0234 3828125 | Tphue@nso.gov.vn
AEON MALL Huế chính thức khai trương
  •   16/09/2024 13:43

Trung tâm Thương mại (TTTM) AEON MALL Huế đã chính thức mở cửa đón khách vào ngày 16 tháng 9 năm 2024, thu hút lượng lớn khách hàng đến tham quan và mua sắm.  Tính đến 10 giờ sáng cùng ngày, TTTM AEON MALL Huế đã ghi nhận hơn 6,000 lượt khách ghé thăm. Khách hàng đặc biệt quan tâm đến các cửa hàng lần đầu tiên có mặt tại khu vực miền Trung như MUJI, siêu thị AEON,…. Bên cạnh đó, hàng loạt thương hiệu nổi tiếng khác cũng đánh dấu sự hiện diện đầu tiên của mình tại Huế như PHUC LONG, CHARLES & KEITH. Nhân dịp mở cửa đón khách, nhiều cửa hàng đã triển khai các chương trình ưu đãi đặc biệt và tổ chức các hoạt động tương tác hấp dẫn dành cho khách hàng, tạo nên không khí sôi động cho ngày đầu mở cửa.  Với quy mô lớn nhất tại Huế, AEON MALL Huế trải dài trên 04 tầng kinh doanh và 01 tầng hầm, mang đến trải nghiệm mua sắm và giải trí mới mẻ cho khách hàng. Ngoài ra, AEON MALL Huế còn cung cấp các tiện ích miễn phí như tủ khóa điện tử, bảng hướng dẫn cảm ứng, xe nôi và xe lăn, cùng các ứng dụng thông minh tích hợp qua App, nâng cao trải nghiệm mua sắm và giải trí cho khách hàng.  Lãnh đạo tỉnh, thành phố Huế đánh giá cao sự nỗ lực của đơn vị đầu tư và thi công để công trình đi vào hoạt động theo đúng kế hoạch đề ra. Khẳng định đây là một trong những địa điểm thu hút đông người dân và du khách, do đó AEON MALL Huế cần hết sức lưu ý đến các công tác an toàn, thuận tiện cho người dân đến tham quan và mua sắm.  Đồng thời đề nghị sau những ngày đầu mở cửa, TTTM AEON MALL Huế cần rà soát lại để có những điều chỉnh phù hợp đảm bảo các tiêu chuẩn, tiêu chí, chuẩn bị các điều kiện tốt nhất để tổ chức Lễ khai trương chính thức vào cuối tuần nay. Aeon Mall Huế là trung tâm thương mại thứ 7 tại Việt Nam và là trung tâm thương mại đầu tiên tại khu vực miền Trung của AEON MALL. Dự án được kỳ vọng sẽ góp phần bổ sung các thiết chế dịch vụ thương mại, hạ tầng xã hội trong khu vực theo quy hoạch đã được duyệt, đánh dấu bước phát triển mới trong việc thu hút đầu tư đối với lĩnh vực thương mại - dịch vụ, góp phần đa dạng hóa các trung tâm mua sắm hàng hóa, dịch vụ trên địa bàn tỉnh.Nguồn: https://huecity.gov.vn.

