Chuyển đổi số để thực hiện tốt hơn sứ mệnh của báo chí trong kỷ nguyên số
- 17/12/2024 14:32
Chuyển đổi số để thực hiện tốt hơn sứ mệnh của báo chí trong kỷ nguyên sốTheo thống kê, hiện cả nước có 884 cơ quan báo chí (812 báo, tạp chí và 72 Đài Phát thanh truyền hình). Năm 2024, doanh thu của khối báo chí in, điện tử doanh thu ước đạt 8,08 nghìn tỉ đồng, giảm 6,1% so với năm 2023, trong đó quảng cáo giảm 5,6%. Tổng nguồn thu Khối Phát thanh, Truyền hình ước đạt trên 9,14 nghìn tỉ đồng, sụt giảm mạnh so năm 2023 (đạt 11.939 tỉ đồng).Trong năm 2024, mặc dù bối cảnh kinh tế trong nước và thế giới tiếp tục gặp nhiều khó khăn, song các cơ quan báo chí không ngừng trưởng thành, lớn mạnh, tiếp tục đẩy mạnh thông tin tuyên truyền việc triển khai, cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội XIII vào cuộc sống; tuyên truyền đậm nét, sâu rộng, có tính lan tỏa cao các sự kiện chính trị, ngoại giao quan trọng, ngày lễ lớn của đất nước. Chủ động đẩy mạnh tuyên truyền về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí. Đồng thời, thông tin, tuyên truyền công tác điều hành, công tác triển khai thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu kinh tế - xã hội có nhiều đổi mới, sáng tạo theo hướng bám sát, phản ánh thực tiễn sinh động, từ đó phân tích, lý giải và đề xuất, kiến nghị các giải pháp để thúc đẩy việc tổ chức thực hiện hiệu quả, chất lượng hơn. Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.Trước sự thay đổi nhanh chóng của kỹ thuật và công nghệ, các báo, đài, tạp chí đang chuyển mình mạnh mẽ, tích cực chuyển đổi số, thay đổi tổng thể và toàn diện kể cả phương thức, cách làm việc, mô hình tổ chức, hoạt động sáng tạo các tác phẩm báo chí, để xây dựng cơ quan báo chí theo hướng chuyên nghiệp, nhân văn, hiện đại; làm tốt sứ mệnh thông tin tuyên truyền phục vụ sự nghiệp Cách mạng của Đảng, sự nghiệp đổi mới của đất nước; đảm bảo vai trò dẫn dắt, định hướng dư luận xã hội, giữ vững chủ quyền thông tin trên không gian mạng; đổi mới hiệu quả trải nghiệm của độc giả; tạo nguồn thu mới; thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp nội dung số. Thực hiện chuyển đổi số báo chí là sẵn sàng chấp nhận thử thách, thử nghiệm cái mới để tham gia vào cuộc chiến không gian mạng. Bám sát sự phát triển và xu thế của báo chí hiện đại, hòa trong xu hướng chung của thời đại mới, các cơ quan báo chí đã tập trung đầu tư hạ tầng, tăng cường trang bị kiến thức và kỹ năng chuyên ngành, nâng cao tính chủ động và kỹ năng của nhà báo để phát triển nguồn nhân lực báo chí vừa “hồng” vừa “chuyên”, phát triển đa dạng sản phẩm báo chí số đáp ứng nhu cầu thông tin trong tình hình mới.Kết quả của chuyển đổi số báo chí là sự ra đời của các mô hình truyền thông mới như: Báo chí di động, Tòa soạn hội tụ, Báo chí mạng xã hội, Báo chí đa nền tảng, Báo chí đa phương tiện. Bên cạnh đó, sự tiến bộ trong công nghệ kỹ thuật hiện đại đã cho phép nhà báo sáng tạo thêm nhiều hình thức truyền thông hấp dẫn như podcast, video, megastory, infographic, long form, data journalism, media, lens... giúp nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính cạnh tranh của báo chí trong bối cảnh kỷ nguyên số.Các cơ quan báo chí ngày càng trưởng thành trong chuyển đổi sốNgày 24/10/2024, Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành Quyết định số 1827/QĐ-BTTTT thay thế Quyết định số 951/QĐ-BTTTT ngày 02/6/2023 về Bộ Chỉ số đánh giá, đo lường mức độ trưởng thành chuyển đổi số báo chí làm thước đo, đánh giá một cách thực chất, khách quan và công bằng kết quả thực hiện chuyển đổi số hàng năm của các cơ quan báo chí trong quá trình triển khai thực hiện Chiến lược chuyển đổi số báo chí đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 trên phạm vi toàn quốc.Bộ Chỉ số đánh giá, đo lường mức độ trưởng thành chuyển đổi số báo chí được dùng để theo dõi, đánh giá được hiện trạng thực hiện chuyển đổi số hàng năm của cơ quan báo chí, so sánh và xếp hạng mức độ chuyển đổi số của cơ quan báo chí; so sánh giữa các năm với nhau thấy được các điểm mạnh cần phát huy, những điểm yếu cần khắc phục và cung cấp thông tin hỗ trợ cho cơ quan báo chí và các cơ quan liên quan thực hiện các giải pháp chuyển đổi số phù hợp nhằm hoàn thành các mục tiêu đã đặt ra tại Chiến lược chuyển đổi số báo chí đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.Tương tự năm 2023, kết quả đánh giá, đo lường mức độ trưởng thành chuyển đổi số báo chí năm 2024 dựa trên 5 trụ cột Chiến lược (18 điểm); Hạ tầng số, nền tảng số và an toàn thông tin (24 điểm); Sự đồng nhất về tổ chức và chuyên môn (20 điểm); Độc giả, khán giả, thính giả (23 điểm) và Mức độ ứng dụng công nghệ số (15 điểm). Tổng điểm đánh giá đạt tối đa là 100 điểm.Mức độ trưởng thành chuyển đổi số báo chí của các cơ quan báo chí được xác định căn cứ vào tổng điểm đạt được của 5 trụ cột và được xếp theo 5 mức: Mức 1: dưới 50 điểm - ở mức Yếu; mức 2: từ 50 đến dưới 60 điểm - ở mức Trung bình; mức 3: từ 60 đến dưới 75 điểm - ở mức Khá; mức 4: từ 75 đến dưới 90 điểm - ở mức Tốt; mức 5: từ 90 điểm trở lên - ở mức Xuất sắc.Tháng 10/2024, cả nước có 351 cơ quan báo chí tham gia chương trình tập huấn, hướng dẫn cơ quan báo chí thực hiện đánh giá, đo lường mức độ trưởng thành chuyển đổi số do Trung tâm Hỗ trợ Chuyển đổi số báo chí tổ chức thuộc Cục Báo chí tổ chức. Sau tập huấn, có 339/351 đạt điều kiện được cấp tài khoản chính thức để thực hiện đo lường mức độ trưởng thành chuyển đổi số của đơn vị, bắt đầu từ ngày 1/11/2024 đến ngày 15/11/2024. Số liệu được sử dụng nhập liệu để đánh giá, đo lường mức độ trưởng thành chuyển đổi số báo chí năm 2024 là số liệu thực tế của đơn vị tính từ ngày 01/10/2023 đến ngày 31/10/2024; các tài liệu kiểm chứng cho mỗi tiêu chí được chọn phải có giá trị hiệu lực đến thời điểm công bố kết quả xếp hạng năm 2024.Năm nay, có 282 đơn vị thực hiện đánh giá, đo lường mức độ chuyển đổi số, trong đó: khối Báo Trung ương: 40 đơn vị; khối Báo Địa phương: 62 đơn vị; khối Tạp chí Trung ương và địa phương: 48 đơn vị; khối Tạp chí Khoa học: 67 đơn vị; khối Đài Phát thanh-Truyền hình: 65 đơn vị.Kết quả đánh giá mức độ trưởng thành chuyển đổi số báo chí được Bộ Thông tin và Truyền thông công bố hôm nay 16/12/2024 cho thấy, có 28 cơ quan báo chí đạt mức Xuất sắc (tăng 6,27% so với năm 2023); 65 đơn vị đạt mức Tốt (tăng 14,99% so với năm 2023); 55 đơn vị đạt mức Khá (tăng 6.31% so với năm 2023); 25 đơn vị đạt mức Trung bình (giảm 3,22% so với năm 2023); và 109 đơn vị đạt mức Yếu (giảm 24,35% so với năm 2023). Cụ thể, ở khối Báo Trung ương, có 10 cơ quan báo chí chuyển đổi số đạt mức Xuất sắc gồm: Báo Lao động (Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam); Báo VnExpress (Bộ Khoa học và Công nghệ); Báo điện tử VietnamPlus (Thông tấn xã Việt Nam); Báo Tin tức (Thông tấn xã Việt Nam); Báo Đại biểu nhân dân (Văn phòng Quốc hội); Báo Thanh niên (Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh); Báo Nhân Dân (Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam); Báo Vietnamnet (Bộ Thông tin và Truyền thông); Báo Nhà báo và Công luận (Hội Nhà báo Việt Nam); Báo điện tử VTCNews (Đài Tiếng nói Việt Nam).Ở khối Báo Địa phương, có 8 cơ quan báo chí chuyển đổi số đạt mức Xuất sắc gồm: Báo Khánh Hòa, Báo Lào Cai, Đài Phát thanh-Truyền hình và Báo Bình Phước, Báo Kinh tế và Đô thị (UBND TP Hà Nội), Báo Hải Dương, Báo Tuổi trẻ (Thành đoàn TP Hồ Chí Minh), Báo Nghệ An, Báo Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh.Khối Đài Phát thanh-Truyền hình có 10 cơ quan báo chí đạt mức Xuất sắc gồm: Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Phát thanh và Truyền hình Nghệ An, Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh Bắc Giang, Đài Phát thanh-Truyền hình Đà Nẵng, Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội, Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh Đắk Nông, Đài Phát thanh và Truyền hình Hưng Yên, Đài Phát thanh và Truyền hình Vĩnh Long, Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.Top 7 đơn vị dẫn đầu (mức Tốt) ở khối Tạp chí Trung ương và địa phương là: Tạp chí Hải quan (Tổng cục Hải quan, Bộ Tài chính); Tạp chí Ngân hàng (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam); Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam (Bộ Khoa học và Công nghệ); Tạp chí Cửa Việt (Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị); Tạp chí Công dân và Khuyến học (Hội Khuyến học Việt Nam); Tạp chí Bảo hiểm xã hội (Bảo hiểm xã hội Việt Nam); Tạp chí Lao động và Công đoàn (Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam).Top 5 đơn vị dẫn đầu (mức Tốt) khối Tạp chí Khoa học là: Tạp chí Khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh, Tạp chí Khoa học Trường đại học quốc tế Hồng Bàng, Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, Tạp chí Lý luận Chính trị (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh), Tạp chí Kinh tế và Dự báo (Viện Chiến lược phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư).So với năm 2023, số lượng cơ quan báo chí đạt mức Xuất sắc tăng 6,27% ; mức Tốt tăng 14,99%; mức Khá tăng 6.31%, mức Trung bình giảm 3,22% và mức Yếu giảm 24,35% cho thấy các cơ quan báo chí đang tích cực đầu tư cho chuyển đổi số, nhất là các đài phát thanh và truyền hình.Nguồn: https://consosukien.vn/
Tổng cục Thống kê họp quán triệt, triển khai thực hiện về mô hình tổ chức của Tổng cục Thống kê trong tình hình mới
- 06/12/2024 14:14
Quán triệt, triển khai chỉ đạo của Trung ương Đảng về tổng kết thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, sáng ngày 05/12/2024, Tổng cục Thống kê tổ chức họp trực tuyến về mô hình tổ chức của Tổng cục Thống kê (TCTK) trong tình hình mới. Tổng cục trưởng Nguyễn Thị Hương chủ trì cuộc họp.Tham dự trực tiếp cuộc họp, tại trụ sở cơ quan Tổng cục Thống kê tại Hà Nội có các Phó Tổng cục trưởng: Nguyễn Thanh Dương, Lê Trung Hiếu; Lãnh đạo các đơn vị hành chính và sự nghiệp thuộc Tổng cục; đại diện lãnh đạo các phòng, ban làm công tác nhân sự tại các đơn vị. Lãnh đạo các Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Phòng Tổ chức - hành chính thuộc các Cục tham dự trực tuyến cuộc họp tại các điểm cầu.Phát biểu khai mạc cuộc họp, Tổng cục trưởng Nguyễn Thị Hương cho biết, thực hiện chỉ đạo của Trung ương Đảng về quán triệt, triển khai tổng kết thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII "Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả", ngày 04/12/2024, Tổng cục trưởng đã ban hành Quyết định số 1469/QĐ-TTg về việc thành lập Ban Chỉ đạo về tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW tại TCTK. Tổng cục trưởng nhấn mạnh, việc thực hiện Nghị quyết 18 là một cuộc cách mạng lớn, mở đầu cho một kỷ nguyên vươn mình của dân tộc và đây cũng là cơ hội để ngành Thống kê hoàn thiện bộ máy, nâng cao chất lượng công tác thống kê, tiếp tục hoàn thành sứ mệnh được giao là phục vụ sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp từ Trung ương đến địa phương. Tổng cục trưởng Nguyễn Thị Hương nhấn mạnh việc tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của TCTK là cơ hội để ngành Thống kê hoàn thiện bộ máy, nâng cao chất lượng công tác thống kêTại cuộc họp, các đại biểu được nghe Vụ trưởng Vụ Thống kê nước ngoài và Hợp tác quốc tế Hoàng Thị Thanh Hà trình bày (báo cáo rút gọn) về mô hình tổ chức của một số cơ quan thống kê quốc gia sau nghiên cứu mô hình tổ chức của 196 nước trên thế giới, với 3 nội dung: (i) Tổng quan về hướng dẫn của Liên Hợp Quốc; (ii) Tổng hợp mô hình tổ chức của một số cơ quan thống kê của các quốc gia trên thế giới; (iii) Giới thiệu về mô hình tổ chức của Cơ quan Thống kê Trung Quốc.Theo Sổ tay hướng dẫn về Quản lý và Tổ chức thống kê của Liên Hợp Quốc được xuất bản lần đầu tiên năm 1952 tái bản lần thứ tư vào năm 2021, vai trò chính của các cơ quan thống kê quốc gia (CQTKQG) là cung cấp thông tin thống kê cho chính phủ và xã hội như “một phần không thể thiếu của xã hội dân chủ”, đây là tổ chức chính phủ duy nhất có chức năng về thống kê chính thức.Cơ cấu hành chính của CQTKQG được tổ chức theo nhiều cách khác nhau dựa trên lịch sử, môi trường chính trị, luật pháp và bối cảnh cụ thể của từng quốc gia. Có 3 hình thức cơ bản giúp phân biệt các hệ thống thống kê, từ đó ảnh hưởng đến cách tổ chức một CQTKQG đó là: Hệ thống thống kê tập trung (Úc, Ca-na-đa…); Hệ thống phân tán một phần (Mỹ, Anh); Hệ thống thống kê phân tán theo vùng. Vụ trưởng Vụ Thống kê nước ngoài và Hợp tác quốc tế Hoàng Thị Thanh Hà trình bày về mô hình tổ chứccủa một số cơ quan thống kê quốc giaTổ chức của CQTKQG có thể thực hiện theo 03 mô hình: Mô hình tổ chức theo phòng ban; Mô hình tổ chức theo chức năng; Mô hình tổ chức theo ma trận (kết hợp của mô hình tổ chức theo phòng ban và mô hình tổ chức theo chức năng với hình thức báo cáo kép).Trên cơ sở nghiên cứu mô hình tổ chức của 196 CQTKQG cho thấy, có 49% số cơ quan hoạt động theo mô hình tập trung; 22,4% số cơ quan hoạt động