự ước vốn đầu tư phát triển trong quý II/2026 dự ước đạt 9.708 tỷ đồng, đạt 24,2% so với kế hoạch năm, tăng 16,7% so với cùng kỳ. Tính chung 6 tháng đầu năm, tổng vốn đầu tư phát triển ước đạt 17.368 tỷ đồng, đạt 43,3% kế hoạch năm và tăng 13,2% so với cùng kỳ.
Vốn đầu tư nhà nước trong quý II ước đạt 2.6034 tỷ đồng, chiếm 26,8% tổng nguồn vốn, tăng 17,6% so với cùng kỳ. Đưa tổng nguồn vốn nhà nước 6 tháng ước đạt 4.194 tỷ đồng, tăng 20,1% so cùng kỳ Trong đó : Vốn đầu tư do trung ương quản lý 6 tháng ước đạt 971 tỷ đồng, tăng 23,7% so cùng kỳ, chủ yếu nhờ việc tiếp tục triển khai đồng loạt nhiều dự án trọng điểm trên địa bàn như: Sửa chữa đập Thảo Long; Dự án mở rộng cao tốc Bắc Nam đoạn La Sơn - Hòa Liên đoạn đi qua thành phố Huế; Dự án mở rộng cao tốc Cam Lộ-La Sơn. Các đơn vị thi công đã huy động mọi nguồn lực tối đa để hoàn thành theo đúng tiến độ dự kiến đề ra. Vốn đầu tư do địa phương quản lý quý II/2026 ước đạt 2.075 tỷ đồng, tăng 29,3% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm, nguồn vốn này ước đạt 3.223 tỷ đồng, tăng 19,1% so với cùng kỳ. Nguồn vốn này tiếp tục tập trung cho các dự án trọng điểm như: đường Nguyễn Hoàng, đường Vành đai 3, Dự án Cải thiện môi trường nước thành phố Huế, các khu tái định cư và nghĩa trang phục vụ giải phóng mặt bằng tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam, cùng các dự án bảo tồn, tu bổ và phát huy giá trị Quần thể di tích Kinh thành Huế. Bên cạnh đó, UBND thành phố đang chỉ đạo quyết liệt tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ đối với một số dự án còn chậm như tuyến đường Tố Hữu đi sân bay Phú Bài, cầu Vỹ Dạ, cầu qua sông Như Ý và tuyến đường 100m thuộc Khu đô thị An Vân Dương. Đối với các công trình trường học tại khu vực A Lưới, thành phố đã huy động nhiều lực lượng hỗ trợ thi công nhằm bảo đảm hoàn thành trước năm học mới.
Vốn ngoài nhà nước quý II/2026 ước đạt 6.296 tỷ đồng, bằng 23,7% kế hoạch năm, chiếm 64,8% tổng nguồn vốn và tăng 23,8% so với cùng kỳ. Tính chung 6 tháng đầu năm, nguồn vốn này ước đạt 11.604 tỷ đồng, bằng 43,7% kế hoạch năm, chiếm 66,8% tổng vốn đầu tư và tăng 16,8% so với cùng kỳ. Động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ việc triển khai nhiều dự án quy mô lớn trong và ngoài các khu kinh tế, khu công nghiệp như: bến tổng hợp - container số 4 và số 5 cảng Vsico Chân Mây; khu liên hợp sản xuất, lắp ráp Kim Long Motors Huế; nhà ở xã hội Chân Mây; nhà máy sản xuất kính hoa siêu trắng Đạt Phương; cùng nhiều dự án đô thị, nhà ở và thương mại như Khu đô thị phía đông đường Thủy Dương - Thuận An, tổ hợp nhà ở - thương mại - dịch vụ An Đông, Đào Tấn Diamond City, Eco Garden. Bên cạnh đó, hoạt động đầu tư trong dân tiếp tục duy trì tích cực, góp phần đưa vốn ngoài nhà nước chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn.
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài quý II/2026 ước đạt 809 tỷ đồng, chiếm 8,3% tổng nguồn vốn, đạt 18,6% kế hoạch năm, giảm 18,3% so với cùng kỳ năm. Tính chung 6 tháng đầu năm, nguồn vốn này ước đạt 1.570 tỷ đồng, giảm 18,3% so với cùng kỳ. Các dự án FDI chuyển tiếp tiếp tục thực hiện và hoàn thành đưa vào sử dụng như: nhà máy sản xuất mũ bảo hiểm EON Industry Việt Nam giai đoạn 2; nhà máy sản xuất Silicon Carbide độ tinh khiết cao của công ty Heyeu VN; nhà máy sản xuất cao su chịu lực của công ty Tayo Rubex VN; …Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn có 4 dự án FDI đăng ký mới với tổng số vốn đăng ký 125,6 triệu USD, đầu tư vào kết cấu hạ tầng công nghiệp; sản xuất linh kiện điện tử; tư vấn, thiết kế kiến trúc; dịch vụ.
Nhìn chung, tình hình thực hiện vốn đầu tư trên địa bàn thành phố Huế trong sáu tháng đầu năm 2026 có nhiều chuyển biến tích cực. Thành phố tiếp tục ưu tiên nguồn lực cho các dự án hạ tầng giao thông trọng điểm, kết nối đô thị với sân bay, khu kinh tế và khu công nghiệp; đồng thời đầu tư hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật đô thị, hạ tầng khu kinh tế, khu công nghiệp và chỉnh trang không gian công cộng nhằm tạo động lực phát triển và thu hút đầu tư.
5.2. Hoạt động xây dựng
Hoạt động xây dựng trên địa bàn thành phố Huế trong 6 tháng đầu năm 2026 duy trì đà tăng trưởng tích cực nhờ đầu tư công được đẩy mạnh, hạ tầng đô thị và du lịch tiếp tục được đầu tư, tạo nền tảng cho ngành xây dựng phát triển trong thời gian tới. Ngay từ đầu năm, thành phố đã điều chỉnh Chương trình phát triển đô thị loại II (đô thị xanh) và phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch thành phố Huế thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050, làm cơ sở triển khai các dự án hạ tầng, chỉnh trang đô thị và phát triển không gian phục vụ du lịch, hướng tới mục tiêu xây dựng Huế trở thành đô thị di sản, văn hóa, sinh thái và thông minh.
Giá trị sản xuất ngành xây dựng quý II/2026 tiếp tục tăng khá so với cùng kỳ năm trước. Theo giá hiện hành, ước đạt 6.982 tỷ đồng, tăng 19,51%; theo giá so sánh năm 2020 đạt 5.149 tỷ đồng, tăng 7,52%. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, giá trị sản xuất ngành xây dựng theo giá hiện hành ước đạt 11.608 tỷ đồng, tăng 16,60%; theo giá so sánh năm 2020 đạt 8.803 tỷ đồng, tăng 7,35% so với cùng kỳ năm trước.