Tình hình giá cả tháng 8 trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế
  •   09/09/2024 09:50

Giá cả thị trường trong tháng 8 năm 2024 của tỉnh Thừa Thiên Huế ổn định, không có sự biến động lớn về giá. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của tỉnh Thừa Thiên Huế Tháng 8 năm 2024 giảm 0,16% so với tháng trước, tăng 1,79% so với tháng 12 năm 2023, tăng 3,19% so với cùng kỳ năm trước, bình quân 8 tháng năm 2024 so với cùng kỳ năm trước tăng 4,11%.So với tháng trước, CPI tháng 8/2024 giảm 0,16% (khu vực thành thị giảm 0,12%; khu vực nông thôn giảm 0,20%), tác động giảm chủ yếu do Tập đoàn Petrolimex điều chỉnh giá xăng dầu trong tháng 8. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 03 nhóm hàng giảm giá so với tháng trước: hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,11%; đồ uống và thuốc lá giảm 0,01%; giao thông giảm 2,20%. 05 nhóm có chỉ số giá tăng so với tháng trước: may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,16%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,48%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,07%; giáo dục tăng 0,01%; hàng hoá và dịch vụ khác tăng 0,03%. Các nhóm thuốc và dịch vụ y tế; bưu chính viễn thông; văn hoá, giải trí và du lịch bình ổn so với tháng trước.Tốc độ tăng/giảm CPI tháng 8 năm 2024 so với tháng trước So với cùng kỳ, Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 8 tháng năm 2024 tăng 4,11%, trong đó có 10 nhóm hàng tăng giá và 01 nhóm hàng giảm giá, cụ thể:Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 8 tháng đầu năm 2024 so với cùng kỳ năm trướcCục Thống kê tỉnh Thừa Thiên Huế

Công nhận khu vực dự kiến thành lập quận, phường thuộc khu vực tỉnh Thừa Thiên Huế dự kiến thành lập thành phố trực thuộc Trung ương đạt các tiêu chuẩn trình độ phát triển cơ sở hạ tầng đô thị
  •   06/09/2024 10:22

Bộ Xây dựng đã ban hành Quyết định số 844/QĐ-BXD ngày 04 tháng 9 năm 2024 về việc Công nhận khu vực dự kiến thành lập quận, phường thuộc khu vực tỉnh Thừa Thiên Huế dự kiến thành lập thành phố trực thuộc Trung ương đạt các tiêu chuẩn trình độ phát triển cơ sở hạ tầng đô thị.  Đô thị HuếTheo đó, công nhận 02 khu vực dự kiến thành lập quận thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế dự kiến thành lập thành phố trực thuộc Trung ương đạt các tiêu chuẩn trình độ phát triển cơ sở hạ tầng đô thị, cụ thể:- Khu vực dự kiến thành lập quận Thuận Hóa gồm toàn bộ địa giới hành chính các phường: Phú Hội, Phú Nhuận, Vĩnh Ninh, Phường Đúc, Thuỷ Xuân, Trường An, Phước Vĩnh, An Cựu, An Đông, An Tây, Xuân Phú, Vỹ Dạ, Thuỷ Vân, Phú Thượng, Thuận An, Thuỷ Biểu và các xã: Hải Dương, Phú Thanh, Phú Mậu, Phú Dương, Thuỷ Bằng, Hương Phong thuộc thành phố Huế.- Khu vực dự kiến thành lập quận Phú Xuân gồm toàn bộ địa giới hành chính các phường: Đông Ba, Gia Hội, Thuận Lộc, Tây Lộc, Thuận Hoà, Phú Hậu, Hương Vinh, Hương Sơ, An Hòa, Hương Long, Hương An, Kim Long, Hương Hồ và xã Hương Thọ thuộc thành phố Huế.Công nhận 04 khu vực dự kiến thành lập phường thuộc khu vực dự kiến thành lập quận Thuận Hoá đạt các tiêu chuẩn trình độ phát triển cơ sở hạ tầng đô thị đối với phường của đô thị loại I, cụ thể:- Khu vực dự kiến thành lập phường Thuận An gồm toàn bộ địa giới hành chính của phường Thuận An và xã Hải Dương;- Khu vực dự kiến thành lập phường Dương Nỗ gồm toàn bộ địa giới hành chính của xã Phú Thanh, xã Phú Mậu và xã Phú Dương;- Khu vực dự kiến thành lập phường Thuỷ Bằng