theo mô hình phân tán; 23% số cơ quan hoạt động theo mô hình vừa phân tán vừa tập trung và 5,6% cơ quan không có thông tin.Về tên gọi, đa số các quốc gia đặt tên là Cơ quan Thống kê quốc gia hoặc Cơ quan Thống kê Trung ương. Số ít các quốc gia gọi tên là Ủy ban; Thống kê kết hợp với tên nước; Bộ Thống kê hoặc TCTK kết hợp tên khác...Tiếp đến, trình bày tại cuộc họp, Phó Vụ trưởng phụ trách Vụ TCCB Phan Thị Ngọc cho biết, thực hiện Quyết định số 10/2020/QĐ-TTg ngày 18/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Thống kê thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư, TCTK đã sắp xếp lại bộ máy từ Trung ương đến địa phương. Phó Vụ trưởng phụ trách Vụ TCCB Phan Thị Ngọc báo cáo kết quả sắp xếp lại bộ máy từ Trung ương đến địa phương của TCTK sau 4 năm thực hiện Quyết định số 10/2020/QĐ-TTg ngày 18/3/2020 của Thủ tướng Chính phủCụ thể, tại Cơ quan Thống kê ở Trung ương đã sáp nhập 9 đơn vị sự nghiệp xuống còn 05 đơn vị, trong đó giảm 04 đơn vị tương đương cấp Vụ xuống cấp phòng; tổ chức lại 15 đơn vị hành chính thuộc cơ quan TCTK.Tại cơ quan thống kê ở địa phương, đã kiện toàn, sát nhập các phòng của 63 Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, thống nhất thực hiện mô hình 5 phòng. Kết quả giảm từ 425 phòng xuống còn 315 phòng, giảm 110 phòng. Đồng thời kiện toàn, sáp nhập các Chi cục Thống kê cấp huyện, giảm từ 705 Chi cục Thống kê cấp huyện xuống còn 565 Chi cục Thống kê huyện, khu vực (trong đó có 131 Chi cục Thống kê khu vực), giảm 140 Chi cục.Tại cuộc họp, các đại biểu đã phát biểu ý kiến liên quan đến đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của TCTK theo đúng tinh thần chỉ đạo của Đảng, Chính phủ.Kết luận cuộc họp, Tổng cục trưởng Nguyễn Thị Hương khẳng định, ngành Thống kê sẽ triển khai thực hiện rà soát, sắp xếp bộ máy tinh gọn, khoa học, hiệu quả theo đúng tinh thần, chủ trương của Trung ương và các văn bản chỉ đạo điều hành; lựa chọn những cán bộ, công chức, viên chức có đức, có tài, có tâm công hiến cho Ngành Thống kê, để ngành Thống kê hoàn thành sứ mệnh cung cấp thông tin thống kê kinh tế - xã hội một cách độc lập, khách quan, đảm bảo sự so sánh giữa các địa phương, giữa Việt Nam và các nước trên thế giới; từ đó phục vụ tốt cho sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Đảng, Chính phủ, chính quyền các cấp từ Trung ương đến địa phương./.Nguồn: https://consosukien.vn/
Tình hình Kinh tế - Xã hội tháng 11 và 11 tháng năm 2024 trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế
- 02/12/2024 14:11
1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sảnSản xuất nông nghiệp tháng 11 diễn ra khá thuận lợi, tình trạng ngập úng cục bộ do mưa lớn chỉ tập trung ở các vùng trũng, cây rau màu và các loại hoa mới gieo trồng ít chịu ảnh hưởng, đàn vật nuôi được bảo vệ tốt, dịch bệnh không xảy ra, tổng đàn lợn tại thời điểm 30/11/2024 ước tăng 0,9% so cùng kỳ; Sản lượng gỗ khai thác rừng trồng trong tháng tăng 9,9% cùng kỳ, công tác trồng rừng được các địa phương gấp rút triển khai trong những ngày thời tiết nắng ấm để đảm bảo kế hoạch đề ra; Sản xuất thủy sản duy trì phát triển, ước tăng 3,2 % so cùng kỳ.1.1. Nông nghiệpTrồng trọtTháng 11/2024, người dân đang triển khai gieo trồng cây hằng năm vụ Đông, chủ yếu là rau màu và hoa các loại phục vụ Tết Nguyên đán 2025. Tuy nhiên do ảnh hưởng của những cơn bão, trên địa bàn tỉnh xuất hiện mưa nhiều, gây ngập úng ở một số địa phương thuộc vùng trũng. Hiện nay, người dân đã và đang cày lật đất để chuẩn bị cho sản xuất vụ Đông Xuân năm 2025. Phòng nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cấp huyện đang đôn đốc các đơn vị rà soát nhu cầu giống lúa để có cơ sở đăng ký giống với các đơn vị cung cấp.Trong tháng, sản lượng sắn thu hoạch đạt 7.035 tấn, tăng 19,4% so với cùng kỳ. Lũy kế từ đầu năm sản lượng sắn thu hoạch đạt 80.240 tấn, tăng 8,2% so với cùng kỳ. Sản lượng rau các loại thu hoạch đạt 478,7 tấn, tăng 2,2% so với cùng kỳ. Lũy kế từ đầu năm, sản lượng rau đạt 45.613,7 tấn, tăng 1,8%.Chăn nuôiThời điểm 30/11/2024 ước tính tổng đàn trâu toàn tỉnh 15.074 con, giảm 1,9% so với cùng kỳ; đàn bò có 29.300 con, tăng 2,7%. Đàn trâu tiếp tục giảm do đô thị hóa ngày càng phát triển làm cho đồng cỏ chăn nuôi ngày càng thu hẹp, chăn nuôi tại các khu dân cư bị hạn chế nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Trên địa bàn tỉnh hiện đang tăng cường thực hiện các giải pháp phát triển chăn nuôi bò bền vững nên đàn bò có xu hướng tăngTổng đàn lợn thời điểm 30/11/2024 ước đạt 152.230 con, tăng 0,9% so với cùng kỳ. Hiện nay, dịch bệnh chưa phát sinh ở địa phương, nhưng đã xuất hiện ở một số tỉnh lân cận nên tâm lý người nuôi bị ảnh hưởng, chưa mạnh dạn đầu tư để tái đàn. Tổng đàn gia cầm thời điểm 30/11/2024 ước đạt 5.036 nghìn con, tăng 2,0% so với cùng kỳ. Trong đó, đàn gà 3.620 nghìn con, tăng 2,5%. Dịch bệnh trên gia cầm được kiểm soát tốt, mô hình chăn nuôi gia cầm theo hướng hiện đại, đảm bảo vệ sinh môi trường, tăng năng suất, hạn chế dịch bệnh, gắn với liên kết tiêu thụ đã tạo ra sản phẩm thịt gia cầm chất lượng, đảm bảo an toàn thực phẩm. Đặc biệt, chuỗi liên kết đã giúp người chăn nuôi an tâm đầu tư và mang lại hiệu quả kinh tế. Hiện nay, người chăn nuôi bắt đầu tập trung tái đàn, tạo nguồn cung thịt ra thị trường những tháng cuối năm và tết sắp tới.Công tác tiêm phòng trên đàn gia súc và gia cầm toàn tỉnh đến nay đã tiêm được 30.576 liều THT trâu bò (96% kế hoạch), 43.510 liều tam liên (89%), 6.810 liều E. coli (76%), 388.610 liều CGC (92%), 331.200 liều DTV (91%), 324.490 liều vắc xin Newcastle (86%), 10.780 liều THT gia cầm (72%), 109.370 liều Đậu gà (91%), 146.150 liều Gumboro (80%); LMLM lợn trang trại: 10.072 liều, 11.246 liều VDNC (36%); 31.325 liều LMLM (84%).1.2. Lâm nghiệpSản lượng gỗ khai thác trong tháng 11/2024 ước đạt 46.000 m3, giảm 0,1% so với cùng kỳ, trong đó toàn bộ là khai thác gỗ từ rừng trồng; sản lượng củi khai thác trong tháng ước đạt 6.000 ste, giảm 3,4% so với cùng kỳ. Lũy kế sản lượng gỗ khai thác 11 tháng đầu năm 2024 ước đạt 624.740 m3, tăng 9,9% so với cùng kỳ; sản lượng củi khai thác lũy kế đạt 85.180 ste giảm 2,2%Diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 810 ha, tăng 3,7% so với cùng kỳ. Lũy kế diện tích rừng trồng mới tập trung 11 tháng ước đạt 6.090 ha, tăng 4,0%. Trong tháng xảy ra 3 vụ phá rừng làm nương rẫy với diện tích 0,4 ha. Lũy kế 11 tháng xảy ra 25 vụ phá rừng làm nương rẫy giảm 9 vụ so với cùng kỳ, diện tích rừng bị phá 2,6 ha, giảm 4,1 ha so với cùng kỳ.1.3. Thủy sảnTình hình nuôi trồng thủy sản: diện tích nuôi trồng thủy sản tháng 11/2024 ước đạt 425 ha, tăng 1,7% so với cùng kỳ, bao gồm nuôi nước lợ 379 ha, tăng 2,2%; nuôi nước ngọt 46 ha, giảm 2,1%. Trong diện tích nuôi nước lợ chia ra nuôi cá 44 ha, tăng 4,8%; nuôi tôm 296 ha, tăng 1,7%; diện tích nuôi các loại thủy sản khác 39 ha, tăng 2,6%. Lũy kế tổng diện tích nuôi trồng thủy sản 11 tháng năm 2024 ước đạt 7.795 ha, tăng 1,3% so với cùng kỳ. Diện tích nuôi nước lợ 5.905 ha, tăng 2%; nuôi nước ngọt 1.890 ha, giảm 0,8%. Trong nuôi nước lợ bao gồm nuôi cá 1.826 ha, tăng 2,1%, nuôi tôm 3.008 ha, tăng 2,2%; nuôi các loại thủy sản khác 1.064 ha, tăng 1,3%; ươm, nuôi giống thủy sản 7 ha, bằng so với cùng kỳ. Sản xuất giống thủy sản trên địa bàn tỉnh trong tháng 11/2024 ước đạt 6,4 triệu con, tăng 4,9% so với cùng kỳ, trong đó tôm sú giống 1,1 triệu con, tăng 10%; cá giống các loại 5,3 triệu con, tăng 3,9%. Lũy kế số giống sản xuất được 11 tháng năm 2024 ước đạt 196,8 triệu con, tăng 1,8% so với cùng kỳ; trong đó tôm sú giống 104 triệu con, tăng 1,6 triệu con, tăng 1,2% so với cùng kỳ, cá giống các loại 90,8 triệu con, tăng 1,9 triệu con, tăng 2,1%, cua, ếch giống 2 triệu con, bằng so với cùng kỳ.Sản lượng thu hoạch trong tháng 11/2024 ước đạt 1.080 tấn, tăng 5,0% so với cùng kỳ. Chia ra sản lượng cá 727 tấn, tăng 5,8%; tôm các loại 290, tăng 2,8%; thủy sản khác 63 tấn, tăng 5,0%. Tính chung sản lượng thủy sản nuôi trồng 11 tháng năm 2024 ước đạt 19.565 tấn, tăng 4,9% so với cùng kỳ. Chia ra sản lượng cá các loại 11.552 tấn, tăng 5,2%; tôm các loại 6.790 tấn, tăng 4,7%; thủy sản khác 1.223 tấn, tăng 2,9%. Tình hình khai thác thủy sản: sản lượng khai thác thủy sản tháng 11/2024 ước đạt 1.725 tấn, tăng 2,9% so với cùng kỳ, trong đó khai thác biển 1.365 tấn, tăng 3,7%; khai thác nội địa 360 tấn, giảm 0,3%. Lũy kế sản lượng thủy sản khai thác 11 tháng năm 2024 ước đạt 41.350 tấn, tăng 2,4% so với cùng kỳ, trong đó khai thác biển 37.726 tấn, tăng 2,7%; khai thác nội địa 3.624 tấn, giảm 0,6%.Tính chung sản lượng thủy sản nuôi trồng và khai thác 11 tháng năm 2024 ước đạt 60.915 tấn, tăng 3,2% so cùng kỳ.2. Sản xuất công nghiệpSản xuất công nghiệp trên địa bàn trong tháng 11 có sự bức phá nhanh, các dự án mới đi vào hoạt động trong năm đã đóng góp lớn cho tăng trưởng chung của ngành công nghiệp như: dự án nhà máy sản xuất ô tô Kim Long Motor, dự án sản xuất găng tay Kanglongda. Nhờ vậy chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 11/2024 ước tính tăng 25,6% so với cùng kỳ. Tính chung 11 tháng đầu năm 2024 chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 7,1% so với cùng kỳ. Tháng 11 năm 2024, chỉ số sản xuất công nghiệp ước tính tăng 14,0% so với tháng trước và tăng 25,6% so với cùng kỳ. Chia ra: Khai khoáng giảm 7,2% so với tháng trước và giảm 16,4% so với cùng kỳ; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 16,1% so với tháng trước và tăng 33,5% so với cùng kỳ; sản xuất và phân phối điện, khí đốt tăng 7,9% so với tháng trước và giảm 0,5% so với cùng kỳ; cung cấp nước và xử lý rác thải giảm 4,3% so với tháng trước và tăng 9,5% so với cùng kỳ.Tính chung 11 tháng năm 2024 chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 7,1% so với cùng kỳ. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 1,3%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,6%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt giảm 3,0%; ngành cấp nước và thu gom rác thải tăng 9,9%.Các ngành công nghiệp cấp 4 trong 11 tháng năm 2024 có chỉ số sản xuất ước tăng khá so với cùng kỳ như: sản xuất các loại bánh từ bột (+23,92%), may trang phục (7,03%); sản xuất vali, túi sách và các loại tương tự, sản xuất yên đệm (+36,88%); cưa, xẻ, bào gỗ và bảo quản gỗ (+13,4%); sản xuất xe có động cơ tăng hơn 32 lần so với cùng kỳ, hoạt động thu gom, xử lý và tiêu huỷ rác thải (+45,74%)...Bên cạnh những dấu hiệu tích cực của một số ngành, hiện nay một số ngành sản xuất công nghiệp vẫn đang còn khó khăn, chỉ số sản xuất công nghiệp giảm so với cùng kỳ: chế biến, bảo quản thuỷ sản và các sản phẩm từ thuỷ sản (-16,8%); sản xuất bia và mạch nha ủ men (-3,3%); in ấn (-6,7%); sản xuất vật liệu xây dựng từ đất sét (-2,4%); sản xuất giường tủ, bàn ghế (-16,3%); sản xuất xi măng, vôi, thạch cao (-6,9%); sản xuất và phân phối điện (-3,0%)…Các sản phẩm công nghiệp ước 11 tháng năm 2024 tăng so với cùng kỳ như sau: đá xây dựng khác 939 nghìn m3 (+11,3%); bánh làm từ bột khác bảo quản được 3.450 tấn (+23,9%); túi xách 5,8 triệu cái (+45,0%); quần áo lót 342 triệu cái (+7,1%); vỏ bào, dăm gỗ 678 nghìn tấn (+13,4%); ô tô 1.501 chiếc (+21,4 lần), ...Các sản phẩm công nghiệp ước giảm so với cùng kỳ: tôm đông lạnh 4.687 tấn (-16,8%); bia chai 96,1 triệu lít (-9,0%); dịch vụ sản xuất va ly, túi xách và các loại tương tự, yên đệm 2.722 triệu đồng (-17,2%); sản phẩm in 706 triệu trang (-6,7%); gạch men 13,3 triệu m2 (-2,4%); xi măng 1.396 nghìn tấn (-8,9%); clanhke xi măng 1.515 nghìn tấn (-8,7%); ghế có khung bằng kim loại 108,6 nghìn chiếc (-3,6%); điện sản xuất 1.668 triệu KW (-5,8%) ...Chỉ số sử dụng lao động ước 11 tháng đầu năm 2024 ước tăng 8,6% so với cùng kỳ. Trong đó một số ngành có chỉ số sử dụng lao động tăng như: sản xuất da và các sản phẩm có liên quan (+11,8%); sản xuất xe có động cơ (+11,7 lần); sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic (+3,1 lần); công nghiệp chế biến, chế tạo khác (+3,9%). Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số sử dụng lao động giảm: sản xuất chế biến thực phẩm (-4,9%); sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất (-42,2%); sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) (-5,5%); sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học (-7,5%)...3. Vốn đầu tưVới quyết tâm thực hiện thành công Nghị quyết số 54-NQ/TW ngày 10/12/2019 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Trong năm 2024, UBND tỉnh đã xây dựng các kế hoạch cụ thể triển khai thực hiện các quy hoạch đã được phê duyệt, qua đó nhiều công trình dự án trọng điểm đã và đang được triển khai gấp rút để sớm đưa vào sử dụng, dự ước vốn ngân sách Nhà nước đầu tư trên địa bàn tỉnh trong 11 tháng tăng 4,2% so với cùng kỳ.Nguồn vốn ngân sách Nhà nước đầu tư trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế do địa phương quản lý thực hiện trong tháng 11 ước đạt 956,5 tỷ đồng tăng 7,0% so với cùng kỳ, đạt 11,2% kế hoạch năm, đưa tổng vốn đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý 11 tháng ước đạt 6.740,7 tỷ đồng, bằng 78,9% kế hoạch năm, tăng 4,2% so với cùng kỳ. Trong đó, vốn NSNN cấp tỉnh ước đạt 5.528,7 tỷ đồng tăng 2,0%; vốn NSNN cấp huyện, xã ước đạt 1.212 tỷ đồng, tăng 17,4% so với cùng kỳ.Nguồn vốn ngân sách nhà nước tập trung chủ yếu vào các công trình hạ tầng tại các huyện, thị xã, thành phố Huế, ổn định dân cư và các công trình giao thông quan trọng như: cầu vượt biển Thuận An; cầu đường bộ Nguyễn Hoàng vượt sông Hương, chương trình phát triển các đô thị loại II (các đô thị xanh) tỉnh Thừa Thiên Huế; dự án cải thiện môi trường nước; dự án phòng chống thiên tai... Bên cạnh các dự án đang đẩy nhanh tiến độ thi công, một số dự án chậm tiến độ như: Các dự án Bảo tồn, tu bổ và phát huy giá trị tổng thể di tích lăng vua Minh Mạng (phần còn lại); Bảo quản, tu bổ, phục hồi và tôn tạo tổng thể di tích Thái Miếu giai đoạn 1 - đợt 1; Bảo tồn tu bổ và phát huy giá trị tổng thể di tích lăng vua Thiệu Trị giai đoạn 3; Dự án Bảo tồn, tu bổ và tôn tạo hệ thống kinh thành Huế - Hợp phần tu bổ, tôn tạo di tích. Dự án nâng cấp, mở rộng đường Nguyễn Gia Thiều và Khu tái định cư B5 thuộc Hạ tầng Khu đô thị mới Thuận An, phường Thuận An... Một số dự án đã được giao vốn từ đầu năm nhưng chưa thể triển khai theo kế hoạch và đang chờ thông báo giải ngân các đợt tiếp theo như: Nâng cấp hệ thống đê sông Thiệu Hóa; Hệ thống Kênh thoát lũ cách ly Phú Lương, Diêm Tụ - Phú Gia và nâng cấp đê Trường Lưu Phú Đa 2, đê Đại Giang đoạn từ hói Trường Lưu về cầu Đại Giang... Với sự quyết tâm cao của các cấp các ngành, sự quan tâm theo dõi, chỉ đạo sát sao của Lãnh đạo Tỉnh, đôn đốc đẩy nhanh tiến độ triển khai thực hiện các dự án trên địa bàn; các công trình, dự án trọng điểm được giải ngân, bổ sung vốn kịp thời, tính đến nay tiến độ giải ngân năm 2024 đạt 7.860 tỷ đồng, bằng 61,7% kế hoạch. 4. Thương mại, dịch vụ và giá cảHoạt động thương mại, dịch vụ và vận tải trong tháng 11 diễn ra ổn định, mặc dù vào mùa mưa bão, nhưng mùa mưa năm nay lượng mưa thấp, tình trạng ngập lụt chỉ xảy ra cục bộ, hoạt động thương mại, lưu thông hàng hóa thông suốt. Ngoài ra, sự phục hồi của ngành du lịch địa phương cũng như công tác quảng bá du lịch thời gian qua đã kéo theo sự phát triển các ngành dịch vụ trên địa bàn tỉnh, góp phần thúc đẩy tăng trưởng nhằm đưa Huế lên thành phố trực thuộc trung ương theo Nghị quyết 54-NQ/TW. Kết quả hoạt động thương mại, dịch vụ và vận tải trên địa bàn tỉnh tháng 11 và 11 tháng năm 2024 ước đạt như sau:4.1. Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùngTháng 11 cận kề tết dương lịch, các nhà kinh doanh đã bắt đầu nhập hàng dịp tết, các chính sách kích cầu phát triển thương mại dịch vụ của địa phương, các chính sách khuyến mãi, giảm giá của các nhãn hàng đã góp phần đẩy mạnh hoat động thương mại dịch vụ trên địa bàn tỉnh. Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 11/2024 tăng 18,7% so với cùng kỳ. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 11/2024 ước đạt 5.093 tỷ đồng, tăng 2,7% so với tháng trước và tăng 18,7% so với cùng kỳ. Chia theo ngành kinh tế: tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 11 ước đạt 3.511,8 tỷ đồng, chiếm 69%, tăng 2,1% so với tháng trước và tăng 13% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống ước đạt 1.037,3 tỷ đồng, chiếm 20,4%, tăng 3,9% so với tháng trước và tăng 33,7% so với cùng kỳ; hoạt động du lịch lữ hành đạt 32,5 tỷ đồng, chiếm 0,6%, tăng 6,5% và tăng 39,1%; doanh thu dịch vụ khác đạt 511,4 tỷ đồng, chiếm 10%, tăng 4,2% và tăng 32,5%.Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 11 tháng năm 2024 đạt 52.374,2 tỷ đồng, tăng 15,1% so với cùng kỳ, trong đó tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 37.152,2 tỷ đồng, chiếm 70,9% tổng số và tăng 12,4%; dịch vụ lưu trú và ăn uống đạt 10.446,2 tỷ đồng, chiếm 20% và tăng 20,8%; hoạt động du lịch lữ hành đạt 315,8 tỷ đồng, chiếm 0,6% và tăng 22,4%; dịch vụ khác đạt 4.460 tỷ đồng, chiếm 8,5% và tăng 26,6%. 4.2. Vận tải hành khách và hàng hóaTháng 11/2024 thời tiết chuyển sang mùa mưa, trời trở lạnh nên nhu cầu sử dụng các phương tiện công cộng của người dân tăng. Bên cạnh đó, nhiều dự án đầu tư xây dựng trên địa bàn tỉnh và hộ dân cư đẩy nhanh tiến độ nhằm hoàn thành trước Tết nên nhu cầu vận chuyển nguyên, vật liệu, thiết bị phục vụ các công trình giai đoạn hoàn thiện tăng, dẫn đến hoạt động vận tải hành khách và vận tải hàng hóa vẫn tăng so với tháng trước và tăng so với cùng kỳ, dù tốc độ tăng trưởng có chậm lại so với các tháng trước do ít nhiều bị ảnh hưởng bởi điều kiện thời tiết. ¬Dự ước hành khách vận chuyển tháng 11 năm 2024 đạt 3,2 triệu hành khách, tăng 0,5% so với tháng trước và tăng 13,7% so với cùng kỳ; hành khách luân chuyển đạt 153,5 triệu hành khách.km, tăng 0,4% so với tháng trước và tăng 10,5% so với cùng kỳ. Tính chung 11 tháng 2024, vận tải hành khách ước đạt 33,6 triệu hành khách, tăng 16,6% so với cùng kỳ và luân chuyển ước đạt 1.647,6 triệu hành khách.km, tăng 12,3%.Dự ước hàng hóa vận chuyển tháng 11 năm 2024 ước đạt 2 triệu tấn, tăng 0,9% so với tháng trước và tăng 8,1% so với cùng kỳ; hàng hóa luân chuyển đạt 164,9 triệu tấn.km, tăng 0,9% so với tháng trước và tăng 10% so với cùng kỳ. Tính chung 11 tháng 2024, vận tải hàng hóa đạt 21 triệu tấn, tăng 13,7% và luân chuyển hàng hóa đạt 1.736,7 triệu tấn.km, tăng 11,7% so với cùng kỳ.Dự ước doanh thu vận tải và bốc xếp tháng 11 năm 2024 đạt 463,8 tỷ đồng, tăng 0,8% so với tháng trước và tăng 11% so với cùng kỳ. Tính chung 11 tháng đầu năm 2024, doanh thu vận tải và bốc xếp ước đạt 4.891,9 tỷ đồng, tăng 15% so với cùng kỳ. Trong đó: đường bộ đạt 3.952,4 tỷ đồng, tăng 13,7%; đường sông đạt 4,6 tỷ đồng, tăng 20,7%. Chia theo loại hình dịch vụ: vận tải hành khách ước đạt 1.025,8 tỷ đồng, tăng 14,9%; vận tải hàng hóa ước đạt 3.471,7 tỷ đồng, tăng 13,3%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 365,3 tỷ đồng, tăng 35,1%; bưu chính chuyển phát đạt 29,1 tỷ đồng, tăng 10,5% so với cùng kỳ.4.3. Lượt khách các cơ sở lưu trú phục vụ và du lịch lữ hànhTháng 11/2024, thời tiết trên địa bàn ôn hòa, nhờ vậy nhiều sự kiện văn hóa mùa đông diễn ra thuận lợi. Ngoài ra, tháng 11 là tháng cao điểm mùa khách quốc tế nghỉ đông, dự kiến lượt khách quốc tế đến Huế tăng cao so với tháng trước.Doanh thu của cơ sở lưu trú ước thực hiện tháng 11/2024 ước đạt 176,7 tỷ đồng, tăng 8,4% so với tháng trước và tăng 43,4% so với cùng kỳ. Đưa doanh thu lưu trú 11 tháng 2024 đạt 1.811,6 tỷ đồng, tăng 26,7% so với cùng kỳ.Dự ước lượt khách do cơ sở lưu trú phục vụ tháng 11/2024 đạt 171,1 nghìn lượt khách, tăng 9,6% so với tháng trước và tăng 12,3% so với cùng kỳ. Trong đó, lượt khách ngủ qua đêm tháng 11/2024 ước đạt 138,8 nghìn lượt khách, tăng 11,5% so với tháng trước và tăng 18,7% so với cùng kỳ; lượt khách trong ngày đạt 32,3 nghìn lượt khách, tăng 2,2% so với tháng trước và tăng 4,7% so với cùng kỳ. Đưa lượt khách do các cơ sở lưu trú phục vụ 11 tháng năm 2024 đạt 1.867,7 nghìn lượt, tăng 17,5% so với cùng kỳ. Trong đó, lượt khách ngủ qua đêm 11 tháng đạt 1.494,6 nghìn lượt, tăng 18,7% so với cùng kỳ; lượt khách trong ngày đạt 373,2 nghìn lượt, tăng 12,8% so với cùng kỳ. Trong lượt khách ngủ qua đêm, khách quốc tế 591,3 nghìn lượt, tăng 19,8%; khách trong nước 903,2 nghìn lượt, tăng 16,5% so với cùng kỳ.Ngày khách dự ước tháng 11/2024 đạt 233,3 nghìn ngày, tăng 11,7% so với tháng trước và tăng 11,8% so với cùng kỳ. Trong đó: Ngày khách quốc tế đạt 107,6 nghìn ngày, tăng 26,3% so với tháng trước và tăng 3,6% so với cùng kỳ; ngày khách trong nước đạt 125,7 nghìn ngày, tăng 1,7% so với tháng trước và tăng 19,8% so với cùng kỳ. Đưa ngày khách dự ước 11 tháng đạt 2.537,1 nghìn ngày, tăng 16,5% so với cùng kỳ. Trong đó: Ngày khách quốc tế đạt 1.050 nghìn ngày, tăng 20,1%; ngày khách trong nước đạt 1.487,1 nghìn ngày, tăng 14,1%.Lượt khách phục vụ của các cơ sở lữ hành thực hiện tháng 11/2024 ước đạt 15,3 nghìn lượt, tăng 3,4% với tháng trước và tăng 35,8% so với cùng kỳ; đưa lượt khách 11 tháng ước đạt 185 nghìn lượt, tăng 17,2% so với cùng kỳ. Ngày khách theo tour ước thực hiện tháng 11/2024 là 36,6 nghìn ngày, tăng 4,6% so với tháng trước và tăng 33,3% so với cùng kỳ. Đưa ngày khách theo tour 11 tháng ước đạt 392,6 nghìn ngày khách, tăng 15,7% so với cùng kỳ.4.4. Giá cả- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)Chỉ số giá tiêu dùng chung toàn tỉnh tháng 11/2024 tăng 0,22% so với tháng trước. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 6 nhóm hàng tăng giá so với tháng trước bao gồm: nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,96%; hàng hoá và dịch vụ khác tăng 0,22%; nhóm văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,21%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,20%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,08%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,03%. Trong khi đó, nhóm giao thông giảm 0,40%; đồ uống và thuốc lá giảm 0,02%. Các nhóm thuốc và dịch vụ y tế; bưu chính viễn thông; giáo dục bình ổn so với tháng trước.Chỉ số giá tiêu dùng chung toàn tỉnh tháng 11/2024 tăng 2,61% so với tháng 12 năm 2023; tăng 2,72% so với cùng kỳ. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 11 tháng năm 2024 tăng 3,79% so với cùng kỳ.- Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ Chỉ số giá vàng tháng 11/2024 tăng 0,87% so với tháng trước. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 11/2024 tăng 1,62% so với tháng trước.5. Tài chính, ngân hàng5.1. Tài chínhTrong 11 tháng năm 2024 thu ngân sách tỉnh đạt cao so với dự toán, nguồn thu chủ yếu từ nguồn thu thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế giá trị gia tăng hàng nhập khẩu tăng mạnh.Tổng thu ngân sách trên địa bàn đến nay đạt 10.853,2 tỷ đồng, bằng 92,1% dự toán năm. Trong đó: thu nội địa ước đạt 9.655,9 tỷ đồng, bằng 86,5% dự toán; thu thuế từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 1.097,3 tỷ đồng, bằng 177,0% dự toán. Trong thu nội địa: thu doanh nghiệp Nhà nước ước đạt 404,0 tỷ đồng, bằng 87,8% dự toán; thu doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 3.815 tỷ đồng, bằng 99,4% dự toán; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 1.557 tỷ đồng, bằng 96,8% dự toán; thuế thu nhập cá nhân 599 tỷ đồng, bằng 119,8% dự toán; thuế bảo vệ môi trường 353,0 tỷ đồng, bằng 95,4% dự toán.Tổng chi ngân sách địa phương 11 tháng ước đạt 11.806,1 tỷ đồng, bằng 73,9% dự toán, trong đó chi đầu tư phát triển 3.893,2 tỷ đồng, bằng 65,9% dự toán; chi thường xuyên 7.488,7 tỷ đồng, bằng 86,6%; trong đó: chi sự nghiệp kinh tế 764,5 tỷ đồng, bằng 71,3% dự toán; chi sự nghiệp giáo dục đào tạo 3.410,0 tỷ đồng, bằng 88,2% dự toán; chi sự nghiệp y tế 495,0 tỷ đồng, bằng 77,0% dự toán; chi quản lý Nhà nước 1.536,2 tỷ đồng, bằng 95,4% dự toán.5.2.Ngân hàngĐẩy mạnh triển khai chương trình kết nối Ngân hàng - Doanh nghiệp theo Công văn số 4315/NHNN-TD ngày 21/5/2024 của NHNNVN, NHNN tỉnh đã có văn bản chỉ đạo các NHTM trên địa bàn tích cực chủ động đẩy mạnh chương trình kết nối Ngân hàng - Doanh nghiệp. Thực hiện Thông tư 02/2023/TT-NHNN và Chỉ thị số 02/CT-NHNN ngày 23/5/2023 của NHNN VN về việc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng gặp khó khăn. Chương trình tín dụng đối với lĩnh vực lâm sản, thủy sản với quy mô hiện nay khoảng 30.000 tỷ đồng và mức lãi suất thấp hơn tối thiểu từ 1% - 2%/năm so với mức lãi suất cho vay bình quân (theo Công văn 5631/NHNN-TD ngày 14/7/2023 của NHNN Việt Nam). Tổng nguồn vốn huy động đến cuối tháng 11 năm 2024 ước đạt 76,2 nghìn tỷ đồng, tăng 9,51% so với so với cuối năm 2023; tổng dư nợ tín dụng ước đạt 81,4 nghìn tỷ đồng, tăng 4,68% so với cuối năm 2023. Các TCTD trên địa bàn tiếp tục chú trọng cho vay các lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ. Đến thời điểm 01/11/2024, tín dụng đối với nông nghiệp nông thôn đạt 16.295 tỷ đồng, tăng 12,2% so với đầu năm, chiếm tỷ trọng 20,2% tổng dư nợ; Tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa đạt 12.471 tỷ đồng, giảm 13,9%, chiếm tỷ trọng 15,5% tổng dư nợ; Tín dụng đối với xuất khẩu đạt 4.607 tỷ đồng, giảm 10,3% so với đầu năm, chiếm tỷ trọng 5,7% tổng dư nợ; Cho vay công nghiệp hỗ trợ đạt 1.357 tỷ đồng, tăng 15,2% so với đầu năm, chiếm tỷ trọng 1,7% tổng dư nợ.. Lãi suất huy động bằng VND tại các TCTD trên địa bàn: đang áp dụng ở mức tối đa 0,5%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn hoặc có kỳ hạn dưới 1 tháng, kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng ở mức tối đa 4,75%/năm theo quy định của NHNN Việt Nam tại Quyết định số 2411/QĐ-NHNN ngày 01/11/2024. Đối với kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng, dao động trong mức 4%-5,5%/năm. Đối với kỳ hạn từ 12 tháng trở lên dao động trong khoảng 5%/năm đến 6%/năm (bao gồm lãi suất online).Lãi