Tăng trưởng của ngành chủ yếu được thúc đẩy bởi hai nhóm công trình là nhà ở và công trình kỹ thuật dân dụng. Đối với công trình nhà ở, nhiều dự án khu đô thị, nhà ở thương mại và nhà ở xã hội được đẩy nhanh tiến độ thi công, cùng với các dự án nhà máy sản xuấtvà công trình giáo dục, đã góp phần làm tăng giá trị sản xuất của ngành trong những tháng đầu năm.
Đối với công trình kỹ thuật dân dụng, mức tăng trưởng chủ yếu đến từ việc triển khai và đẩy nhanh tiến độ các dự án hạ tầng trọng điểm, nhất là các công trình giao thông và khu công nghiệp quy mô lớn như giải phóng mặt bằng, tái định cư phục vụ đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam, mở rộng cao tốc Hòa Liên - La Sơn và La Sơn - Cam Lộ, đường Tố Hữu nối sân bay cùng nhiều dự án hạ tầng khác. Các dự án này có quy mô vốn lớn, khối lượng thi công cao, không chỉ tạo động lực tăng trưởng cho ngành xây dựng mà còn thúc đẩy các ngành vật liệu xây dựng, vận tải và lao động, đồng thời góp phần hoàn thiện kết cấu hạ tầng, tạo nền tảng cho phát triển kinh tế - xã hội trong dài hạn.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, ngành xây dựng vẫn chịu áp lực từ giá vật liệu xây dựng, chi phí nhân công và vận chuyển tăng, làm gia tăng chi phí đầu tư và ảnh hưởng đến tiến độ thi công của một số công trình. Vì vậy, mặc dù giá trị sản xuất theo giá hiện hành tăng cao nhưng tốc độ tăng trưởng theo giá so sánh năm 2020 chỉ đạt 7,35%, phản ánh chi phí đầu vào tăng đã làm giảm mức tăng trưởng thực của ngành.
6. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp
Hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Huế sáu tháng đầu năm 2026 tiếp tục duy trì xu hướng tích cực. Tính đến thời điểm báo cáo, toàn thành phố có 600 doanh nghiệp thành lập mới với tổng vốn đăng ký đạt 9.109 tỷ đồng. Theo nhận định về xu hướng có 84,6% doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất, kinh doanh khả quan hơn và giữ ổn định so với quý trước và có 92,3% doanh nghiệp dự báo tình hình sản xuất, kinh doanh trong quý tiếp theo sẽ tốt hơn và tiếp tục duy trì ổn định so với quý II năm 2026.
Tính đến thời điểm báo cáo, thành phố Huế có 600 DN thành lập mới với tổng số vốn đăng ký 317 tỷ đồng, tăng 75,0% so với cùng kỳ. Trong đó: Công ty cổ phần 37 DN; Công ty TNHH hai thành viên trở lên 172 DN; Công ty TNHH một thành viên 378; Doanh nghiệp tư nhân 13 DN; với số vốn đăng ký đạt 9.109 tỷ đồng. Số doanh nghiệp hoạt động trở lại 238 DN, số doanh nghiệp đã giải thể 164 DN, số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động 599 DN.
Đánh giá tổng quan về tình hình SXKD, có 84,6% số DN đánh giá SXKD quý II/2026 của họ khả quan hơn và giữ ổn định so với quý I/2026 (trong đó 38,5% đánh giá thuận lợi và 46,1% đánh giá không thay đổi); 15,4% số DN đánh giá là khó khăn hơn. Các DN nhận định SXKD của quý III/2026 tốt hơn và giữ ổn định so với quý II/2026 chiếm 92,3% (trong đó 50,8% dự báo tốt lên và 41,5% dự báo giữ ổn định), có 7,7% số DN dự báo khó khăn hơn.
Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong quý II/2026, có 66,2% cho rằng tính cạnh tranh của hàng trong nước cao đã ảnh hưởng đến hoạt động sxkd của DN. Tiếp theo đó là các yếu tố: Nhu cầu thị trường trong nước thấp (58,5%), nhu cầu thị trường quốc tế thấp (55,4%), thiếu nguyên, nhiên, vật liệu (46,2%), thiết bị công nghệ lạc hậu (32,3%), tính cạnh tranh của hàng nhập khẩu cao và Không tuyển dụng được lao động theo yêu cầu (30,8%), lãi suất vay vốn cao (24,6%), khó khăn về tài chính (23,1%), lý do khác (15,4%), chính sách pháp luật của Nhà nước (13,9%), ...
7. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
Trong sáu tháng đầu năm 2026, sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn thành phố Huế tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ổn định. Mặc dù chịu ảnh hưởng cục bộ của nắng nóng và xâm nhập mặn tại một số khu vực, nhưng nhìn chung điều kiện sản xuất cơ bản thuận lợi, dịch bệnh trên cây trồng và vật nuôi được kiểm soát tốt. Các địa phương chủ động triển khai giải pháp ứng phó thời tiết cực đoan, đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp điều kiện từng vùng, góp phần bảo đảm tiến độ sản xuất. Trong đó, trồng trọt đạt kết quả tích cực, lúa vụ Đông Xuân được mùa, vụ Hè Thu gieo cấy đúng khung thời vụ, năng suất và sản lượng nhiều loại cây trồng tăng so với cùng kỳ; chăn nuôi phục hồi nhờ giá bán sản phẩm duy trì ở mức thuận lợi, tạo điều kiện tái đàn; lâm nghiệp tăng khá do nhu cầu gỗ nguyên liệu tiếp tục gia tăng; thủy sản duy trì hoạt động ổn định.
7.1. Nông nghiệp
* Cây hằng năm
Tính đến ngày 20/6/2026, diện tích gieo cấy lúa vụ Hè Thu đạt 25.008 ha, giảm 1,0% so với cùng kỳ. Trong vụ này, nắng nóng cục bộ xảy ra trong tháng đã ảnh hưởng đến tiến độ gieo trồng một số loại cây, nhiều khu vực thiếu nước phải chuyển đổi sang cây trồng phù hợp hơn. Diện tích gieo trồng một số cây trồng hằng năm như sau: ngô đạt 1.004 ha, tăng 10,6%; khoai lang 438 ha, tăng 12,3%; lạc 1.775 ha, giảm 13,3%; rau các loại 3.153 ha, tăng 0,4%; đậu các loại 517 ha, tăng 0,8% so với cùng kỳ.
Vụ Đông Xuân năm 2026 diễn ra trong điều kiện thời tiết khá thuận lợi, không xảy ra rét đậm, rét hại và không có mưa trái mùa. Diện tích gieo trồng cây lúa thành phố đạt 27.587 ha, giảm 1,1% so với vụ Đông Xuân năm 2025. Cơ cấu giống lúa vụ Đông Xuân tập trung giống ngắn ngày và cực ngắn chiếm 97%, giống dài và trung ngày (4B, Nếp,…) chiếm 3%. Các giống lúa thuộc nhóm chất lượng cao như HT1, HN6, J02, HG12, HG244,... có diện tích khoảng 15.994 ha. Tỷ lệ giống xác nhận trên 94%. Nhờ thời tiết thuận lợi cùng việc đẩy mạnh ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, công tác phòng trừ sâu bệnh được thực hiện hiệu quả, năng suất lúa vụ Đông Xuân năm 2026 tăng khá so với cùng kỳ. Năng suất lúa ước đạt 67,0 tạ/ha, tăng 4,7 tạ/ha, tương ứng tăng 7,6% so với vụ Đông Xuân năm 2025; sản lượng ước đạt 184.916 tấn, tăng 6,3%.