gồm toàn bộ địa giới hành chính của xã Thuỷ Bằng;- Khu vực dự kiến thành lập phường Hương Phong gồm toàn bộ địa giới hành chính của xã Hương Phong.Công nhận khu vực dự kiến thành lập phường Long Hồ gồm toàn bộ địa giới hành chính của phường Hương Hồ và xã Hương Thọ thuộc khu vực dự kiến thành lập quận Phú Xuân đạt các tiêu chuẩn trình độ phát triển cơ sở hạ tầng đô thị đối với phường của đô thị loại I. Quyết định nêu rõ, Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế chịu trách nhiệm toàn diện trước pháp luật về tính chính xác thông tin, số liệu, nội dung của các Báo cáo đánh giá trình độ phát triển cơ sở hạ tầng khu vực dự kiến thành lập các quận, phường, các quy hoạch phân khu đã được phê duyệt bảo đảm phù hợp với Quy hoạch chung đô thị Thừa Thiên Huế đến năm 2045, tầm nhìn đến năm 2065 đã được phê duyệt, quy định pháp luật và các quy định có liên quan; quan tâm đâu tư xây dựng khắc phục các tiêu chuân chưa đạt, đạt thâp, nhât là tại khu vực các xã dự kiên thành lập phường; quản lý chặt chẽ việc quản lý đất đai, đầu tư, xây dựng tại các khu vực dự kiến thành lập phường đảm bảo tuân thủ quy định pháp luật về quy hoạch đô thị, đât đai và pháp luật có liên quan; chịu trách nhiệm đăm bao tinh chính xác của thông tin, sô liệu, đánh giá các tiêu chuẩn trình độ phát triển cơ sở hạ tầng khu vực dự kiên thành lập các quận, phường thuộc quận.  Trước đó, ngày 30/8/2024, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 924/QĐ-TTg công nhận khu vực tỉnh Thừa Thiên Huế dự kiến thành lập thành phố trực thuộc Trung ương đạt tiêu chí đô thị loại I.  Theo quyết định này, phạm vi đánh giá phân loại đô thị là toàn bộ địa giới hành chính hiện hữu của tỉnh Thừa Thiên Huế có diện tích tự nhiên là 4.947,11 km2. Khu vực nội thành là khu vực dự kiến thành lập 02 quận trực thuộc thành phố trực thuộc Trung ương, gồm toàn bộ địa giới hành chính hiện hữu của thành phố Huế, có tổng diện tích tự nhiên là 266,46 km2. Quyết định cũng nêu rõ, UBND tỉnh Thừa Thiên Huế chịu trách nhiệm toàn diện trước pháp luật và Thủ tướng Chính phủ về tính chính xác thông tin, số liệu, nội dung của Đề án, các quy hoạch phân khu đã được phê duyệt bảo đảm phù hợp với Quy hoạch chung đô thị Thừa Thiên Huế đến năm 2045, tầm nhìn đến năm 2065 đã được phê duyệt, quy định pháp luật và các quy định có liên quan; quan tâm đầu tư xây dựng khắc phục các tiêu chuẩn chưa đạt, đạt thấp, nhất là tại khu vực các xã dự kiến thành lập phường; chịu trách nhiệm đảm bảo tính chính xác của thông tin, số liệu, đánh giá các tiêu chuẩn phân loại đô thị, tiêu chuẩn trình độ phát triển cơ sở hạ tầng khu vực dự kiến thành lập các phường, quận và báo cáo rà soát tiêu chí phân loại đô thị của các đô thị trực thuộc… Theo Nghị quyết số 54-NQ/TW ngày 10/12/2019 của Bộ Chính trị, Quyết định số 1745/QĐ-TTg ngày 30/12/2023 phê duyệt Quy hoạch tỉnh Thừa Thiên Huế thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, Quyết định 108/QĐ-TTg ngày 26/1/2024 phê duyệt Quy hoạch chung đô thị Thừa Thiên Huế đến năm 2045, tầm nhìn đến năm 2065 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và Chương trình phát triển đô thị Thừa Thiên Huế, đến năm 2025 Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc Trung ương; mô hình đô thị dự kiến với 9 đơn vị hành chính gồm 2 quận, 3 thị xã và 4 huyện. Cụ thể, đối với khu vực dự kiến thành lập quận, bao gồm: quận Phú Xuân có diện tích 127,05 km2, quy mô dân số khoảng 203.142 người có 13 phường (gồm: An Hòa, Đông Ba, Gia Hội, Thuận Lộc, Tây Lộc, Thuận Hòa, Kim Long, Hương Sơ, Hương Long, Phú Hậu, Hương An, Hương Vinh, Long Hồ) của thành phố Huế thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế hiện hữu. Và quận Thuận Hóa trên cơ sở phần còn lại của thành phố Huế hiện hữu (có 139,41 km2 diện tích tự nhiên, quy mô dân số khoảng 297.507 người; có 19 phường, gồm: An Cựu, An Tây, Vỹ Dạ, Phước Vĩnh, Trường An, Phú Nhuận, Thủy Biều, Phú Hội, An Đông, Vĩnh Ninh, Phường Đúc, Thủy Xuân, Xuân Phú, Thủy Vân, Phú Thượng, Hương Phong, Thủy Bằng, Thuận An, Dương Nỗ). Đối với 03 thị xã: TX. Phong Điền, TX. Hương Thủy và TX. Hương Trà là các đô thị trực thuộc có vai trò để bảo tồn, hỗ trợ khu vực đô thị trung tâm, phát huy giá trị đặc sắc Cố đô và di sản văn hóa vật thể, phi vật thể đã được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận.  Và 04 huyện: Phú Vang, Quảng Điền, A Lưới và dự kiến sáp nhập huyện Phú Lộc với huyện Nam Đông. Sau khi rà soát, đánh giá hiện trạng tỉnh Thừa Thiên Huế theo các tiêu chí, tiêu chuẩn quy định tại Nghị quyết số 26/2022/UBTVQH15 ngày 21/09/2022 và Nghị quyết số 1210/2016/UBTVQH13 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Thừa Thiên Huế đã đảm bảo các tiêu chí, tiêu chuẩn của đô thị loại I trực thuộc Trung ương và 2 khu vực dự kiến thành lập quận, các khu vực dự kiến thành lập phường đã đảm bảo tiêu chuẩn về trình độ phát triển cơ sở hạ tầng của quận, phường của đô thị loại I. Đánh giá về hạ tầng, các cơ quan phản biện đánh giá cao sự phát triển về hạ tầng đô thị của Thừa Thiên Huế, từng bước khẳng định vai trò, tiềm năng, thế mạnh của Huế với hệ thống hạ tầng, các khu chức năng khá rõ ràng, là đô thị hiện đại nhưng vẫn giữ gìn bản sắc văn hoá Huế, với đặc trưng văn hoá, di sản, sinh thái, cảnh quan, thân thiện môi trường và thông minh.  Hội đồng thẩm định đã thống nhất thông qua đề án, đánh giá khu vực tỉnh Thừa Thiên Huế dự kiến thành lập thành phố trực thuộc Trung ương đạt tiêu chí đô thị loại I trực thuộc Trung ương với tổng số điểm là 82,91 điểm. Hội đồng thẩm định cũng đã đánh giá 02 khu vực dự kiến thành lập quận đảm bảo tiêu chuẩn về trình độ phát triển cơ sở hạ tầng của quận thuộc đô thị loại I trực thuộc Trung ương và đã thống nhất đánh giá 05 khu vực dự kiến thành lập phường đảm bảo tiêu chuẩn về trình độ phát triển cơ sở hạ tầng của phường thuộc đô thị loại I trực thuộc Trung ương.Nguồn: huecity.gov.vn

Chuyển đổi số – Động lực quan trọng đưa đất nước vào kỷ nguyên mới
  •   05/09/2024 16:14

Nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Quốc khánh, Tổng Bí thư – Chủ tịch nước Tô Lâm có bài viết: “Chuyển đổi số – Động lực quan trọng phát triển lực lượng sản xuất, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới”.1. Ngay sau khi giành được chính quyền, Đảng ta đã nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của việc phát triển lực lượng sản xuất và từng bước cải tạo, hoàn thiện quan hệ sản xuất. Quá trình này diễn ra qua nhiều giai đoạn, phản ánh sự vận động và phát triển không ngừng của Cách mạng Việt Nam.Cách mạng tháng Tám năm 1945 mở ra trang sử mới cho sự phát triển của dân tộc trong điều kiện đất nước vừa giành độc lập đã phải bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ. Xuất phát điểm từ nền nông nghiệp lạc hậu, trải qua hàng nghìn năm phong kiến và hàng trăm năm thực dân đô hộ, Đảng ta đã thực hiện chính sách “người cày có ruộng” nhằm trao ruộng đất về tay nông