suất cho vay bằng VNĐ đối với các lĩnh vực ưu tiên tối đa 4,0%/năm đối với ngắn hạn. Lãi suất cho vay các lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường dao động trong khoảng 5-7%/năm đối với ngắn hạn; 6%-9%/năm đối với trung và dài hạn. Lãi suất huy động USD phổ biến là 0,0%/năm đối với tiền gửi của tổ chức và cá nhân cho tất cả các kỳ hạn. Lãi suất cho vay USD bình quân ở mức 3-6%/năm.6. Các vấn đề xã hội6.1. Giáo dục - Đào tạo Trong tháng 11, Lãnh đạo tỉnh đến các cơ sở giáo dục thăm và chúc mừng thầy cô giáo nhân Ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11, mong muốn các trường tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp, thi đua dạy tốt học tốt, nâng cao chất lượng giáo dục, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Các cơ sở giáo dục tổ chức nhiều hoạt động có ý nghĩa xoay quanh chủ đề “Tri ân nghề giáo”, góp phần thắt chặt tình nghĩa thầy trò, tình yêu quê hương đất nước và những giá trị tốt đẹp của sự nghiệp giáo dục.Từ ngày 22/11-24/11/2024, tại Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo, Đại học Huế, tổ chức khai mạc chương trình "Yes! Camp x Huế 2024" với chủ đề NetZero, nhằm khơi nguồn sáng tạo, ươm mầm khởi nghiệp cho thế hệ trẻ, thu hút sự hưởng ứng tham gia đông đảo của học sinh, sinh viên đến từ các trường đại học, cao đẳng và trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh. 6.2. Tình hình y tế, dịch bệnh, ngộ độc thực phẩmTháng 11/2024, trên địa bàn tỉnh có 241 ca sốt xuất huyết, tăng 52 ca so cùng kỳ; có 9 ca mắc tay chân miệng, giảm 22 ca so với cùng kỳ; không có ca mắc sốt rét, viêm gan siêu trùng, viêm não vi rút, thương hàn, liên cầu lợn bằng cùng kỳ. Tính chung 11 tháng, trên địa bàn có 1.843 ca sốt xuất huyết, tăng 1.256 ca so cùng kỳ; có 1 ca tử vong, tăng 1 ca so với cùng kỳ; có 123 ca mắc tay chân miệng, giảm 245 ca so với cùng kỳ; 2 ca liên cầu lợn, tăng 2 ca so cùng kỳ; không có ca mắc sốt rét, viêm gan siêu trùng, viêm não vi rút, thương hàn bằng cùng kỳ.Tháng 10/2024, toàn tỉnh đã phát hiện 9 ca nhiễm mới HIV, tăng 4 ca so cùng kỳ; có 3 ca chuyển qua AIDS, tăng 3 ca so cùng kỳ; không có ca tử vong, bằng cùng kỳ. Tính chung 10 tháng, toàn tỉnh có 81 ca nhiễm mới HIV, giảm 14 ca so cùng kỳ; có 23 ca chuyển qua AIDS, tăng 15 ca so cùng kỳ; có 3 ca tử vong, giảm 2 ca so cùng kỳ. Hiện tại, trên địa bàn tỉnh có 525 bệnh nhân đang được quản lý và điều trị tại các cơ sở y tế, trong đó có 518 bệnh nhân điều trị ARV. Tháng 11/2024, trên địa bàn không xảy ra ngộ độc thực phẩm, bằng so cùng kỳ. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn xảy ra 4 vụ ngộ độc thực phẩm, tăng 2 vụ so cùng kỳ; làm 39 người bị ngộ độc, tăng 6 người so với cùng kỳ, không có người tử vong.6.3. Hoạt động văn hóa, thể thaoNgày 02/11-03/11/2024, giải cờ vua, cờ tướng các câu lạc bộ tỉnh mở rộng lần thứ 2 năm 2024, quy tụ hơn 400 kỳ thủ đến từ 25 các câu lạc bộ của Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Trị, Quảng Bình. Đây là cơ hội để các vận động viên tham gia thi đấu, nhằm phát triển phong trào tập luyện bộ môn cờ vua, cờ tướng. Giải vô địch cầu lông, bóng bàn các lứa tuổi câu lạc bộ tỉnh mở rộng lần thứ 8 năm 2024, diễn ra từ ngày 14/11-17/11/2024 tại Nhà thi đấu Trung tâm thi đấu thể thao tỉnh, thu hút hơn 700 VĐV nam, nữ đến từ 42 câu lạc bộ tham gia tranh tài. Đây là giải đấu có số lượng VĐV tham gia đông nhất sau 7 lần tổ chức. Góp phần thúc đẩy phong trào tập luyện, thi đấu môn cầu lông, bóng bàn ở các lứa tuổi.6.4. Tai nạn giao thôngTheo báo cáo của Ban ATGT tỉnh, từ 15/10/2024 đến 14/11/2024, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 28 vụ tai nạn giao thông, giảm 4 vụ so với cùng kỳ; làm 15 người chết, tăng 3 người; làm bị thương 19 người, tăng 2 người so cùng kỳ. Tính chung 11 tháng , trên địa bàn xảy ra 261 vụ tai nạn giao thông, tăng 31 vụ so với cùng kỳ; làm chết 117 người, tăng 10 người; làm bị thương 189 người, tăng 27 người so với cùng kỳ.6.5. Tình hình cháy nổ và bảo vệ môi trườngTrong tháng 11/2024 trên địa bàn tỉnh xảy ra 1 vụ cháy, thiệt hại ước tính khoảng 500 triệu đồng, không có thiệt hại về người; giảm 1 vụ so cùng kỳ, bằng tháng trước. Tính chung 11 tháng, trên địa bàn tỉnh xảy ra 16 vụ cháy, giảm 11 vụ so cùng kỳ; không có thiệt hại về người, thiệt hại khoảng 1,5 tỷ đồng.Trong tháng 11/2024 trên địa bàn tỉnh phát hiện 9 vụ vi phạm môi trường, giảm 51 vụ so với cùng kỳ, giảm 3 vụ so với tháng trước. Các hình thức vi phạm môi trường trong tháng gồm: 2 vụ không chấp hành về bảo vệ môi trường, an toàn thực phẩm tại cơ sở kinh doanh; 2 vụ phá rừng trái phép; 4 vụ khai thác cát trái phép; 1 vụ xả nước thải không đúng quy định. Các ngành chức năng đã tiến hành xử lý 7 vụ với số tiền xử phạt 22,5 triệu đồng. Tính chung 11 tháng, trên địa bàn tỉnh xảy ra 192 vụ vi phạm môi trường, giảm 17 vụ so với cùng kỳ; tiến hành xử lý 170 vụ với tổng số tiền phạt 1166,8 triệu đồng.6.6. Thiệt hại do thiên taiTháng 11/2024, trên địa bàn tỉnh xảy ra 2 vụ thiên tai, bằng cùng kỳ, tăng 1 vụ so tháng trước. Gồm 1 vụ mưa lớn ngập lũ do từ ngày 18/11 đến ngày 25/11/2024, tại tỉnh Thừa Thiên Huế đã có mưa to đến rất to, mực nước các sông trên báo động 2, xấp xỉ báo động 3; xảy ra 1 vụ sạt lở đất tại xã Lâm Đớt, huyện A Lưới, làm 2 người bị thương nhẹ, sập 1 ngôi nhà, ước tính thiệt hại khoảng 50 triệu đồng. Tính chung 11 tháng 2024, trên địa bàn tỉnh xảy ra 8 vụ thiên tai, bằng cùng kỳ; giá trị thiệt hại ước khoảng 3,2 tỷ đồng. Nhờ làm tốt công tác dự báo và chủ động phòng chống lũ lụt nên cơn lũ này không gây thiệt hại về người và tài sản./.CỤC THỐNG KÊ TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Thành phố Huế trực thuộc Trung ương có 9 đơn vị cấp huyện, 133 đơn vị cấp xã
- 02/12/2024 09:41
Ngày 30/11/2024, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 175/2024/QH15 về việc thành lập thành phố Huế trực thuộc Trung ương (NQ175); cùng thời điểm, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) ban hành Nghị quyết 1314/NQ-UBTVQH15 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã của thành phố Huế giai đoạn 2023-2025 (NQ 1314); theo đó thành phố Huế (trực thuộc tỉnh TT Huế) được chia làm 2 Quận: Phú Xuân và Thuận Hóa. Các nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2025. Theo NQ 175, Quốc hội quyết nghị thành lập thành phố Huế là thành phố trực thuộc Trung ương trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên là 4.947,11 km2 và quy mô dân số là 1.236.393 người của tỉnh Thừa Thiên Huế. Cùng với đó, các cơ quan, tổ chức, đơn vị có tên gọi gắn với địa danh tỉnh Thừa Thiên Huế được đổi tên để hoạt động với tên gọi thành phố Huế kể từ ngày nghị quyết (NQ) này có hiệu lực thi hành. Chính phủ, HĐND, UBND tỉnh Thừa Thiên Huế (HĐND, UBND thành phố Huế kể từ ngày NQ này có hiệu lực thi hành) và các cơ quan, tố chức hữu quan có trách nhiệm tổ chức thi hành NQ này; sắp xếp, kiện toàn bộ máy các cơ quan, tổ chức ở địa phương; ổn định đời sống của Nhân dân địa phương, bảo đảm yêu câu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng và an ninh trên địa bàn. Trường hợp HĐND quận thuộc thành phố Huế không đủ 2/3 tổng số đại biểu HĐND được bầu theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 46 của Luật Tổ chức chính quyền địa phương thì Thường trực HĐND thành phố Huế chỉ định Quyền Chủ tịch HĐND quận theo đề nghị của Thường trực HĐND thành phố Huế, thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại khoản 3 Điều 138 của Luật Tổ chức chính quyền địa phương. Chủ tịch UBND thành phố Huế chỉ định Quyền Chủ tịch UBND, UBND quận lâm thời và quyết định thành lập cơ quan chuyên môn thuộc UBND quận lâm thời. UBND quận lâm thời thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của UBND quận theo quy định của pháp luật và hoạt động cho đến khi UBND quận nhiệm kỳ 2026 - 2031 được thành lập. Kể từ ngày NQ này có hiệu lực thi hành, ngoài các chế độ chính sách đối với thành phố trực thuộc Trung ương, các cơ chế, chế độ, chính sách đặc thù đối với tỉnh Thừa Thiên Huê vẫn tiếp tục được thực hiện trên địa bàn thành phố Huế cho đến hết giai đoạn áp dụng hoặc đến khi có quyết định của cơ quan có thẩm quyền.Ngày 30/11/2024, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 175/2024/QH15 về việc thành lập thành phố Huế trực thuộc Trung ương (NQ175); cùng thời điểm, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) ban hành Nghị quyết 1314/NQ-UBTVQH15 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã của thành phố Huế giai đoạn 2023-2025 (NQ 1314); theo đó thành phố Huế (trực thuộc tỉnh TT Huế) được chia làm 2 Quận: Phú Xuân và Thuận Hóa. Các nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2025 Thành phố Huế có 9 đơn vị hành chính cấp huyện, 133 đơn vị hành chính cấp xã Cụ thể, theo Nghị quyết 1314, sẽ sắp xếp các đơn vị hành chính (ĐVHC) cấp xã thuộc thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế để làm cơ sở thành lập các quận thuộc thành phố Huế. Đó là, thành lập phường Long Hồ trên cơ sở nhập toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của xã Hương Thọ và phường Hương Hồ; thành lập phường Thuận An trên cơ sở nhập toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số xã Hải Dương và phường Thuận An; thành lập phường Dương Nỗ trên cơ sở nhập toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số xã Phú Dương, xã Phú Mậu và xã Phú Thanh; thành lập phường Thủy Bằng trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số người của xã Thủy Bằng; thành lập phường Hương Phong trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của xã Hương Phong. Đối với các quận thuộc thành phố Huế, thành lập quận Phú Xuân trên cơ sở một phần diện tích tự nhiên và quy mô dân số của thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Quận Phú Xuân có 13 phường, gồm: An Hòa, Đông Ba, Gia Hội, Hương An, Hương Long, Hương Sơ, Hương Vinh, Kim Long, Long Hồ, Phú Hậu, Tây Lộc, Thuận Hòa và Thuận Lộc. Thành lập quận Thuận Hóa trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và quy mô dân số của thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế sau khi điều chỉnh theo quy định tại điểm a khoản này. Quận Thuận Hóa có 19 phường, gồm: An Cựu, An Đông, An Tây, Dương Nỗ, Hương Phong, Phú Hội, Phú Nhuận, Phú Thượng, Phường Đúc, Phước Vĩnh, Thuận An, Thủy Bằng, Thủy Biều, Thủy Vân, Thủy Xuân, Trường An, Vĩnh Ninh, Vỹ Dạ và Xuân Phú. Thành lập thị xã Phong Điền thuộc thành phố Huế trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và quy mô dân số của huyện Phong Điền. Tại thị xã Phong Điền thành lập phường Phong Thu trên cơ sở nhập toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của thị trấn Phong Điền và xã Phong Thu; thành lập phường Phong Hải trên cơ sở nhập toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số xã Điền Hải và xã Phong Hải; thành lập phường Phong Phú trên cơ sở nhập toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số xã Điền Lộc và xã Điền Hòa; thành lập phường Phong An trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của xã Phong An; thành lập phường Phong Hiền trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số xã Phong Hiền; thành lập phường Phong Hòa trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số xã Phong Hòa; thành lập xã Phong Thạnh trên cơ sở nhập toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số xã Điền Hương và xã Điền Môn. Sau khi thành lập, thị xã Phong Điền có 12 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 6 phường: Phong An, Phong Hải, Phong Hiền, Phong Hòa, Phong Phú, Phong Thu và 6 xã: Phong Bình, Phong Chương, Phong Mỹ, Phong Sơn, Phong Thạnh, Phong Xuân. Nhập toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số huyện Nam Đông vào huyện Phú Lộc. Thành lập thị trấn Lộc Sơn thuộc huyện Phú Lộc trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và quy mô dân số xã Lộc Sơn. Sau khi sắp xếp và thành lập thị trấn, huyện Phú Lộc có 27 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 23 xã: Giang Hải, Hương Hữu, Hương Lộc, Hương Phú, Hương Sơn, Hương Xuân, Lộc An, Lộc Bình, Lộc Bổn, Lộc Điền, Lộc Hòa, Lộc Thủy, Lộc Tiến, Lộc Trì, Lộc Vĩnh, Thượng Long, Thượng Lộ, Thượng Nhật, Thượng Quảng, Vinh Hiền, Vinh Hưng, Vinh Mỹ, Xuân Lộc và 4 thị trấn: Khe Tre, Lăng Cô, Lộc Sơn, Phú Lộc. Thành lập Tòa án nhân dân thành phố Huế trên cơ sở kế thừa Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế. Thành lập Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế trên cơ sở kế thừa Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế. Giải thể Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Thành lập Tòa án nhân dân quận Thuận Hóa, Tòa án nhân dân quận Phú Xuân. Tòa án nhân dân quận Thuận Hóa, Tòa án nhân dân quận Phú Xuân có trách nhiệm kế thừa nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế theo quy định của pháp luật. Thành lập Viện kiểm sát nhân dân quận Thuận Hóa, Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Xuân. Viện kiểm sát nhân dân quận Thuận Hóa, Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Xuân có trách nhiệm kế thừa nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huể theo quy định của pháp luật. Thành lập Tòa án nhân dân thị xã Phong Điền trên cơ sở kế thừa Tòa án nhân dân huyện Phong Điền. Thành lập Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phong Điền trên cơ sở kế thừa Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền. Giải thể Tòa án nhân dân huyện Nam Đông, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đông. Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lộc có trách nhiệm kế thừa nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đông theo quy định của pháp luật. Kể từ ngày NQ này có hiệu lực thi hành, thành phố Huế có 9 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 4 huyện, 3 thị xã và 2 quận; 133 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 48 phường, 78 xã và 7 thị trấn.Nguồn:https://huecity.gov.vn/Chinh-quyen/Thong-tin-tuyen-truyen