Năng suất và sản lượng hầu hết cây trồng hằng năm vụ Đông Xuân 2026 tăng so với cùng kỳ. Cụ thể, năng suất ngô đạt 44,9 tạ/ha, tăng 2,5%; khoai lang đạt 64,1 tạ/ha, tăng 6,5%; lạc đạt 26,0 tạ/ha, tăng 3,6%; rau các loại đạt 129,9 tạ/ha, tăng 2,9%. Về sản lượng, ngô đạt 4.134,4 tấn, tăng 6,0%; khoai lang 2.181 tấn, tăng 7,0%; sắn 21.820 tấn, tăng 4.162,3 tấn, tăng 23,6%. Ở chiều ngược lại, sản lượng một số cây giảm, gồm lạc đạt 4.195,9 tấn, giảm 12,6%; rau các loại 23.750,1 tấn, giảm 0,1% so với cùng kỳ.
Nhìn chung, các loại cây trồng được gieo trồng, chăm sóc đúng khung thời vụ, sinh trưởng tốt; năng suất và sản lượng nhiều loại cây trồng đạt khá. Thị trường tiêu thụ nông sản tương đối ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất.
* Cây lâu năm
Ước tính đến ngày 30/6/2026, diện tích cây lâu năm trên địa bàn thành phố đạt 9.288 ha, giảm 120,4 ha, tương ứng giảm 1,3% so với cùng kỳ. Mặ dù tổng diện tích giảm nhưng cơ cấu cây lâu năm tiếp tục chuyển dịch theo hướng nâng cao hiệu quả kinh tế. Một số loại cây ăn quả có giá trị kinh tế cao vẫn duy trì xu hướng tăng, như chuối đạt 839 ha, tăng 1,2%; cam đạt 374 ha, tăng 0,9%; bưởi, thanh trà đạt 1.508 ha, tăng 1,0% so với cùng kỳ. Riêng, diện tích cây cao su giảm 3,2%, còn 4.755 ha, giảm tập trung chủ yếu tại các xã A Lưới 4 giảm 21 ha, A Lưới 5 giảm 35 ha và Bình Điền giảm 78 ha.
Trong sáu tháng đầu năm 2026, sản lượng thu hoạch cây lâu năm tăng so với cùng kỳ nhờ điều kiện thời tiết thuận lợi và công tác chăm sóc được duy trì tốt. Sản lượng chuối ước đạt 8.628 tấn, tăng 1,8%; cam đạt 947 tấn, tăng 1,4%; bưởi, thanh trà đạt 3.545 tấn, tăng 1,9%. Trong khi đó, sản lượng mủ cao su đạt 2.105 tấn, giảm 3,0% do diện tích khai thác thu hẹp và năng suất vườn cây giảm.
Cơ cấu diện tích cây lâu năm tiếp tục chuyển dịch theo hướng giảm diện tích các loại cây hiệu quả thấp, mở rộng các loại cây ăn quả có giá trị kinh tế và thị trường tiêu thụ thuận lợi, góp phần nâng cao giá trị sản xuất ngành trồng trọt.
* Chăn nuôi
Trong sáu tháng đầu năm 2026, hoạt động chăn nuôi trên địa bàn thành phố Huế tiếp tục phát triển ổn định; dịch bệnh trên đàn vật nuôi được kiểm soát tốt, công tác tiêm phòng, tiêu độc khử trùng và kiểm soát giết mổ được triển khai đồng bộ, góp phần bảo đảm an toàn dịch bệnh và duy trì tăng trưởng của ngành chăn nuôi.
Ước tính đến ngày 30/6/2026, đàn trâu đạt 15.023 con, tăng 0,8% so với cùng kỳ; đàn bò đạt 31.030 con, tăng 5,3%; đàn lợn (không bao gồm lợn con chưa tách mẹ) đạt 129.613 con, giảm 0,8%; đàn gia cầm đạt 5.077 nghìn con, tăng 1,2%.
Quy mô đàn vật nuôi trên địa bàn được duy trì ổn định. Đàn bò tăng khá nhờ hiệu quả kinh tế từ chăn nuôi bò thịt và việc mở rộng quy mô sản xuất của một số doanh nghiệp; đàn gia cầm tiếp tục tăng nhờ thị trường tiêu thụ thuận lợi. Riêng đàn lợn giảm nhẹ so với cùng kỳ, nhưng với giá lợn hơi duy trì ở mức cao, tạo điều kiện cho các cơ sở chăn nuôi tái đàn và mở rộng sản xuất trong thời gian đến, góp phần bảo đảm nguồn cung thực phẩm cho thị trường trong những tháng cuối năm.
Sản lượng thịt gia súc, gia cầm xuất chuồng trong sáu tháng đầu năm 2026 trên địa bàn đạt mức tăng trưởng khá nhờ hoạt động chăn nuôi ổn định, giá bán sản phẩm thuận lợi và nhu cầu tiêu dùng thực phẩm tăng. Sản lượng thịt trâu hơi ước đạt 476 tấn, tăng 1,3% so với cùng kỳ; thịt bò 673 tấn, tăng 4,3% so với cùng kỳ; thịt lợn 9.828 tấn, tăng 4,1%; thịt gia cầm 9.474 tấn, tăng 3,7%, trong đó thịt gà 5.776 tấn, tăng 4,4%; thịt vịt đạt 3.208 tấn, tăng 3,0% so với cùng kỳ.
Công tác phòng chống dịch bệnh cho đàn vật nuôi: tính đến 20/6/2026, thành phố đã tiêm được 20.284 liều vắc xin Tụ huyết trùng trâu bò (63% kế hoạch), 24.728 liều vắc xin tam liên lợn (96%), 5.800 liều E.coli (96%), 450.000 liều cúm gia cầm (90%), 363.800 liều dịch tả vịt (76%), 627.595 liều vắc-xin gia cầm, 50.750 liều LMLM (82%).
7.2. Lâm nghiệp
Tình hình sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn thành phố Huế sáu tháng đầu năm 2026 cơ bản ổn định. Công tác quản lý, bảo vệ rừng được tăng cường, góp phần nâng cao độ che phủ rừng, bảo vệ môi trường sinh thái và bảo đảm nguồn nguyên liệu cho chế biến lâm sản.
Diện tích rừng trồng mới tập trung trong tháng ước đạt 652 ha, tăng 1,2% so với cùng kỳ. Lũy kế 6 tháng đầu năm trồng được 4.427 ha, tăng 68 ha, tương ứng tăng 1,6%, chủ yếu là rừng sản xuất (chiếm 98,6%) với các loại cây trồng chính như keo, tràm. Phần lớn diện tích được trồng gối sau khai thác; đồng thời tiếp tục thực hiện chuyển đổi từ rừng gỗ nhỏ sang rừng gỗ lớn nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế rừng trồng.
Sản lượng gỗ khai thác: ước thực hiện trong tháng sản lượng gỗ khai thác đạt 98,9 nghìn m3, tăng 6,6 nghìn m3, tương ứng tăng 7,2% so với cùng kỳ. Luỹ kế 6 tháng đầu năm sản lượng khai thác gỗ đạt 436,9 nghìn m3, tăng 30,9 nghìn m3, tương ứng tăng 7,6%, là yếu tố chính đóng góp vào tăng trưởng ngành lâm nghiệp. Sản lượng tăng do nhu cầu nguyên liệu cho chế biến dăm gỗ, viên nén và bột giấy duy trì ở mức cao, thị trường tiêu thụ và giá thu mua ổn định.
Trong tháng 6 không ghi nhận vụ cháy rừng. Có 7 vụ phá rừng xảy ra với diện tích thiệt hại 0,62 ha, đều là rừng tự nhiên; nguyên nhân chủ yếu do người dân chuyển đổi đất rừng sang sản xuất. Tính chung 6 tháng đầu năm, toàn thành phố xảy ra 35 vụ phá rừng, diện tích thiệt hại 4,4 ha, tăng 21 vụ và tăng 2,8 ha so với cùng kỳ. Diễn biến phá rừng vẫn còn phức tạp tại một số địa phương, đòi hỏi tiếp tục tăng cường các biện pháp quản lý, bảo vệ rừng trong thời gian tới.
7.3. Thủy sản
Hoạt động thủy sản trên địa bàn thành phố Huế tháng 6 năm 2026 duy trì ổn định, không xảy ra dịch bệnh và thiệt hại lớn.Ước tính tổng sản lượng thủy sản trong tháng đạt 10.133 tấn, tăng 4,0% so với cùng kỳ. Lũy kế tổng sản lượng thủy sản 6 tháng đầu năm ước đạt 35.003 tấn, tăng 4,2% so với cùng kỳ, trong đó: sản lượng thủy sản khai thác đạt 25.744 tấn, tăng 4,2%; sản lượng nuôi trồng thủy sản đạt 9.259 tấn, tăng 4,3%.
Nuôi trồng thủy sản: hoạt động nuôi trồng được kiểm soát chặt chẽ, công tác phòng, chống dịch bệnh được triển khai hiệu quả, không để xảy ra dịch bệnh lớn. Diện tích nuôi thâm canh tôm sú và tôm thẻ chân trắng trong tháng ước đạt 52 ha, tăng 3,0% so với cùng kỳ. Lũy kế 6 tháng đầu năm ước đạt 482 ha, tăng 1,7%. Sản lượng nuôi trồng thủy sản trong tháng ước đạt 3.913 tấn, tăng 3,8% so với cùng kỳ. Lũy kế 6 tháng đầu năm ước đạt 9.259 tấn, tăng 4,3%, trong đó cá 5.655 tấn, tăng 4,0%; tôm 3.167 tấn, tăng 4,9%; thủy sản khác 437 tấn, tăng 3,6% so với cùng kỳ.
Khai thác thủy sản: hoạt động khai thác diễn ra trong điều kiện thời tiết thuận lợi, tập trung chủ yếu ở khai thác biển. Hiện nay, sản lượng thủy sản biển dồi dào, ngư dân tích cực vươn khơi khai thác các loài chủ yếu như cá ngừ, cá thu, cá nục, cá trích, cá hố…
Tổng số tàu thuyền khai thác biển có động cơ và tàu dịch vụ hậu cần tại thời điểm 01/6/2026 là 2.197 chiếc, giảm 2,0% so với cùng kỳ, trong đó tàu có công suất từ 90CV trở lên đạt 430 chiếc, chiếm 19,6%. Nhiều tàu cá đã được đầu tư nâng cấp trang thiết bị, ngư cụ nhằm nâng cao hiệu quả khai thác và phát triển nghề cá bền vững.
Sản lượng thủy sản khai thác trong tháng đạt 6.220 tấn, tăng 4,2% so với cùng kỳ; trong đó sản lượng khai thác biển trong tháng ước đạt 5.654 tấn, tăng 4,4%. Lũy kế 6 tháng đầu năm sản lượng thủy sản khai thác ước đạt 25.744 tấn, tăng 4,2% so với cùng kỳ; trong đó khai thác biển đạt 23.849 tấn, tăng 4,3%, gồm cá 20.950 tấn, tăng 4,4%; tôm 556 tấn, tăng 4,1%; thủy sản khác 2.343 tấn, tăng 3,9%.
Trong kỳ, không ghi nhận trường hợp tàu cá vi phạm quy định khai thác bất hợp pháp (IUU), cho thấy hiệu quả công tác quản lý nghề cá và ý thức chấp hành của ngư dân tiếp tục được nâng cao.
8. Sản xuất công nghiệp
Trong sáu tháng đầu năm 2026, hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn thành phố Huế chịu tác động của việc chi phí năng lượng tăng cao, làm gia tăng chi phí đầu vào và tạo áp lực đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp. Tuy nhiên, với sự phục hồi và tăng trưởng tích cực của một số ngành công nghiệp chủ lực như sản xuất ô tô, bia và sợi, ngành công nghiệp của thành phố vẫn duy trì được đà tăng trưởng khá. Bên cạnh đó, năng lực sản xuất tiếp tục được mở rộng khi một số dự án mới đi vào hoạt động, tiêu biểu như Nhà máy sản xuất mũ bảo hiểm Eon Industry Việt Nam, dự án sản xuất thạch anh bán dẫn của Công ty TNHH America Quartz Technology và dự án mở rộng Nhà máy sản xuất đồ chơi Billionmax Việt Nam. Các dự án này đã góp phần nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp, tạo thêm việc làm và thúc đẩy tăng trưởng của toàn ngành. Ước tính chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 6 năm 2026 tăng 10,3% so với tháng cùng kỳ; tính chung 6 tháng đầu năm 2026, chỉ số IIP tăng 10,2% so với cùng kỳ.
Chỉ số IIP tháng 6 năm 2026 tăng 10,3% so với cùng kỳ, trong đó: ngành công nghiệp khai khoáng giảm 7,3%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 17,1%; sản xuất và phân phối điện giảm 7,0%; cấp nước và thu gom rác thải tăng 3,8%. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026 chỉ số IIP tăng 10,2% so với cùng kỳ, trong đó: ngành công nghiệp khai khoáng tăng 9,3%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13,4%; cấp nước và thu gom rác thải tăng 6,8%. Riêng sản xuất và phân phối điện giảm 13,2%.
Các ngành công nghiệp cấp 4 trong sáu tháng đầu năm 2026 có chỉ số sản xuất tăng so với cùng kỳ: khai thác quặng kim loại (+12,0%); sản xuất đồ uống có cồn (+22,6%); sản xuất sợi (+9,3%); may trang phục (+5,1%); Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (+10,3%); sản xuất sản phẩm khác từ cao su (+16,3%); sản xuất sản phẩm từ plastic (+119,4%); sản xuất xi măng, vôi, thạch cao (+8,8%); sản xuất ô tô (+25,4%); sản xuất linh kiện điện tử (+4,9 lần); sản xuất đồ chơi (+29,3%); sản xuất khác chưa được phân vào đâu (+7,3 lần)...