Tình hình Kinh tế - Xã hội tháng 10 và 10 tháng đầu năm 2024 trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế
- 02/11/2024 07:23
1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sảnSản xuất nông nghiệp tháng 10 diễn ra trong điều kiện thời tiết mưa, bão nên hầu hết diện tích các loại cây trồng không được gieo trồng; công tác thú y được chú trọng, đàn vật nuôi phát triển khỏe mạnh, tổng đàn lợn tại thời điểm 31/10/2024 ước tăng 0,6% so cùng kỳ. Sản xuất lâm nghiệp được duy trì, hoạt động trồng rừng và khai thác gỗ được thực hiện theo đúng kế hoạch. Sản xuất thủy sản duy trì ổn định, sản lượng thủy sản tháng 10 ước tăng 3,2% so cùng kỳ.1.1. Nông nghiệpTháng 10/2024, diện tích gieo trồng các loại cây hằng năm khác không phát sinh, sản xuất nông nghiệp chủ yếu chăm sóc, thu hoạch diện tích các loại cây đã gieo trồng; các địa phương hiện đang chuẩn bị giống và làm đất cho vụ Đông. Diện tích gieo cấy lúa vụ Mùa năm nay đạt 185 ha, giảm 0,5% so vụ Mùa năm 2023 . Lúa Mùa hiện trong giai đoạn sinh trưởng và phát triển tương đối tốt, sâu bệnh gây hại ở mức độ và tỷ lệ thấp không ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển cây lúa.Để chủ động công tác phòng chống bão lụt, lãnh đạo tỉnh đã trực tiếp kiểm tra, chỉ đạo công tác bảo đảm an toàn hồ đập. Chỉ đạo các địa phương rà soát, xây dựng phương án, chủ động huy động lực lượng, phương tiện để triển khai công tác ứng phó thiên tai, tìm kiếm cứu nạn. Rà soát, cập nhật chi tiết từng phương án ứng phó với bão, lụt, lũ quét và sạt lở đất, nước dâng do bão để chủ động lên phương án sơ tán di dời dân. Các huyện đang tập trung thu hoạch diện tích sắn công nghiệp, trong đó ưu tiên thu hoạch các vùng trũng thấp dễ ngập lụt. Từ đầu năm đến nay thời tiết tương đối thuận lợi, đối tượng sinh vật gây hại xuất hiện rải rác với mật độ và tỷ lệ thấp, công tác phòng trừ sâu bệnh kịp thời nên năng suất, sản lượng hầu hết các loại cây trồng đều tăng so cùng kỳ: sản lượng sắn 73.205 tấn, tăng 7,3%; ngô 5.661 tấn, tăng 1,2%; lạc 5.010 tấn, tăng 0,8%; rau các loại 45.135 tấn, tăng 1,8% so cùng kỳ… Chăn nuôiĐể chủ động ứng phó phòng chống thiên tai và dịch bệnh cho đàn gia súc, gia cầm, giảm thiểu thiệt hại, đồng thời bảo đảm phát triển chăn nuôi, hoàn thành kế hoạch năm 2024, ngày 11/9/2024 Sở Nông nghiệp và PTNT ban hành Công văn số 2333/SNNPTNT-CCCNTY về chủ động phòng chống bão lũ, đói, rét và dịch bệnh cho vật nuôi, trong đó đề nghị các địa phương, đơn vị liên quan hướng dẫn người dân thực hiện việc gia cố vững chắc, che chắn cho chuồng trại đề phòng bão, lũ, chủ động dự trữ nguồn thức ăn (rơm khô, rơm cuộn), đảm bảo cung cấp thức ăn tại chuồng không để gia súc bị đói, khát đồng thời bổ sung thêm thức ăn tinh bột, vitamin, khoáng chất cần thiết để tăng cường sức khỏe cho đàn vật nuôi. Nhốt gia súc tại chuồng, không chăn thả trâu, bò khi mưa bão, lũ lụt hoặc đưa trâu bò ở vùng trũng thấp lên nơi cao hơn và che chắn có kiểm soát. Vệ sinh, tiêu độc, khử trùng chuồng trại, xử lý tốt gia súc chết và chất thải vật nuôi. Thường xuyên kiểm tra, giám sát chặt chẽ đàn vật nuôi đề phòng dịch bệnh xảy ra. Khi phát hiện gia súc bị bệnh phải có biện pháp can thiệp kịp thời.Thời điểm 31/10/2024 ước tính tổng đàn trâu toàn tỉnh 15.176 con, giảm 0,6% so cùng kỳ; đàn bò ước thời điểm 31/10/2024, có 29.120 con, tăng 2,7% so cùng kỳ. Chăn nuôi lợn tiếp tục phát triển theo hướng công nghiệp, trang trại, chăn nuôi công nghệ cao, VietGAP, hữu cơ, an toàn sinh học, an toàn dịch bệnh. Tổng đàn lợn thời điểm 31/10/2024 ước đạt 155.210 con, tăng 0,6% so cùng kỳ. Chăn nuôi gia cầm phát triển ổn định do dịch bệnh không xảy ra, công tác tiêm phòng thú y, vệ sinh môi trường chăn nuôi được chú trọng, ý thức phòng bệnh cho đàn gia cầm của các cơ sở chăn nuôi ngày càng được nâng cao. Tổng đàn gia cầm thời điểm 31/10/2024 ước đạt 5.090 nghìn con, tăng 2,1% so cùng kỳ. Trong đó: đàn gà 3.670 nghìn con, tăng 2,4%. Tiến độ tiêm phòng toàn tỉnh đến nay đã tiêm được 30.186 liều THT trâu bò (96%, tăng 1%), 42.079 liều tam liên (86%, tăng 2%), 6.480 liều E.coli (72%, tăng 2%), 366.010 liều CGC (89%, tăng 1%), 265.300 liều DTV (67%, tăng 1%), 315.740 liều Newcastle (84%), 10.030 liều THT gia cầm (67%), 107.670 liều Đậu gà (90%), 144.650 liều Gumboro (79%); LMLM lợn trang trại: 9.966 liều, 11.246 liều VDNC (36%, tăng 2%), 8.000 liều LMLM Đợt 2.1.2. Lâm nghiệpTrồng rừng mới tập trung tháng 10/2024 ước đạt 510 ha, tăng 3,0% so cùng kỳ. Tính chung 10 tháng đầu năm 2024 diện tích rừng trồng mới được 5.280 ha, tăng 4,0% so cùng kỳ.Sản lượng gỗ khai thác trong tháng 10/2024 ước đạt 42.000 m3, tăng 0,5% so cùng kỳ, trong đó toàn bộ là khai thác gỗ từ rừng trồng; sản lượng củi khai thác trong tháng ước đạt 4.800 ste, giảm 5,9% so cùng kỳ. Lũy kế sản lượng gỗ khai thác 10 tháng đầu năm 2024 ước đạt 578.740 m3, tăng 10,8% so cùng kỳ; sản lượng củi khai thác 10 tháng đạt 79.180 ste, giảm 2,2% so cùng kỳ. Số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 8 nghìn cây, lũy kế số cây lâm nghiệp trồng phân tán 10 tháng ước đạt 1.493 nghìn cây, tăng 2,3%. Trong tháng xảy ra 1 vụ phá rừng làm nương rẫy với tổng diện tích rừng bị phá là 0,1 ha. Lũy kế 10 tháng xảy ra 19 vụ phá rừng làm nương rẫy với tổng diện tích rừng bị phá là 2,0 ha.1.3. Thủy sảnTình hình nuôi trồng thủy sản: Diện tích nuôi trồng thủy sản tháng 10/2024 ước đạt 864 ha, tăng 1,4% so cùng kỳ, bao gồm nuôi nước lợ 830 ha, tăng 1,7%; nuôi nước ngọt 34 ha, giảm 5,6% . Trong diện tích nuôi nước lợ chia ra nuôi cá 93 ha, tăng 3,3%; nuôi tôm 699 ha, tăng 1,5%; diện tích nuôi các loại thủy sản khác 38 ha, tăng 2,7% so cùng kỳ. Lũy kế tổng diện tích nuôi trồng thủy sản 10 tháng năm 2024 ước đạt 7.370 ha, tăng 1,3% so cùng kỳ. Diện tích nuôi nước lợ 5.526 ha, tăng 2%; nuôi nước ngọt 1.844 ha, giảm 0,8%. Trong nuôi nước lợ bao gồm nuôi cá 1.782 ha, tăng 2,1%; nuôi tôm 2.712 ha, tăng 2,3%; nuôi các loại thủy sản khác 1.025 ha, tăng 1,3%; ươm, nuôi giống thủy sản 7 ha, bằng cùng kỳ. Về sản xuất giống thủy sản, trong tháng 10/2024 sản xuất giống trên địa bàn tỉnh ước đạt 7,1 triệu con, tăng 2,9% so cùng kỳ, trong đó tôm sú giống 1,6 triệu con, bằng cùng kỳ, cá giống các loại 5,5 triệu con, tăng 3,8% so cùng kỳ, chủ yếu cung cấp giống cho các cơ sở nuôi trên địa bàn tỉnh. Lũy kế số giống sản xuất được 10 tháng năm 2024 ước đạt 190,4 triệu con, tăng 1,7% so cùng kỳ; trong đó tôm sú giống 102,9 triệu con, tăng 1,5% so cùng kỳ; cá giống các loại 85,5 triệu con, tăng 2%; cua, ếch giống 2 triệu con, bằng so cùng kỳ.Sản lượng thu hoạch: tháng 10/2024 ước đạt 1.745 tấn, tăng 4,5% so cùng kỳ. Chia ra sản lượng cá 1.205 tấn, tăng 4,5%; tôm các loại 439 tấn, tăng 4,8%; thủy sản khác 101 tấn, tăng 3,1%. Tính chung sản lượng thủy sản nuôi trồng 10 tháng năm 2024 ước đạt 18.485 tấn, tăng 4,8% so cùng kỳ; trong đó sản lượng cá các loại 10.825 tấn, tăng 5,1%; tôm các loại 6.500 tấn, tăng 4,8%; thủy sản khác 1.160 tấn, tăng 2,8%. Tình hình khai thác thủy sản: sản lượng khai thác thủy sản tháng 10/2024 ước đạt 3.270 tấn, tăng 2,5% so cùng kỳ; trong đó khai thác biển 2.886 tấn, tăng 3%, khai thác nội địa 384 tấn, giảm 0,8%. Lũy kế sản lượng thủy sản khai thác 10 tháng năm 2024 ước đạt 39.625 tấn, tăng 2,4% so cùng kỳ; trong đó khai thác biển 36.361 tấn, tăng 2,6%, khai thác nội địa 3.264 tấn, giảm 0,7%.Tính chung sản lượng thủy sản nuôi trồng và khai thác 10 tháng năm 2024 ước đạt 58.110 tấn, tăng 3,1% so cùng kỳ.2. Sản xuất công nghiệpTình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn tiếp tục khởi sắc và có xu hướng tăng nhanh trong những tháng cuối năm. Một số ngành công nghiệp chủ lực vẫn phát huy tốt năng lực sản xuất như: Sản xuất đồ uống, may mặc, cưa, xẻ, bào gỗ và bảo quản gỗ. Các dự án mới đi vào hoạt động đã đóng góp lớn cho tăng trưởng chung của ngành công nghiệp như: dự án nhà máy sản xuất ô tô Kim Long Motor, dự án sản xuất găng tay Kanglongda. Chính vì vậy chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 10/2024 tăng 18,4% so cùng kỳ, tính chung 10 tháng năm 2024 tăng 5,4% so cùng kỳ.Tháng 10 năm 2024, chỉ số sản xuất công nghiệp ước tính tăng 14,1% so tháng trước và tăng 18,4% so cùng kỳ. Chia ra: Khai khoáng giảm 18,9% so tháng trước và giảm 0,5% so cùng kỳ; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,9% so tháng trước và tăng 23,8% so cùng kỳ; sản xuất và phân phối điện, khí đốt tăng 57,1% so tháng trước và tăng 0,2% so cùng kỳ; cung cấp nước và xử lý rác thải giảm 14,0% so tháng trước và tăng 3,2% so cùng kỳ.Tính chung 10 tháng năm 2024 chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 5,4% so cùng kỳ. Trong đó: Ngành Công nghiệp khai khoáng tăng 3,6%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,7%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt giảm 4,5%; ngành cấp nước và thu gom rác thải tăng 9,2%.Các ngành công nghiệp cấp 4 trong 10 tháng năm 2024 có chỉ số sản xuất ước tăng khá so cùng kỳ : sản xuất các loại bánh từ bột (+28,2%); sản xuất bia và mạch nha ủ men bia (+2,2%); may trang phục (+6,8%); sản xuất vali, túi sách và các loại tương tự, sản xuất yên đệm (+41,1%); cưa, xẻ, bào gỗ và bảo quản gỗ (+8,5%); sản xuất xe có động cơ có chỉ số tăng hơn 22,2 lần so cùng kỳ...Bên cạnh những dấu hiệu tích cực của một số ngành sản xuất, hiện nay một số ngành sản xuất công nghiệp vẫn đang gặp nhiều khó khăn. Lượng hàng tồn kho tại nhiều doanh nghiệp tăng cao; áp lực từ yêu cầu của thị trường và đối tác về phát triển bền vững, chuyển đổi xanh ngày càng gia tăng đã phải chịu sự cạnh tranh gay gắt; đơn hàng sản xuất bị cắt giảm như: chế biến, bảo quản thuỷ sản và các sản phẩm từ thuỷ sản (-14,7%); in ấn (-7,7%); sản xuất vật liệu xây dựng từ đất sét (-3,5%); sản xuất giường tủ, bàn ghế (-19,1%); sản xuất xi măng, vôi, thạch cao giảm 4,8%;… Bên cạnh đó, hiện tượng El Nino xuất hiện vào nửa cuối mùa hè năm 2023 vẫn duy trì đến đến hết mùa hè năm nay, làm cho các nhà máy thủy điện trên địa bàn tỉnh thiếu nước để hoạt động, do vậy ngành sản xuất điện có chỉ số giảm mạnh (-4,5%). Các sản phẩm công nghiệp ước 10 tháng năm 2024 tăng so cùng kỳ như sau: đá xây dựng khác 883 nghìn m3 (+14,3%); bánh làm từ bột khác bảo quản được 3,0 nghìn tấn (+28,2%); bia 290 triệu lít (+0,9%); túi xách 5,4 triệu cái (+49,8%); quần áo lót 312 triệu cái (+6,8%); vỏ bào, dăm gỗ 595,5 nghìn tấn (+8,5%); ô tô 951chiếc (+16,4 lần)...Các sản phẩm công nghiệp ước giảm so cùng kỳ: tôm đông lạnh 4.407 tấn (-14,7%); dịch vụ sản xuất va ly, túi xách và các loại tương tự; yên đệm 2.524 triệu đồng (-16,3%); sản phẩm in 624 triệu trang (-7,7%); gạch men 11,8 triệu m2 (-3,5%); xi măng 1.341 nghìn tấn (-4,3%); clanhke xi măng 1.418 nghìn tấn (-8,0%); ghế có khung bằng kim loại 98 nghìn chiếc (-6,2%); điện sản xuất 1.370,0 triệu KW (-8,5%)...Chỉ số sử dụng lao động ước 10 tháng đầu năm 2024 ước tăng 7,9% so cùng kỳ. Trong đó một số ngành có chỉ số sử dụng lao động tăng như: sản xuất đồ uống (+38,7%); sản xuất da và các sản phẩm có liên quan (+11,6%); sản xuất xe có động cơ (+11,9 lần); sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic (+3,9 lần); công nghiệp chế biến, chế tạo khác (+3,8%). Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số sử dụng lao động giảm: sản xuất chế biến thực phẩm (-5,0%); sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất (-42,0%); sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học (-8,8%)...3. Vốn đầu tưĐẩy nhanh tiến trình xây dựng và phát triển tỉnh Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc Trung ương theo Nghị quyết 54 của Bộ Chính trị; Với mục tiêu thực hiện thành công Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI và Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2021-2025. Trong 10 tháng đầu năm, tỉnh Thừa Thiên Huế đang khẩn trương hoàn thành các công trình, dự án trọng điểm của tỉnh, bảo đảm tiến độ các quy hoạch, đề án đã được đề ra, phát triển hệ thống giao thông, tăng cường liên kết vùng, thúc đẩy phát triển kinh tế, giải quyết việc làm và đảm bảo an sinh xã hội.Tổng vốn đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tháng 10 ước đạt 882,9 tỷ đồng, tăng 19,4% so cùng kỳ. Lũy kế tổng vốn đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý 10 tháng ước đạt 5.773,2 tỷ đồng, đạt 68,5% kế hoạch năm, tăng 3,51% so cùng kỳ. Trong đó, vốn NSNN cấp tỉnh ước đạt 4.762 tỷ đồng tăng 2,5%; vốn NSNN cấp huyện, xã ước đạt 1.011,2 tỷ đồng, tăng 10,9% so cùng kỳ. Nguồn vốn tập trung chủ yếu vào các công trình chuyển tiếp năm 2023 như: đê chắn sóng Cảng Chân Mây giai đoạn 2; hạ tầng khu tái định cư và Quảng trường Văn hóa Thể thao tỉnh Thừa Thiên Huế ; cầu vượt biển Thuận An; cầu đường bộ Nguyễn Hoàng vượt sông Hương; chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình phát triển các đô thị loại II (các đô thị xanh) tỉnh Thừa Thiên Huế; dự án cải thiện môi trường nước, dự án phòng chống thiên tai, dự án phát triển hạ tầng tại các địa phương. Bên cạnh các dự án đang đẩy nhanh tiến độ thi công, một số dự án chậm tiến độ : dự án Trung tâm Khởi nghiệp Đổi mới sáng tạo tỉnh Thừa Thiên Huế, đường Tố Hữu nối dài đi sân bay Phú Bài; chỉnh trang, mở rộng nút giao Trần Phú - Đặng Huy Trứ - Đoàn Hữu Trưng; đường Lâm Hoằng nối dài; đường dẫn hai đầu cầu đối với các dự án Đường Nguyễn Hoàng và cầu vượt qua sông Hương; tuyến đường bộ ven biển đoạn qua tỉnh Thừa Thiên Huế; bảo quản, tu bổ, phục hồi và tôn tạo tổng thể di tích Thái Miếu giai đoạn 1 - đợt 1; bảo tồn tu bổ và phát huy giá trị tổng thể di tích lăng vua Thiệu Trị giai đoạn 3; dự án Bảo tồn, tu bổ và tôn tạo hệ thống kinh thành Huế; dự án Nâng cấp, mở rộng đường Nguyễn Gia Thiều và khu tái định cư B5 thuộc Hạ tầng khu đô thị mới Thuận An, phường Thuận An; cầu đường bộ và kè sông Như Ý...4. Thương mại, dịch vụ và giá cảTháng 10 bước vào mùa mưa, do ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đới và bão, tại tỉnh Thừa Thiên Huế có mưa vừa, mưa to đã ảnh hưởng tới tình hình kinh doanh thương mại dịch vụ trên địa bàn tỉnh. Bên cạnh chủ động ứng phó với diễn biến phức tạp của thời tiết, các chương trình, lễ hội trong tháng vẫn được tổ chức nhộn nhịp nhằm kích cầu, phát triển hoạt động thương mại dịch vụ như: Lễ hội mùa Đông, trong khuôn khổ Festival Huế 2024 sẽ diễn ra từ tháng 10-12/2024; ngày Phụ nữ Việt Nam 20-10; ngày hội doanh nhân Việt Nam; hội thao - hội thi Công an nhân dân cụm IV tại tỉnh Thừa Thiên Huế.Kết quả hoạt động thương mại, dịch vụ và vận tải trên địa bàn tỉnh tháng 10 năm 2024 ước đạt như sau:4.1. Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùngTình hình sản xuất kinh doanh nhiều cơ sở trên địa bàn tỉnh bị ảnh hưởng bởi mưa lớn diện rộng, do vậy doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng tháng 10 giảm ở hầu hết các ngành hàng. Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 10 giảm 0,7% so tháng trước. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 10/2024 ước đạt 4.971,8 tỷ đồng, giảm 0,7% so tháng trước và tăng 18,5% so cùng kỳ. Chia theo nhóm ngành hàng: Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 10 ước đạt 3.449,6 tỷ đồng, chiếm 69,4%, giảm 0,8% so tháng trước và tăng 13,7% so cùng kỳ; doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống ước đạt 993,5 tỷ đồng, chiếm 20,0%, giảm 1,4% so tháng trước và tăng 30,1% so cùng kỳ; hoạt động du lịch lữ hành đạt 31,0 tỷ đồng, chiếm 0,6%, giảm 4,3% và tăng 12,2%; doanh thu dịch vụ khác đạt 497,7 tỷ đồng, chiếm 10,0%, tăng 1,5% và tăng 35,4%.Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 10 tháng năm 2024 đạt 47.293,2 tỷ đồng, tăng 14,8% so cùng kỳ, chia ra tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 33.649,5 tỷ đồng, chiếm 71,2% tổng số và tăng 12,3%; dịch vụ lưu trú và ăn uống đạt 9.404,2 tỷ đồng, chiếm 19,9% và tăng 19,4%; hoạt động du lịch lữ hành đạt 283,8 tỷ đồng, chiếm 0,6% và tăng 12,2%; dịch vụ khác đạt 3.955,7 tỷ đồng, chiếm 8,4% và tăng 35,4%. 4.2. Vận tải hành khách và hàng hóaBước vào tháng 10, thời tiết chuyển sang mùa mưa, nhu cầu đi lại cũng như vận chuyển hàng hóa của người dân giảm; các công trình xây dựng thi công gián đoạn do trời mưa,… do đó dự ước doanh thu vận tải giảm so tháng trước. Dự ước hành khách vận chuyển tháng 10 năm 2024 đạt 3.172,3 nghìn hành khách, giảm 1,6% so tháng trước và tăng 16,2% so cùng kỳ; hành khách luân chuyển đạt 155,0 triệu hành khách.km, giảm 1,6% so tháng trước và tăng 13,3% so cùng kỳ. Tính chung 10 tháng đầu năm 2024, vận tải hành khách ước đạt 30.456,5 nghìn hành khách, tăng 17,0% so cùng kỳ và luân chuyển ước đạt 1.496,1 triệu hành khách.km, tăng 12,6% so cùng kỳ.Dự ước hàng hóa vận chuyển tháng 10 năm 2024 ước đạt 1.952,9 nghìn tấn, giảm 3,1% so tháng trước và tăng 11,2% so cùng kỳ; hàng hóa luân chuyển đạt 165,0 triệu tấn.km, giảm 1,3% so tháng trước và tăng 13,4% so cùng kỳ. Tính chung 10 tháng năm 2024, vận tải hàng hóa ước đạt 19.025,6 nghìn hành khách, tăng 14,3% so cùng kỳ và luân chuyển ước đạt 1.573,3 triệu tấn.km, tăng 12,0% so cùng kỳ. Dự ước doanh thu vận tải và bốc xếp tháng 10 năm 2024 đạt 466,1 tỷ đồng, giảm 0,6% so tháng trước và tăng 15,5% so cùng kỳ. Tính chung 10 tháng năm 2024, doanh thu vận tải và bốc xếp ước đạt 4.434,2 tỷ đồng, tăng 15,6% so cùng kỳ. Trong đó: đường bộ đạt 4.074,0 tỷ đồng, tăng 14,4%; đường sông đạt 4,1 tỷ đồng, tăng 20,0%. Chia theo loại hình dịch vụ: vận tải hành khách ước đạt 930,3 tỷ đồng, tăng 15,5%; vận tải hàng hóa ước đạt 3.147,8 tỷ đồng, tăng 14,1%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 329,9 tỷ đồng, tăng 33,4%; bưu chính chuyển phát đạt 26,2 tỷ đồng, tăng 8,5% so cùng kỳ.4.3. Lượt khách các cơ sở lưu trú phục vụ và du lịch lữ hànhTháng 10/2024, là tháng đầu tiên trong Lễ hội mùa Đông, với một số hoạt động sự kiện hướng về tính cộng đồng đem đến không khí mùa đông xứ Huế sôi động, ấm áp hơn, đồng thời tạo ra các loại hình vui chơi, giải trí cho du khách. Ngoài ra, tháng 10 cũng là tháng bắt đầu mùa khách quốc tế, dự kiến lượt khách quốc tế đến Huế tăng khá, tuy nhiên thời tiết trong tháng chuyển sang mùa mưa, và cũng là mùa khách nội địa lại có xu hướng giảm.Doanh thu của cơ sở lưu trú ước thực hiện tháng 10/2024 ước đạt 162,4 tỷ đồng, giảm 0,9% so tháng trước và tăng 38,1% so cùng kỳ. Đưa doanh thu lưu trú 10 tháng năm 2024 đạt 1.634,3 tỷ đồng, tăng 25,1% so cùng kỳ.Dự ước lượt khách do cơ sở lưu trú phục vụ tháng 10/2024 đạt 154,5 nghìn lượt khách, giảm 0,8% so tháng trước và tăng 16,3% so cùng kỳ. Trong đó, lượt khách ngủ qua đêm tháng 10/2024 ước đạt 122,9 nghìn lượt khách, tăng 0,1% so tháng trước và tăng 18,2% so cùng kỳ; lượt khách trong ngày đạt 31,6 nghìn lượt khách, giảm 4,0% so tháng trước và tăng 9,8% so cùng kỳ. Đưa lượt khách do các cơ sở lưu trú phục vụ 10 tháng năm 2024 đạt 1.695,1 nghìn lượt, tăng 17,0% so cùng kỳ. Trong đó, lượt khách ngủ qua đêm 10 tháng năm đạt 1.354,2 nghìn lượt, tăng 18,0% so cùng kỳ; lượt khách trong ngày đạt 340,9 nghìn lượt, tăng 12,9% so cùng kỳ. Trong lượt khách ngủ qua đêm, khách quốc tế 530,5 nghìn lượt, tăng 22,0%; khách trong nước 823,7 nghìn lượt, tăng 15,6% so cùng kỳ. Ngày khách dự ước tháng 10/2024 đạt 209,8 nghìn ngày, giảm 0,1% so tháng trước và tăng 15,7% so cùng kỳ. Trong đó: Ngày khách quốc tế đạt 87,6 nghìn ngày, tăng 21,8% so tháng trước và tăng 1,4% so cùng kỳ; ngày khách trong nước đạt 122,2 nghìn ngày, giảm 11,5% so tháng trước và tăng 28,8% so cùng kỳ. Đưa ngày khách dự ước 10 tháng đạt 2.304,8 nghìn ngày, tăng 17,1% so cùng kỳ. Trong đó: Ngày khách quốc tế đạt 944,8 nghìn ngày, tăng 22,6%; ngày khách trong nước đạt 1.360 nghìn ngày, tăng 13,5%.Lượt khách phục vụ của các cơ sở lữ hành thực hiện tháng 10/2024 ước đạt 14,8 nghìn lượt, giảm 5,8% so tháng trước và tăng 16,4% so cùng kỳ; đưa lượt khách 10 tháng ước đạt 169,7 nghìn lượt, tăng 15,8% so cùng kỳ. Ngày khách theo tour ước thực hiện tháng 10/2024 là 36,8 nghìn ngày, giảm 4,9% so tháng trước và tăng 12,7% so cùng kỳ. Đưa ngày khách theo tour mười tháng ước đạt 357,7 nghìn ngày khách, tăng 14,7% so cùng kỳ.4.4. Giá cả- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) Chỉ số giá tiêu dùng chung toàn tỉnh tháng 10/2024 tăng 0,41% so tháng trước. Nguyên nhân tăng chủ yếu là do Tập đoàn Petrolimex điều chỉnh giá xăng dầu trong tháng 10 làm giá nhiên liệu tăng.Có 7/11 nhóm hàng tăng giá so tháng trước, cụ thể: giao thông tăng 1,09%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,70%; hàng hoá và dịch vụ khác tăng 0,27%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,10%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,09%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,06%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,02% so tháng trước. Trong khi đó, nhóm văn hoá, giải trí và du lịch giảm 0,04% so tháng trước. Các nhóm thuốc và dịch vụ y tế, bưu chính viễn thông, giáo dục bình ổn so tháng trước.Chỉ số giá tiêu dùng chung toàn tỉnh tháng 10/2024 tăng 2,39% so tháng 12 năm trước và tăng 3,23% so cùng kỳ. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 10 tháng năm 2024 tăng 3,89% so bình quân cùng kỳ.- Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ Chỉ số giá vàng tháng 10/2024 tăng 6,39% so với tháng trước. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 10/2024 tăng 1,04% so với tháng trước.5. Tài chính, ngân hàng5.1. Tài chính:Tổng thu ngân sách trên địa bàn 10 tháng năm 2024 ước đạt 9.516 tỷ đồng, bằng 80,7% dự toán năm. Nguồn thu thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng hàng nhập khẩu năm này tăng mạnh chủ yếu là do khoản thu thuế xuất khẩu dăm gỗ tăng và phát sinh khoản thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng hàng linh kiện lắp ráp ô tô của Công ty cổ phần Kim Long Motor Huế.Trong đó: Thu nội địa ước đạt 8.527,7 tỷ đồng, bằng 76,4% dự toán; thu thuế từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 973 tỷ đồng, bằng 156,9% dự toán. Trong thu nội địa: Thu doanh nghiệp Nhà nước ước đạt 351 tỷ đồng, bằng 76,3% dự toán; thu doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 3.510 tỷ đồng, bằng 91,5% dự toán; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 1.380 tỷ đồng, bằng 85,8% dự toán; thuế thu nhập cá nhân 538 tỷ đồng, bằng 107,6% dự toán; thuế bảo vệ môi trường 326 tỷ đồng, bằng 88,1% dự toán.Tổng chi ngân sách địa phương 9 tháng ước đạt 10.733 tỷ đồng, bằng 67,1% dự toán, trong đó chi đầu tư phát triển 3.539,2 tỷ đồng, bằng 59,9% dự toán; chi sự nghiệp kinh tế 695 tỷ đồng, bằng 64,8% dự toán; chi sự nghiệp giáo dục đào tạo 3.100,0 tỷ đồng, bằng 80,2% dự toán; chi sự nghiệp y tế 450 tỷ đồng, bằng 70,0% dự toán; chi quản lý Nhà nước 1.396,5 tỷ đồng, bằng 86,7% dự toán.5.2. Ngân hàng: Đẩy mạnh triển khai chương trình kết nối Ngân hàng - Doanh nghiệp theo Công văn số 4315/NHNN-TD ngày 21/5/2024 của NHNNVN, NHNN tỉnh đã có văn bản chỉ đạo các NHTM trên địa bàn tích cực chủ động đẩy mạnh chương trình kết nối Ngân hàng - Doanh nghiệp. Thực hiện Thông tư 02/2023/TT-NHNN và Chỉ thị số 02/CT-NHNN ngày 23/5/2023 của NHNN VN về việc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng gặp khó khăn. Chương trình tín dụng đối với lĩnh vực lâm sản, thủy sản với quy mô hiện nay khoảng 30.000 tỷ đồng và mức lãi suất thấp hơn tối thiểu từ 1% - 2%/năm so mức lãi suất cho vay bình quân (theo Công văn 5631/NHNN-TD ngày 14/7/2023 của NHNN Việt Nam). Tổng nguồn vốn huy động đến cuối tháng 10 năm 2024 ước đạt 75,3 nghìn tỷ đồng, tăng 8,14% so thời điểm đầu năm; tổng dư nợ tín dụng ước đạt 81,1 nghìn tỷ đồng, tăng 4,3% so thời điểm đầu năm. Các TCTD trên địa bàn tiếp tục chú trọng cho vay các lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ. Đến cuối tháng 9/2024, tín dụng đối với nông nghiệp nông thôn đạt 16.198 tỷ đồng, tăng 9,78% so đầu năm; Tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa đạt 12.358 tỷ đồng, giảm 14,71%; Tín dụng đối với xuất khẩu đạt 4.764 tỷ đồng, giảm 7,25% so đầu năm; Cho vay công nghiệp hỗ trợ đạt 1.425 tỷ đồng, tăng 20,93% so đầu năm. Trên địa bàn chưa phát sinh có dư nợ cho vay doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao.6. Các vấn đề xã hội6.1. Giáo dục - Đào tạo Sự kiện nổi bật tháng 10/2024, học sinh Võ Quang Phú Đức, đại diện của Trường THPT chuyên Quốc Học Huế xuất sắc giành vòng nguyệt quế tại cuộc thi Đường lên đỉnh Olympia năm thứ 24. Tại điểm cầu truyền hình diễn ra tại Quảng trường Ngọ Môn, Huế đã giới thiệu, quảng bá những hình ảnh về lịch sử, văn hóa, con người và danh lam thắng cảnh Huế, tạo ấn tượng tốt đẹp với mọi người. Ngày 23/10/2024 Sở Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Ban Khoa giáo, Đài Truyền hình Việt Nam tổ chức lễ phát động chương trình “Chinh phục tương lai 2024”. Đây là cuộc thi dành cho học sinh trung học cơ sở trên cả nước, năm 2024 chương trình “Chinh phục tương lai” được tổ chức tại 9 tỉnh, thành, trong đó có Thừa Thiên Huế.6.2. Tình hình y tế, dịch bệnh, ngộ độc thực phẩmTháng 10/2024, trên địa bàn tỉnh có 247 ca sốt xuất huyết, tăng 105 ca so cùng kỳ; có 15 ca mắc tay chân miệng, giảm 75 ca so cùng kỳ; 1 ca liên cầu lợn, tăng 1 ca so cùng kỳ; không có ca mắc sốt rét, viêm gan siêu trùng, viêm não vi rút, thương hàn, bằng cùng kỳ. Mười tháng năm 2024, trên địa bàn có 1.602 ca sốt xuất huyết, tăng 1.204 ca so cùng kỳ, có 1 ca tử vong, tăng 1 ca so cùng kỳ; có 114 ca mắc tay chân miệng, giảm 223 ca so cùng kỳ; 2 ca liên cầu lợn, tăng 2 ca so cùng kỳ; không có ca mắc sốt rét, viêm gan siêu trùng, viêm não vi rút, thương hàn bằng cùng kỳ .Tháng 9/2024, toàn tỉnh đã phát hiện 9 ca nhiễm mới HIV , tăng 4 ca so cùng kỳ; có 3 ca chuyển qua AIDS, tăng 3 ca so cùng kỳ; không có ca tử vong, bằng cùng kỳ. Chín tháng đầu năm, toàn tỉnh có 72 ca nhiễm mới HIV, giảm 9 ca so cùng kỳ; có 22 ca chuyển qua AIDS, tăng 14 ca so cùng kỳ; có 3 ca tử vong, tăng 1 ca so cùng kỳ. Hiện tại, trên địa bàn tỉnh có 561 bệnh nhân đang được quản lý và điều trị tại các cơ sở y tế, trong đó có 552 bệnh nhân điều trị ARV. Tháng 10/2024, trên địa bàn không xảy ra ngộ độc thực phẩm, bằng so cùng kỳ. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn xảy ra 4 vụ ngộ độc thực phẩm, tăng 2 vụ so cùng kỳ; làm 39 người bị ngộ độc, tăng 6 người so cùng kỳ, không có người tử vong.6.3. Hoạt động văn hóa, thể thaoTrong tháng 10/2024, trên địa bàn tỉnh diễn ra nhiều hoạt động văn hóa, thể thao nổi bật, đáng chú ý ngày 10/10/2024 tại Trung tâm thể thao tỉnh tổ chức Giải bơi truyền thống trung, cao tuổi toàn quốc lần thứ 26 năm 2024. Thu hút hơn 200 HLV, VĐV nam, nữ của 22 đơn vị, địa phương trên cả nước tham gia, các VĐV tranh tài 4 nội dung bơi ở 9 nhóm tuổi.Tối ngày 19/10/2924, Nhà hát Sông Hương tổ chức thành công đêm nhạc mang tên “Huế Symphony - Bản giao hưởng Cố đô”, thu hút gần nghìn người tham dự. Đây là hoạt động văn hóa nghệ thuật đặc sắc, hướng tới sản phẩm du lịch mới, độc đáo của Cố đô Huế.Ngày 25/10/2024, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng UBND thành phố Hà Nội, UBND tỉnh Thừa Thiên Huế tổ chức Cuộc thi và Triển lãm ảnh nghệ thuật Việt Nam năm 2024 tại thành phố Huế. Ban tổ chức đã nhận hơn 900 bộ ảnh dự thi; trong đó, có 73 bộ ảnh được chọn triển lãm, 19 bộ trong số đó được trao giải thưởng.6.4. Tai nạn giao thông Theo báo cáo của Ban ATGT tỉnh, từ 15/9/2024 đến 14/10/2024, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 16 vụ tai nạn giao thông, giảm 11 vụ so cùng kỳ; làm 9 người chết, tăng 3 người; làm bị thương 10 người, giảm 10 người so cùng kỳ. Mười tháng đầu năm, trên địa bàn xảy ra 233 vụ tai nạn giao thông, tăng 35 vụ so cùng kỳ; làm chết 102 người, tăng 7 người; làm bị thương 170 người, tăng 25 người so cùng kỳ.6.5. Tình hình cháy nổ và bảo vệ môi trườngTrong tháng 10/2024 trên địa bàn tỉnh xảy ra 1 vụ cháy , thiệt hại ước tính khoảng 30,5 triệu đồng, không có thiệt hại về người; bằng so cùng kỳ, tăng 1 vụ so tháng trước. Mười tháng năm 2024, trên địa bàn tỉnh xảy ra 15 vụ cháy, giảm 10 vụ so cùng kỳ; không có thiệt hại về người, thiệt hại khoảng 1,045 tỷ đồng.Trong tháng 10/2024 trên địa bàn tỉnh phát hiện 12 vụ vi phạm môi trường, giảm 6 vụ so cùng kỳ, tăng 6 vụ so tháng trước. Các ngành chức năng đã tiến hành xử lý 9 vụ với số tiền xử phạt 56,2 triệu đồng. Mười tháng năm 2024, trên địa bàn tỉnh xảy ra 183 vụ vi phạm môi trường, tăng 14 vụ so cùng kỳ; tiến hành xử lý 163 vụ với tổng số tiền phạt 1.144,3 triệu đồng.6.6. Thiệt hại do thiên taiTháng 10/2024 xảy ra 1 vụ thiên tai, tăng 1 vụ so tháng trước và giảm 1 vụ so cùng kỳ. Sáng ngày 27/10/2024 bão số 6 đi vào địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế với sức gió cấp 7-8, giật cấp 9-10, vùng gần tâm bão đi qua cấp 8-9, giật cấp 10-11; gây ra mưa to đến rất to, làm ngập một số vùng thấp trũng. Hiện tại chưa thu thập thông tin để ước tính thiệt hại do bão số 6 gây ra. Mười tháng năm 2024 trên địa bàn tỉnh xảy ra 6 vụ thiên tai, bằng cùng kỳ; giá trị thiệt hại ước khoảng 3,1 tỷ đồng (chưa tính bão số 6). Cục Thống kê tiếp tục cập nhật và báo cáo khi có số liệu thu thập đầy đủ về thiệt hại do bão số 6 gây ra./.CỤC THỐNG KÊ TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
CHỈ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG THÁNG 10 NĂM 2024 CỦA TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- 01/11/2024 09:20
Giá cả thị trường trong tháng 10 năm 2024 của tỉnh Thừa Thiên Huế ổn định, không có sự biến động lớn về giá. So với tháng trước, CPI tháng 10/2024 tăng 0,41% (khu vực thành thị tăng 0,37%; khu vực nông thôn tăng 0,46%). Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 7 nhóm hàng có chỉ số tăng, 01 nhóm hàng có chỉ số giảm, 03 nhóm bình ổn giá so với tháng trước. Các nhóm có chỉ số tăng là: giao thông tăng 1,09%, hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,70%, hàng hoá và dịch vụ khác tăng 0,27%, nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,10%, may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,09%, thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,06%, đồ uống và thuốc lá tăng 0,02% so với tháng trước. Nhóm văn hoá, giải trí và du lịch giảm 0,04% so với tháng trước. Các nhóm thuốc và dịch vụ y tế, bưu chính viễn thông, giáo dục bình ổn so với tháng trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 10 tháng năm 2024 so với cùng kỳ năm 2023 tăng 4,11%. Trong đó, có 10 nhóm hàng tăng giá và 01 nhóm hàng giảm giá. Thị trường vàng và đô la Mỹ biến động theo thị trường thế giới và trong nước. Tháng này giá vàng tiếp tục tăng 6,39% so với tháng trước, cùng chiều với giá vàng giá đô la Mỹ tăng 1,04%.CỤC THỐNG KÊ TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Cục Thống kê tỉnh Thừa Thiên Huế Tổ chức Hội thi nấu ăn “Bếp đoàn kết” nhân kỷ niệm Ngày Thống kê Thế giới và Ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10
- 18/10/2024 07:12
Trong không khí vui tươi, phấn khởi chào mừng ngày Thống kê thế giới và ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10, Cục Thống kê tỉnh Thừa Thiên Huế tổ chức hội thi nấu ăn “Bếp đoàn kết”, với tinh thần “Làm hết sức – Chơi hết mình”. Ông Hoàng Văn Sỹ, Cục trưởng Cục Thống kê tỉnh Thừa Thiên Huế phát biểu khai mạc Hội thi Hội thi lần này có 06 đội với 24 thành viên là công chức và người lao động đang công tác trong ngành Thống kê Thừa Thiên Huế. Mặc dù bận rộn công việc chuyên môn, nhưng thành viên của các đội đã chủ động sắp xếp thời gian, tích cực hưởng ứng, tham gia với tinh thần cao nhất. Đây cũng là dịp để công chức và người lao động trong ngành có cơ hội giao lưu, học hỏi kinh nghiệm trong quá trình công tác cũng như chia sẽ công việc chăm sóc gia đình, qua đó tăng cường tinh thần đoàn kết, thống nhất giúp tập thể Cục Thống kê tỉnh Thừa Thiên Huế ngày càng vững mạnh.Một số hình ảnh hội thi nấu ăn “Bếp đoàn kết":Món Soup hoành thánhMón Tôm hấp dừaTrao giải khuyến khích cho 2 đội thi : liên quân Phòng Kinh tế - Thu thập thông tin; liên quân Chi cục Thống kê Thành phố Huế và Thị xã Hương TràTrao giải ba cho 2 đội thi liên quân: Phòng Tổ chức hành chính - Tổng hợp - Xã hội; liên quân Chi cục Thống kê huyện Phú Vang và Thị xã Hương ThủyTrao giải nhì cho đội thi liên quân Chi cục Thống kê huyện Phong Điền, Quảng ĐiềnTrao giải nhất cho đội thi liên quân Chi cục Thống kê huyện Phú Lộc, Nam Đông, A Lưới
Infographic tình hình kinh tế xã hội 9 tháng đầu năm 2024 tỉnh Thừa Thiên Huế
- 03/10/2024 09:48
Thu thập thông tin chi tiêu của khách du lịch, khách quốc tế đến Việt Nam trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế từ ngày 01/10/2024
- 30/09/2024 16:40
Ngày 17 tháng 3 năm 2023, Tổng cục trưởng Tổng cục thống kê ký quyết định số 313/QĐ-TCTK về việc ban hành phương án điều tra chi tiêu của khách du lịch, khách quốc tế đến Việt Nam. Đây là cuộc điều tra nhằm mục đích thu thập thông tin về mức và các khoản chi tiêu chủ yếu của khách du lịch, khách quốc tế đến Việt Nam làm cơ sở tính mức chi tiêu bình quân chung và cơ cấu chi tiêu của khách du lịch, khách quốc tế đến Việt Nam; thu thập thông tin phục vụ biên soạn một số chỉ tiêu chủ yếu về du lịch, xuất khẩu, nhập khẩu dịch vụ du lịch.Đối tượng điều tra bao gồm khách du lịch nội địa, khách Việt Nam đi du lịch nước ngoài và khách quốc tế đến Việt Nam. Đơn vị điều tra là hộ dân cư đối với phiếu thu thập thông tin về khách du lịch nội địa và khách Việt Nam đi du lịch nước ngoài; khách quốc tế tại các cơ sở lưu trú đối với phiếu Thu thập thông tin về xác định khách du lịch quốc tế và chi tiêu của khách quốc tế đến Việt Nam.Thời gian điều tra: Đối với phiếu thu thập thông tin từ hộ dân cư: Từ ngày 01-10 các tháng 10, 11, 12; Đối với phiếu thu thập thông tin của khách quốc tế đến Việt Nam: Từ ngày 01-30/10. Thời kỳ thu thập thông tin: Đối với hộ dân cư: Là thời gian diễn ra chuyến đi gần nhất kể từ ngày 01/01 đến thời điểm điều tra viên đến hộ; Đối với khách quốc tế đến Việt Nam: Là thời gian diễn ra chuyến đi hiện tại của khách.CỤC THỐNG KÊ TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Thống nhất chủ trương thành lập thành phố Huế trực thuộc Trung ương
- 26/09/2024 13:55
Đó là một trong nội dung được đề cập tại Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương lần thứ 10 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XIII của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, chiều 20/9. Cổng Thông tin điện tử Tỉnh ủy trân trọng giới thiệu toàn văn Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương lần thứ 10 khóa XIII của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương lần thứ 10, khóa XIII. Ảnh: Trí DũngKính thưa các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Trung ương Đảng!Thưa các đồng chí tham dự Hội nghị.Sau 3 ngày làm việc khẩn trương, với tinh thần trách nhiệm rất cao, Hội nghị Trung ương 10 khoá XIII đã hoàn thành toàn bộ nội dung, chương trình đề ra. Trung ương đã thảo luận sôi nổi, thẳng thắn và thống nhất về nhiều vấn đề quan trọng. Trung ương đánh giá cao cách làm đổi mới, cầu thị của Hội nghị lần này. Trung ương cơ bản thống nhất với các đánh giá, bài học kinh nghiệm, bối cảnh tình hình, quan điểm, phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm, các đột phá đã nêu trong các dự thảo các Báo cáo.Thay mặt Bộ Chính trị, Tôi ghi nhận, đánh giá cao, biểu dương tinh thần làm việc khoa học, thẳng thắn, trách nhiệm, hiệu quả, đổi mới của Trung ương; công tác chuẩn bị chu đáo, kỹ lưỡng, chất lượng của các Tiểu ban, của Văn phòng Trung ương Đảng và các cơ quan có liên quan. Hội nghị Trung ương rút ngắn thời gian nhưng rất bảo đảm chất lượng. Sau đây, Tôi xin khái quát, nhấn mạnh và gợi mở một số vấn đề để thống nhất lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện:1. Hội nghị đã thống nhất cao về nhận thức, quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng:Thống nhất xác định thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng là mục tiêu cao nhất của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong năm 2025. Nhiệm vụ này sẽ được thực hiện với quyết tâm cao nhất, nỗ lực lớn nhất, hành động quyết liệt, có trọng tâm, trọng điểm với các giải pháp thực hiện hiệu quả nhất, tập trung mọi nguồn lực, biện pháp, phấn đấu đạt và vượt các mục tiêu đề ra.Trung ương thống nhất cao với phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2025, về bối cảnh tình hình, quan điểm phát triển, mục tiêu, các chỉ tiêu, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu. Với những kết quả đạt được từ năm 2021 đến nay và dự kiến phát triển kinh tế - xã hội năm 2025, chúng ta sẽ phấn đấu đạt và vượt hầu hết các chỉ tiêu chủ yếu giai đoạn 2021-2025 do Đại hội XIII đề ra; Thực tế đến nay vẫn còn khó khăn, thách thức nhất là việc thực hiện chỉ tiêu GDP - chỉ tiêu quan trọng phản ánh chất lượng tăng trưởng và việc bảo đảm thực hiện các mục tiêu chiến lược.