Bên cạnh những dấu hiệu tích cực, hiện nay một số ngành sản xuất công nghiệp vẫn đang gặp không ít khó khăn, dự ước các ngành công nghiệp cấp 4 trong sáu tháng đầu năm 2026 có chỉ số sản xuất giảm so với cùng kỳ như: sản xuất vật liệu xây dựng từ đất sét (-9,1%); sản xuất giường, tủ, bàn ghế gỗ (-11,6%); sản xuất, truyền tải và phân phối điện (-13,2%)...
Các sản phẩm công nghiệp ước sáu tháng đầu năm 2026 tăng so với cùng kỳ: quặng inmenit và tinh quặng inmenit 11,8 nghìn tấn (+12,0%); đồ uống có cồn 172,2 triệu lít (+18,4%); sợi 64,6 nghìn tấn (+14,5%); quần áo lót cho người lớn không dệt kim hoặc đan móc 186,4 triệu cái (+5,1%); vỏ bào, dăm gỗ 464,4 nghìn tấn (+19,5%); găng tay, găng hở ngón và găng bao tay bằng cao su lưu hoá 8,3 nghìn tấn (+17,1%); hàng may mặc và đồ phụ trợ may mặc bằng plastic 8,5 nghìn tấn (+47,3%); ô tô 2.599 chiếc (+23,0%)...
Các sản phẩm công nghiệp sáu tháng đầu năm 2026 giảm so với cùng kỳ: cát trắng chế biến 36,8 triệu m3 (-11,1%); giấy và bìa nhăn 2.551 tấn (-12,6%); tấm lát đường và vật liệu lát, gạch ốp tường 4.675 nghìn m2 (-23,3%); đôlômít đã nung hoặc nung kết, hỗn hợp đôlômít dạng nén 107,6 nghìn tấn (-6,2%); các sản phẩm bằng đá hoặc bằng các chất liệu khoáng khác chưa được phân vào đâu 19,3 nghìn tấn (-48,3%); điện sản xuất 857 triệu Kwh (-20,9%)…
9. Thương mại, dịch vụ
Trong sáu tháng đầu năm 2026, hoạt động thương mại, dịch vụ trên địa bàn thành phố Huế duy trì đà tăng trưởng khá, nhờ nhu cầu tiêu dùng dân cư tăng, cùng sự phát triển mạnh của ngành du lịch và tác động lan tỏa từ chuỗi sự kiện văn hóa, lễ hội diễn ra liên tục trong nửa đầu năm. Nổi bật là các hoạt động thuộc khuôn khổ Festival Huế 2026 như tuần lễ Festival nghệ thuật quốc tế Huế, hội chợ Festival Huế 2026, ngày hội Sen Huế, Festival mùa Hạ, cùng các sự kiện văn hóa - du lịch đặc sắc như Tuần lễ Phật đản, lễ hội Ẩm thực chay, ngày hội làng Dương Nỗ, chương trình quảng bá “Lăng Cô - Vịnh đẹp thế giới”, ngày hội văn hóa, thể thao và du lịch các dân tộc miền núi. Bên cạnh đó, các kỳ nghỉ lễ kéo dài như Tết Nguyên đán, giỗ tổ Hùng Vương và lễ 30/4 - 01/5 đã thu hút lượng lớn du khách trong và ngoài nước đến tham quan, nghỉ dưỡng và mua sắm, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng thương mại, lưu trú, ăn uống, lữ hành và vận tải trên địa bàn thành phố.
9.1. Bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng sáu tháng đầu năm 2026 duy trì mức tăng trưởng khá, phản ánh sức mua trên thị trường được cải thiện và sự phát triển tích cực của các hoạt động dịch vụ. Đặc biệt, nhóm dịch vụ lưu trú, ăn uống và lữ hành đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn mức tăng chung, cho thấy du lịch tiếp tục là động lực quan trọng thúc đẩy khu vực thương mại, dịch vụ của thành phố.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 6/2026 ước đạt 6.603 tỷ đồng, tăng 4,0% so với tháng trước và tăng 19,8% so với cùng kỳ. Chia theo ngành kinh tế: Doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 4.512 tỷ đồng, chiếm 68,3% tổng số, tăng 1,5% so với tháng trước và tăng 14,8% so với cùng kỳ, nguyên nhân tăng so với tháng trước là do giá bán lẻ xăng dầu được điều chỉnh tăng và nhu cầu đi lại của người dân, du khách tăng trong mùa hè; thời tiết thuận lợi cho hoạt động xây dựng dân sinh và sửa chữa nhà ở; nhu cầu mua sắm phục vụ du lịch và mùa hè; các cơ sở kinh doanh vật phẩm giáo dục chuẩn bị nguồn hàng cho năm học mới. Doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống tháng 6/2026 ước đạt 1.590 tỷ đồng, chiếm 24,1%, tăng 11,9% so với tháng trước và tăng 35,9% so với cùng kỳ. Doanh thu dịch vụ lữ hành ước đạt 42 tỷ đồng, chiếm 0,6%, tăng 16,7% và tăng 35,4%. Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 459 tỷ đồng, chiếm 7,0%, tăng 3,4% và tăng 20,5%.
Dự ước tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng quý II/2026 đạt 18.289 tỷ đồng, tăng 18,1% so với cùng kỳ, trong đó, doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 13.068 tỷ đồng, tăng 15,4%; dịch vụ lưu trú và ăn uống đạt 3.732 tỷ đồng, tăng 23,6%; du lịch lữ hành 109 tỷ đồng, tăng 18,0%; dịch vụ khác đạt 1.379 tỷ đồng, tăng 30,6%. Đưa tổng mức bán lẻ hàng hóa doanh thu dịch vụ tiêu dùng 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 37.456 tỷ đồng, tăng 17,9% so với cùng kỳ. Trong đó: doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 26.425 tỷ đồng, chiếm 70,5% tổng số và tăng 15,1%; dịch vụ lưu trú và ăn uống 8.082 tỷ đồng, chiếm 21,6% và tăng 26,5%; du lịch lữ hành 218 tỷ đồng, chiếm 0,6% và tăng 21,0%; dịch vụ khác 2.731 tỷ đồng, chiếm 7,3% và tăng 22,6%.
9.2. Vận tải hành khách và hàng hóa
Trong sáu tháng đầu năm 2026, các hoạt động văn hóa, du lịch, lễ hội diễn ra sôi động cùng với sự gia tăng lượng khách du lịch đến Huế đã tác động tích cực đến hoạt động vận tải hành khách. Đồng thời, nhiều dự án đầu tư xây dựng được triển khai trên địa bàn đã làm gia tăng nhu cầu vận chuyển nguyên vật liệu, thiết bị phục vụ thi công, góp phần thúc đẩy vận tải hàng hóa tăng trưởng khá.
Dự ước hành khách vận chuyển tháng 6/2026 đạt 4,5 triệu hành khách, tăng 3,5% so với tháng trước và tăng 23,0% so với cùng kỳ; hành khách luân chuyển đạt 222,9 triệu hành khách.km, tăng 3,3% so với tháng trước và tăng 23,8% so với cùng kỳ. Dự ước vận tải hành khách quý II/2026 đạt 13,2 triệu hành khách, tăng 20,5% so với cùng kỳ và 531,8 triệu hành khách.km, tăng 21,6%. Đưa vận tải hành khách 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 25,5 triệu hành khách, tăng 20,9% so với cùng kỳ và luân chuyển ước đạt 1.250,9 triệu hành khách.km, tăng 21,4%.
Dự ước hàng hóa vận chuyển tháng 6/2026 ước đạt 2,4 triệu tấn, tăng 2,0% so với tháng trước và tăng 13,8% so với cùng kỳ; hàng hóa luân chuyển đạt 202,5 triệu tấn.km, tăng 2,2% so với tháng trước và tăng 13,3% so với cùng kỳ. Dự ước vận tải hàng hóa quý II/2026 đạt 7,2 triệu tấn, tăng 14,3% và 595,5 triệu tấn.km, tăng 13,8% so với cùng kỳ. Đưa hàng hóa vận chuyển 6 tháng năm 2026 ước đạt 14,2 triệu tấn, tăng 15,1% và luân chuyển hàng hóa đạt 1.176,4 triệu tấn.km, tăng 14,6% so với cùng kỳ.
Dự ước doanh thu vận tải và bốc xếp tháng 6 năm 2026 đạt 626,7 tỷ đồng, tăng 2,5% so với tháng trước và tăng 19,8% so với cùng kỳ. Doanh thu vận tải, bốc xếp quý II/2026 ước đạt 1.834,7 tỷ đồng, tăng 19,2% so với cùng kỳ. Đưa doanh thu vận tải, bốc xếp 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 3.588,3 tỷ đồng, tăng 19,7% so với cùng kỳ. Chia theo loại hình dịch vụ: doanh thu vận tải hành khách ước đạt 798,5 tỷ đồng, tăng 23,4%; vận tải hàng hóa ước đạt 2.437,1 tỷ đồng, tăng 16,3%; dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 352,7 tỷ đồng, tăng 38,2%. Trong đó doanh thu vận tải bao gồm: đường bộ đạt 3.232,2 tỷ đồng, tăng 18,0%; đường sông đạt 3,4 tỷ đồng, tăng 25,0%.
9.3. Lượt khách các cơ sở lưu trú phục vụ và du lịch lữ hành
Hoạt động du lịch trên địa bàn thành phố trong sáu tháng đầu năm 2026 diễn ra khá sôi động nhờ hiệu ứng tích cực từ các kỳ nghỉ lễ, Festival bốn mùa và nhiều chương trình kích cầu du lịch được tổ chức đồng bộ. Các cơ sở lưu trú, lữ hành và dịch vụ du lịch tiếp tục nâng cao chất lượng phục vụ, đa dạng hóa sản phẩm du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của du khách.
Dự ước lượt khách do cơ sở lưu trú phục vụ tháng 6/2026 đạt 267,7 nghìn lượt khách, tăng 4,6% so với tháng trước và tăng 25,1% so với cùng kỳ. Trong đó, lượt khách ngủ qua đêm tháng 6/2026 ước đạt 223 nghìn lượt khách, tăng 3,4% so với tháng trước và tăng 27,5% so với cùng kỳ; lượt khách trong ngày đạt 44,7 nghìn lượt khách, tăng 11,2% và tăng 14,4%.
Lượt khách lưu trú quý II/2026 đạt 784,6 nghìn lượt khách, tăng 22,2%; lượt khách qua đêm quý II/2026 đạt 660,5 nghìn lượt khách, tăng 24,3%; lượt khách trong ngày đạt 124,1 nghìn lượt khách, tăng 11,9%. Đưa lượt khách do các cơ sở lưu trú phục vụ sáu tháng đầu năm 2026 đạt 1.512,1 nghìn lượt, tăng 21,1% so với cùng kỳ. Trong đó, lượt khách ngủ qua đêm sáu tháng đầu năm đạt 1.275,4 nghìn lượt, tăng 23,4% so cùng kỳ. Trong lượt khách ngủ qua đêm, khách quốc tế 457,8 nghìn lượt, tăng 19,4%; khách trong nước 817,6 nghìn lượt, tăng 25,8% so với cùng kỳ. Lượt khách trong ngày sáu tháng đầu năm 2026 đạt 236,7 nghìn lượt, tăng 10,1% so với cùng kỳ.
Ngày khách dự ước tháng 6/2026 đạt 386,3 nghìn ngày, tăng 3,8% so với tháng trước và tăng 31,9% so với cùng kỳ. Trong đó: Ngày khách quốc tế đạt 79,8 nghìn ngày, giảm 16,8% so với tháng trước và tăng 18,6% so với cùng kỳ; ngày khách trong nước đạt 306,5 nghìn ngày, tăng 11,0% so với tháng trước và tăng 35,8% so với cùng kỳ.
Ngày khách dự ước quý II đạt 1.097,4 nghìn ngày, tăng 23,5%; chia ra: ngày khách quốc tế quý II/2026 ước đạt 301,3 nghìn ngày, tăng 11,7%; ngày khách trong nước quý II đạt 796,1 nghìn ngày, tăng 28,6%. Đưa ngày khách dự ước sáu tháng đầu năm đạt 2.164,7 nghìn ngày, tăng 25,1% so với cùng kỳ. Trong đó: Ngày khách quốc tế đạt 808,5 nghìn ngày, tăng 20,6%; ngày khách trong nước đạt 1.356,2 nghìn ngày, tăng 28,1%.
Lượt khách phục vụ của các cơ sở lữ hành thực hiện tháng 6/2026 ước đạt 22,4 nghìn lượt, tăng 9,8% với tháng trước và tăng 31,8% so với cùng kỳ; lượt khách lữ hành quý II ước đạt 64,6 nghìn lượt, tăng 24,7%; đưa lượt khách sáu tháng đầu năm ước đạt 127,7 nghìn lượt, tăng 21,4% so với cùng kỳ. Ngày khách theo tour ước thực hiện tháng 6/2026 là 51,3 nghìn ngày, tăng 7,1% so với tháng trước và tăng 31,8% so với cùng kỳ; ngày khách theo tour quý II/2026 ước đạt 149,5 nghìn ngày, tăng 30,3%; đưa ngày khách theo tour sáu tháng đầu năm ước đạt 279,7 nghìn ngày khách, tăng 24,4% so với cùng kỳ.