Đại biểu thống nhất thông qua nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 10, khóa XIII. Ảnh: Trí DũngTrung ương yêu cầu cả hệ thống chính trị, trước hết là Chính phủ, người đứng đầu các ban, bộ, ngành, địa phương phải thực sự quyết tâm, quyết làm, có các giải pháp quyết liệt, dứt điểm, tăng tốc để thực hiện thành công nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2025 được Trung ương thông qua; đạt cho được các chỉ tiêu, nhất là chỉ tiêu GDP và tiếp tục tạo chuyển biến mạnh mẽ trong những năm tiếp theo.Cần chú trọng tập trung cao nhất các giải pháp ưu tiên để bảo đảm tăng trưởng cao của nền kinh tế đi đôi với bảo vệ môi trường, an sinh xã hội, chăm lo tốt nhất cho đời sống người dân, đặc biệt là đối với các địa phương chịu hậu quả nặng nề của cơn bão số 3; bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh, nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và không ngừng nâng cao vị thế và đóng góp của Việt Nam vào hoà bình, ổn định phát triển của khu vực và thế giới.2. BCHTW cơ bản thống nhất với những nội dung chủ yếu về các dự thảo văn kiện, công tác nhân sự và một số vấn đề cụ thể2.1. Về văn kiện trình Đại hội XIV của ĐảngTrung ương thống nhất đánh giá: Với thế và lực đã tích luỹ được sau 40 năm đổi mới, với sự đồng lòng, chung sức của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, với những thời cơ, thuận lợi mới, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, chúng ta đã hội tụ đủ những điều kiện cần thiết và văn kiện Đại hội XIV phải đề ra được định hướng chiến lược, nhiệm vụ, giải pháp quan trọng để giải phóng toàn bộ sức sản xuất, phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực, lấy nguồn lực nội sinh, nguồn lực con người là nền tảng, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo là đột phá để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của Dân tộc Việt Nam.Dự thảo Báo cáo chính trị trình Trung ương cơ bản đã đáp ứng yêu cầu là Báo cáo trung tâm, rõ và mới ở tầm quan điểm, đường lối, chủ trương lớn; các báo cáo về chiến lược phát triển kinh tế-xã hội: xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng thực sự là các báo cáo chuyên đề, bổ sung quan trọng và cụ thể hoá Báo cáo chính trị; Báo cáo Tổng kết 40 năm đổi mới đã đúc rút khá toàn diện các căn cứ phục vụ xây dựng Báo cáo chính trị.Trên cơ sở kiên định hệ quan điểm chỉ đạo mang tính nguyên tắc của Đảng; các báo cáo đã làm rõ những định hướng lớn về phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, con người, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, xây dựng Đảng, cơ bản đã hoàn thiện chỉnh thể chủ trương, biện pháp,“đúng,, “trúng,” có tính đột phá để đưa đất nước bước sang kỷ nguyên mới. Tổng kết 40 năm đổi mới đã thể hiện được những vấn đề mới về lý luận rút ra từ thực tiễn, là cơ sở quan trọng cho việc xây dựng các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng.Tuy nhiên, Trung ương cũng yêu cầu cần phải tiếp tục tập trung rà soát, bổ sung, hoàn thiện các báo cáo. Đối với Báo cáo chính trị, cần phải đạt tầm mức công trình khoa học kết tinh trình độ lý luận, tầm cao trí tuệ của toàn Đảng, niềm tin và khát vọng của cả dân tộc, phản ánh những quy luật khách quan, xu thế vận động mới của thời đại và thực tiễn đất nước; kết tinh toàn bộ tinh hoa, giá trị của quá khứ, hiện tại và hướng tới tương lai; không quá dài, chỉ rõ những định hướng lớn để các cấp ủy, mọi đảng viên thấm nhuần và thực hiện; thật sự là “ngọn đuốc soi đường” dẫn dắt toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta bước vào kỷ nguyên mới, sớm đạt các mục tiêu chiến lược 100 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, 100 năm thành lập Nước.Báo cáo chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, xây dựng Đảng phải thể hiện rõ những luận điểm khái quát trong Báo cáo chính trị; Tổng kết 40 năm đổi mới phải phản ánh đầy đủ thực tiễn đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, củng cố luận cứ vững chắc để định ra phương pháp cho Cách mạng Việt Nam trong thời đại mới.UVTW Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Lê Trường Lưu tham dự Hội nghị Trung ương lần thứ 10, khóa XIII. Ảnh Trí DũngTrung ương thống nhất xác định 05 nhóm vấn đề lớn để tiếp tục hoàn thiện Văn kiện đó là:(1) Về đột phá chiến lược, thống nhất cao xác định đột phá mạnh mẽ hơn về thể chế phát triển, tháo gỡ điểm nghẽn, rào cản, lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, huy động, khơi thông mọi nguồn lực bên trong, bên ngoài, nguồn lực trong dân, phát triển khoa học và công nghệ đồng bộ, thông suốt, tất cả vì sự phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội của đất nước và phát triển nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân; đổi mới mạnh mẽ công tác tổ chức cán bộ; đồng bộ và đột phá trong xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội là ưu tiên cao nhất.(2) Về phương hướng, giải pháp chiến lược, có 08 vấn đề đó là (i) Tập trung xây dựng mô hình xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trọng tâm là xây dựng con người xã hội chủ nghĩa, tạo nền tảng xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa mà Cương lĩnh của Đảng đã xác định (dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, do nhân dân làm chủ, nhà nước quản lý, Đảng Cộng sản lãnh đạo).(ii) Kiên định phát triển kinh tế-xã hội và bảo vệ môi trường là trung tâm, đẩy mạnh 3 đột phá chiến lược, xây dựng Đảng là then chốt, phát triển văn hóa là nền tảng, tăng cường quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại và hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên. Tập trung phát triển lực lượng sản xuất mới (kết hợp giữa nguồn nhân lực chất lượng cao với tư liệu sản xuất mới, hạ tầng chiến lược về giao thông, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh) gắn với hoàn thiện quan hệ sản xuất.(iii) Giữ vững độc lập, tự chủ; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế; bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa từ sớm, từ xa; kiên quyết, kiên trì giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo, vùng trời của Tổ quốc. Tiếp tục xây dựng lực lượng vũ trang tinh-gọn-mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại theo tinh thần tự lực, tự cường.(iv) Kiên trì đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; kiên định lập trường, quan điểm và thực hành nghệ thuật ngoại giao thời đại mới thể hiện cốt cách con người Việt Nam “Dĩ bất biến, ứng vạn biến,” “hòa hiếu,” “lấy chí nhân thay cường bạo”; tăng cường đóng góp thiết thực của Việt Nam trong duy trì hòa bình, ổn định, phát triển ở khu vực và trên thế giới.(v) Phát triển văn hoá, con người; kiên định lập trường, quan điểm và thực hành “Dân là gốc”, “Nhân dân là chủ thể, trung tâm của công cuộc đổi mới”; khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, tự tin, tự chủ, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, khát vọng cống hiến của mọi người dân và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc với phương châm dân biết, dân bàn, dân giám sát, dân kiểm tra, dân thụ hưởng.(vi) Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, do Ðảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền với phương châm “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”, Trung ương, Chính phủ, Quốc hội tăng cường, sáng tạo hoàn thiện thể chế, giữ vai trò kiến tạo, phục vụ và tăng cường kiểm tra, giám sát; đồng thời, cải cách triệt để, giảm tối đa thủ tục hành chính, chi phí tuân thủ của người dân, doanh nghiệp. Khuyến khích tự lực, tự cường, chủ động, sáng tạo của các địa phương.(vii) Tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; đẩy mạnh phòng chống tham nhũng, tiêu cực, khuyến khích bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung, đồng thời phải phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, không làm ảnh hưởng, cản trở phát triển kinh tế, xã hội.(viii) Đẩy mạnh công nghệ chiến lược, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo làm động lực chính cho phát triển.Toàn cảnh phiên bế mạc Hội nghị Trung ương lần thứ 10, khóa XIII. Ảnh: Trí Dũng(3) Về một số vấn đề mới từ thực tiễn cần tiếp tục khẩn trương tổng kết, làm rõ để xác định trong Văn kiện, như: quản trị quốc gia và quản trị địa phương; sự đồng bộ giữa cơ chế điều hành, quản lý, quản trị phát triển trong nền kinh tế thị trường; mối quan hệ giữa tư duy quản lý và tư duy phát triển; nội hàm, cách thức, con đường để thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá; nội hàm, mục tiêu, giải pháp thực hiện thành công đổi mới sáng tạo, công nghệ số trong kỷ nguyên mới; cách thức thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia để bảo đảm hiệu quả, chống lãng phí; đổi mới tư duy, quan điểm, quy trình xây dựng Luật, cơ quan làm luật; vấn đề đúng vai, thuộc bài trong thực hiện “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”; chính sách xã hội đi đôi với phát triển xã hội; nội hàm đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, nghề nghiệp.(4) Khắc phục các hạn chế đã nêu trong các báo cáo chính trị, kinh tế - xã hội (về thể chế và pháp luật; vận hành bộ máy; huy động, sử dụng, phân bổ nguồn lực; công nghiệp hoá, hiện đại hoá, liên kết vùng, công nghiệp văn hoá, công nghiệp phụ trợ, công nghiệp chế biến, chế tạo, ô nhiễm môi trường; về hiệu quả sản xuất).2.2. Về công tác xây dựng Đảng và thi hành điều lệ Đảng:Trung ương nhất trí cao trong trong giai đoạn mới, tiếp tục tập trung vào các nhóm giải pháp xây dựng Đảng, đó là:(1) Tiếp tục tập trung xây dựng, tinh gọn bộ máy tổ chức Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội để hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Trong đó, tinh gọn bộ máy, tổ chức các cơ quan của đảng, thực sự là hạt nhân trí tuệ, là “bộ tổng tham mưu”, đội tiên phong lãnh đạo cơ quan nhà nước; xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là người đứng đầu các cấp đủ phẩm chất, năng lực, uy tín ngang tầm nhiệm vụ trong điều kiện mới.(2) Tập trung hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực hoạch định chủ trương, đường lối của Đảng; đổi mới mạnh mẽ việc ban hành, quán triệt, thực hiện nghị quyết của Đảng; làm cho mỗi nghị quyết mới ban hành phải giải quyết được những vấn đề đặt ra từ thực tiễn, mang tính dẫn dắt, mở đường và được thực hiện hiệu quả trên thực tế cho nhân tố mới phát triển. (3) Đẩy mạnh cải cách hành chính, nhất là thủ tục hành chính trong Đảng; đổi mới phong cách lãnh đạo, phương thức, nguyên tắc, đường lối công tác, lề lối làm việc của các cơ quan lãnh đạo của Đảng từ Trung ương tới cơ sở. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong hoạt động của Đảng.Trung ương thống nhất đánh giá việc bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng là vấn đề rất lớn, hệ trọng, cần được chuẩn bị hết sức thận trọng, khoa học, nghiên cứu bài bản, kỹ lưỡng và tiến hành đồng thời với việc nghiên cứu, bổ sung, phát triển Cương lĩnh của Đảng khi Đảng ta tròn 100 năm thành lập. Cơ bản các nội dung của Điều lệ Đảng hiện hành phù hợp với thực tiễn; các quy định, hướng dẫn của Trung ương cụ thể, thuận lợi trong thi hành, bảo đảm vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, đáp ứng yêu cầu công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong tình hình mới. Các vướng mắc, bất cập trong thi hành Điều lệ Đảng có thể được giải quyết, khắc phục thông qua việc bổ sung, sửa đổi các văn bản, quy định hướng dẫn của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Trung ương thống nhất chủ trương chưa bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng tại Đại hội XIV; trên cơ sở tổng kết công tác thi hành Điều lệ Đảng, đề nghị Đại hội XIV giao Ban Chấp hành Trung ương khoá XIV chỉ đạo các cơ quan chức năng tiếp tục triển khai nghiên cứu, tổng kết thực tiễn thi hành Điều lệ Đảng ngay từ đầu nhiệm kỳ để báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, đề xuất bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng vào thời điểm phù hợp.2.3. Trung ương tán thành các nội dung đề xuất sửa đổi, bổ sung Quy chế bầu cử trong Đảng; thống nhất giao Bộ Chính trị chỉ đạo tiếp thu ý kiến của Trung ương, hoàn chỉnh để kịp thời ban hành.2.4. Về phương hướng công tác nhân sự: Trung ương thống nhất với Tờ trình, Báo cáo tổng kết công tác nhân sự Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII và xây dựng phương hướng nhân sự Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV, giao Tiểu ban Nhân sự nghiêm túc tiếp thu ý kiến của Trung ương, hoàn chỉnh Phương hướng công tác nhân sự Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV để ban hành theo quy định.2.5. Trung ương thống nhất cao, cơ bản đồng tình với báo cáo kinh tế-xã hội, thu chi ngân sách nhà nước năm 2024 và định hướng phát triển kinh tế - xã hội 2025.Khu vực trung tâm thành phố Huế trong tương lai. Ảnh: Lê Đình Hoàng2.6. Trung ương thống nhất chủ trương đầu tư dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc-Nam, xác định đây là nhiệm vụ chính trị và ưu tiên nguồn lực đầu tư thực hiện sớm; thống nhất chủ trương thành lập thành phố Huế trực thuộc Trung ương và một số vấn đề quan trọng khác.Như vậy, Hội nghị lần thứ X Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII đã hoàn thành chương trình đề ra và thành công rất tốt đẹp, Tôi xin tuyên bố bế mạc Hội nghị lần thứ mười Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII.Chúc các đồng chí sức khoẻ, hạnh phúc, thành công, lãnh đạo cấp ủy đơn vị mình thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Hội nghị Trung ương 10, tập trung cao nhất các công việc “về đích” để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và các công việc chuẩn bị tốt nhất cho Đại hội XIV của Đảng; các Tiểu ban tập trung hoàn thiện, bảo đảm cao nhất chất lượng Văn kiện phục vụ thảo luận tại Đại hội Đảng các cấp, lấy ý kiến của cán bộ, đảng viên và nhân dân.Nguồn:Tinhuytthue.vn