10. Các vấn đề xã hội
10.1. Lao động việc làm
Trong sáu tháng đầu năm 2026, thành phố đã giải quyết việc làm cho 10.985 lao động (đạt 61,03% Kế hoạch), trong đó đưa 1.320 người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (đạt 55% kế hoạch). Bên cạnh đó, sự khởi sắc của các hoạt động dịch vụ và du lịch, đã thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước, góp phần gia tăng nhu cầu lao động trong các ngành dịch vụ, lưu trú, ăn uống và vận tải, qua đó tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động và thúc đẩy phát triển thị trường lao động trên địa bàn.
10.2. Đời sống dân cư
Trong sáu tháng đầu năm 2026, tình hình kinh tế xã hội trên địa bàn thành phố tiếp tục duy trì đà tăng trưởng và phát triển tích cực, tạo nền tảng thuận lợi cho việc nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân. Sự phát triển của các ngành kinh tế đã góp phần tạo thêm việc làm, nâng cao thu nhập và cải thiện điều kiện sống của người dân. Bên cạnh đó, các chính sách an sinh xã hội và hỗ trợ giải quyết việc làm được triển khai kịp thời, đầy đủ và đúng đối tượng. Tổng hợp kết quả khảo sát mức sống dân cư 6 tháng năm 2026, thu nhập bình quân đầu người của toàn thành phố tăng 11,2% so với cùng kỳ.
10.3. Chính sách xã hội
Chính sách người có công: Công tác chăm lo người có công với cách mạng tiếp tục được thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng đối tượng và đúng quy định. Sáu tháng đầu năm 2026, toàn thành phố chi trả trợ cấp hàng tháng và hỗ trợ đột xuất với tổng số tiền 252,1 tỷ đồng. Trong đó, dịp tết Nguyên đán đã trao tặng 60.231 suất quà, tổng kinh phí 17,7 tỷ đồng. Chương trình “Hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát cho con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học” trên địa bàn thành phố được triển khai hiệu quả. Thành phố đã phê duyệt danh sách 83 hộ cần hỗ trợ, với tổng kinh phí 3,7 tỷ đồng; trong đó có 40 hộ xây mới và 43 hộ sửa chữa nhà ở. Đây là hoạt động có ý nghĩa nhân văn sâu sắc, thể hiện trách nhiệm, tình cảm và đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa”.
Bảo trợ xã hội: Các chính sách đối với những đối tượng bảo trợ xã hội trên địa bàn thành phố tiếp tục được triển khai và thực hiện có hiệu quả. Hỗ trợ cho các đối tượng bảo trợ xã hội theo Nghị định 20/2021/NĐ-CP trong 6 tháng đầu năm, thành phố đã chi trả với tổng số tiền là 338,4 tỷ đồng. Việc chi trả được thực hiện kịp thời, đầy đủ, đúng đối tượng, đảm bảo mức hỗ trợ theo quy định, góp phần ổn định và nâng cao đời sống người dân. Đến nay trên địa bàn thành phố có 79.631 đối tượng bảo trợ xã hội đang hưởng trợ cấp xã hội, trợ cấp hưu trí xã hội tại cộng đồng, với tổng kinh phí chi trả 52,1 tỷ đồng/tháng.
Công tác giảm nghèo: thành phố triển khai nhiều chính sách hỗ trợ đối với hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn và các hộ chính sách xã hội khác không trùng với các đối tượng tại Nghị định 20/2021/NĐ-CP. Các chính sách tập trung vào những lĩnh vực thiết yếu như hỗ trợ giáo dục, tín dụng ưu đãi, đào tạo nghề, giải quyết việc làm, phát triển sản xuất, hỗ trợ về nhà ở. Sáu tháng đầu năm đã hỗ trợ 20,7 tỷ đồng, giảm 16,5% so với cùng kỳ năm 2025; qua đó khẳng định nỗ lực của thành phố trong việc duy trì chính sách giảm nghèo bền vững và bảo đảm mọi đối tượng khó khăn đều được quan tâm, hỗ trợ kịp thời.
10.4. Giáo dục và đào tạo
Năm học 2025-2026, thành phố có 566 trường mầm non và phổ thông (trường Mầm non: 206; trường Tiểu học: 191; trường THCS: 129 (trong đó TH&THCS: 19, trường THCS: 110); trường THPT: 40 (trong đó trường THCS&THPT:2; trường TH&THCS&THPT: 2); có 4 trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên khu vực 1, 2, 3, 4 và 1 trung tâm Giáo dục thường xuyên thành phố.
Hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học được quan tâm đầu tư. Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia đạt 78,48%, trong đó: cấp MN 70,5%, cấp TH 89,5%, cấp THCS 82,2% và cấp THPT 55%.
Năm học 2025-2026, thành phố Huế tiếp tục khẳng định vị thế là địa phương có chất lượng giáo dục mũi nhọn hàng đầu cả nước. Tại Kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia THPT, có 90/108 học sinh đạt giải, đạt tỷ lệ 83,3% (tỷ lệ chung toàn quốc 59%), tăng 4,6% so với năm học 2024–2025 (78,7%). Kết quả gồm 04 giải Nhất, 20 giải Nhì, 34 giải Ba và 32 giải Khuyến khích; 100% môn thi có học sinh đạt giải. Trường THPT Chuyên Khoa học Huế có 37 học sinh dự thi, trong đó có 04 học sinh đạt giải. Có 05 học sinh được lựa chọn vào vòng 2 để tiếp tục bồi dưỡng, tuyển chọn tham gia các đội tuyển dự thi Olympic quốc tế, gồm: Tin học (01), Vật lí (02), Sinh học (01), Hóa học (01). Trong đó có 01 em được chọn tham gia Kỳ thi Olympic Tin học Châu Á – Thái Bình Dương. Có 01 học sinh đạt giải Nhì cuộc thi Quý chương trình Đường lên đỉnh Olympia năm thứ 26 (học sinh Trường THPT Nguyễn Huệ).
Chiều ngày 12/6, diễn ra Vòng Bán kết cuộc thi “Giải pháp đổi mới sáng tạo Đại học Huế lần thứ 2, năm 2026”. Quy tụ 20 đội thi tiêu biểu được tuyển chọn từ cấp cơ sở, đại diện cho tinh thần đổi mới sáng tạo của đội ngũ viên chức, người lao động, sinh viên toàn Đại học Huế. Nhiều dự án được đánh giá cao nhờ tính sáng tạo, khả năng ứng dụng thực tiễn, tiềm năng phát triển và tác động tích cực đối với cộng đồng.
10.5. Tình hình y tế, dịch bệnh
Sở Y tế đã ban hành Kế hoạch 1249/KH-SYT ngày 16/03/2026 về kế hoạch phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2026 trên địa bàn thành phố Huế. Đồng thời, để chủ động triển khai các hoạt động phòng, chống dịch, không để dịch bệnh bùng phát và lây lan diện rộng, Sở Y tế đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo triển khai các biện pháp phòng, chống dịch bệnh, đảm bảo tất cả ca bệnh được phát hiện từ sớm.
Hoạt động khám chữa bệnh BHYT trên toàn thành phố 6 tháng đầu năm 2026: Tổng số lượt khám chữa bệnh BHYT là 1.028.297 lượt, trong đó 896.788 lượt khám chữa bệnh ngoại trú và 131.509 lượt khám chữa bệnh nội trú.
Tháng 6/2026, trên địa bàn có 62 ca sốt xuất huyết, tăng 44 ca so cùng kỳ; có 14 ca mắc tay chân miệng, giảm 7 ca so với cùng kỳ. Sáu tháng đầu năm, trên địa bàn có 137 ca sốt xuất huyết, tăng 8 ca so cùng kỳ; có 186 ca mắc tay chân miệng, tăng 57 ca so với cùng kỳ; 4 ca liên cầu lợn, tăng 4 ca so với cùng kỳ.
Tháng 5/2026, trên địa bàn đã phát hiện 5 ca nhiễm mới HIV, giảm 7 ca so cùng kỳ; 1 ca chuyển qua AIDS, giảm 1 ca so với cùng kỳ; không có ca tử vong, bằng cùng kỳ. Năm tháng đầu năm, trên địa bàn có 28 ca nhiễm mới HIV, giảm 17 ca so cùng kỳ; 5 ca chuyển qua AIDS, giảm 6 ca so với cùng kỳ; 1 ca tử vong, giảm 1 ca so với cùng kỳ. Hiện tại, trên địa bàn có 605 bệnh nhân đang được quản lý và điều trị tại các cơ sở y tế, trong đó có 600 bệnh nhân điều trị ARV.
Tháng 6/2026, trên địa bàn xảy ra 1 vụ ngộ độc thực phẩm, tăng 1 vụ so với cùng kỳ, làm 4 người bị ngộ độc và không có người chết. Sáu tháng đầu năm, trên địa bàn xảy ra 3 vụ ngộ độc thực phẩm, tăng 3 vụ so với cùng kỳ, làm 29 người bị ngộ độc và không có người chết.
10.6. Hoạt động văn hóa, thể thao
Trong 6 tháng đầu năm 2026, tổ chức thành công các lễ hội, sự kiện văn hóa: Lễ hội Đền Huyền Trân năm 2026 với chủ đề “Ngưỡng vọng tiền nhân - Dấu thiêng mở cõi”; Lễ hội Điện Huệ Nam tháng 3 Âm lịch. Ngày hội Văn hóa, Thể thao và Du lịch các dân tộc miền núi thành phố Huế từ ngày 29/5/2026 đến ngày 31/5/2026 tại các xã A Lưới 1, A Lưới 2, A Lưới 3 với nhiều hoạt động phong phú, sôi động, thu hút hơn 20.000 du khách và Nhân dân tham gia.
Tổ chức và phối hợp tổ chức nhiều giải thể thao quốc gia trên địa bàn thành phố, tiêu biểu như: Giải Cờ vua - Cờ tướng trẻ miền Trung lần thứ XXII và Giải Bơi, Lặn vô địch quốc gia (bể 25m) năm 2026; Giải vô địch Đá cầu xuất sắc quốc gia; Giải vô địch các Câu lạc bộ Vật cổ điển, Vật tự do quốc gia, Giải vô địch Bóng rổ 3x3 U20, U23 quốc gia. Kết quả thi đấu đạt nhiều thành tích nổi bật với 250 huy chương các loại, gồm 74 HCV, 67 HCB và 109 HCĐ.
Bên cạnh đó, tổ chức nhiều hoạt động thể thao quần chúng nổi bật như các hoạt động mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ; Tháng hoạt động thể dục thể thao cho mọi người và Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân; Giải Việt dã truyền thống thành phố Huế lần thứ XXXIV; Giải Marathon VNExpress Huế 2026 với hơn 8.000 người tham dự. Đồng thời, phối hợp tổ chức nhiều giải thể thao phong trào, giải truyền thống và giải học sinh như Giải Pickleball Huế mở rộng, Giải chạy “Chinh phục đỉnh Bạch Mã”, Giải bóng đá truyền thống học sinh THPT thành phố Huế lần thứ VI năm 2026. Phong trào TDTT cho người cao tuổi, người khuyết tật và gia đình thể thao tiếp tục được quan tâm; Chương trình bơi an toàn, phòng chống đuối nước trẻ em giai đoạn 2021 - 2030 được duy trì triển khai hiệu quả. Các hoạt động thể thao quần chúng góp phần nâng cao đời sống tinh thần, tăng cường sức khỏe nhân dân, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh và quảng bá hình ảnh thành phố Huế.
10.7. Tai nạn giao thông
Theo báo cáo của Công an thành phố, từ 15/5/2026 đến 14/6/2026, trên địa bàn đã xảy ra 24 vụ tai nạn giao thông, tăng 2 vụ so với cùng kỳ; làm 9 người chết, giảm 9 người so với cùng kỳ; làm bị thương 20 người, tăng 6 người so cùng kỳ. Sáu tháng đầu năm, trên địa bàn xảy ra 90 vụ tai nạn giao thông, giảm 25 vụ so với cùng kỳ; làm chết 53 người, giảm 4 người và làm bị thương 58 người, giảm 26 người so với cùng kỳ.
10.8. Tình hình cháy nổ và bảo vệ môi trường
Trong tháng 6/2026 trên địa bàn xảy ra 4 vụ cháy; tăng 3 vụ so cùng kỳ, bằng tháng trước. Các vụ cháy xảy ra tại nhà dân, xe tải và rừng thông; không có thiệt hại về người, thiệt hại ước khoảng 89 triệu đồng. Sáu tháng đầu năm, trên địa bàn xảy ra 16 vụ cháy, tăng 10 vụ so với cùng kỳ, làm 1 người chết, tổng giá trị thiệt hại 808,6 triệu đồng.
Trong tháng 6/2026 trên địa bàn xảy ra 3 vụ vi phạm môi trường, giảm 3 vụ so với cùng kỳ, tăng 1 vụ so với tháng trước. Các hình thức vi phạm: 1 vụ xả nước thải vượt quy chuẩn kỹ thuật, 2 vụ khai thác khoáng sản trái phép. Sáu tháng đầu năm, trên địa bàn xảy ra 24 vụ, giảm 47 vụ; tiến hành xử lý 23 vụ với số tiền xử phạt 3339,1 triệu đồng.
10.9. Thiệt hại do thiên tai
Tháng 6/2026 trên địa bàn xảy ra 1 vụ thiên tai, bằng cùng kỳ, tăng 1 vụ so với tháng trước. Cụ thể, vào ngày 18/6 trên địa bàn đã xảy ra mưa dông kèm sét và gió mạnh. Tình hình thiệt hại, về người: có 1 người bị thương, về nhà ở: 18 nhà bị tốc mái, về nông nghiệp: 112 cây xanh và 30 ha cây ăn quả bị thiệt hại, gãy đổ. Tổng giá trị thiệt hại ước tính khoảng 1,45 tỷ đồng. Chính quyền địa phương đã tổ chức, huy động lực lượng hỗ trợ người dân khắc phục hậu quả do thiên tai gây ra, sớm ổn định cuộc sống. Sáu tháng đầu năm, trên địa bàn xảy ra 1 vụ thiên tai, giảm 3 vụ so với cùng kỳ.
Tin khác