dân, xóa bỏ chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, hướng tới việc cải tạo quan hệ sản xuất, tạo tiền đề xây dựng phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa.Tổng Bí thư – Chủ tịch nước Tô Lâm. Ảnh: Hoàng HàGiai đoạn 1954 – 1975, cách mạng nước ta tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược, Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Ở miền Bắc, lấy xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội làm trọng tâm, củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới dựa trên ba trụ cột: chế độ công hữu, quản lý kế hoạch hóa tập trung và phân phối theo lao động [1], đã đưa lực lượng sản xuất phát triển vượt bậc.Năm 1975, đất nước ta hoàn toàn thống nhất, mở ra chương mới trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đại hội lần thứ IV của Đảng năm 1976 trên cơ sở đánh giá đặc điểm lớn của đất nước đó là, từ nền kinh tế phổ biến là sản xuất nhỏ tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa; đã đề ra đường lối: kiên định chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, quyết tâm tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng: về quan hệ sản xuất, khoa học – kỹ thuật và tư tưởng văn hóa [2]. Trong đó, cách mạng khoa học – kỹ thuật là then chốt, đẩy mạnh công nghiệp hóa là nhiệm vụ trung tâm.Từ năm 1979 đến trước Đại hội VI của Đảng năm 1986, đất nước ta đã trải qua những khủng hoảng nghiêm trọng, một phần nguyên nhân do sự thiếu đồng bộ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Lực lượng sản xuất bị kìm hãm không chỉ trong trường hợp quan hệ sản xuất lạc hậu, mà cả khi quan hệ sản xuất có những yếu tố đi quá xa so với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất [3]. Từ nhận thức đúng đắn đó, Đại hội VI của Đảng đã quyết tâm tiến hành đổi mới toàn diện, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, phát triển đa dạng các thành phần kinh tế, đổi mới cơ chế quản lý, xóa bỏ bao cấp, từng bước chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 05/4/1988 của Bộ Chính trị là bước đột phá về đổi mới quan hệ sản xuất trong nông nghiệp khi chính thức thừa nhận hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ và trao quyền sử dụng đất lâu dài cho nông dân, phù hợp với yêu cầu phát triển của lực lượng sản xuất [4]. Chỉ sau một năm thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị, Việt Nam từ một quốc gia thiếu lương thực triền miên đã sản xuất được 21,5 triệu tấn lúa và lần đầu tiên xuất khẩu 1,2 triệu tấn gạo. Việc điều chỉnh quan hệ sản xuất phù hợp đã tạo động lực mới cho lực lượng sản xuất phát triển, đưa đất nước vượt qua khủng hoảng, bước vào thời kỳ đổi mới toàn diện và hội nhập quốc tế.2. Bước sang thế kỷ 21, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế – xã hội. Ước tính tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2021-2025 đạt 5,7-5,9%/năm, thuộc nhóm dẫn đầu khu vực và thế giới; quy mô nền kinh tế tăng 1,45 lần, ước đạt 500 tỷ USD vào năm 2025. Thu nhập bình quân đầu người tăng mạnh từ 3.400 USD đến khoảng 4.650 USD, đưa Việt Nam vào nhóm nước thu nhập trung bình cao vào năm 2025. Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát; các chính sách điều hành linh hoạt, hiệu quả; vị thế, uy tín quốc tế ngày càng nâng cao; tốc độ tăng trưởng kinh tế duy trì ở mức cao, đời sống Nhân dân được cải thiện đáng kể.Bước sang thế kỷ 21, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế – xã hội. Ảnh: Hoàng MinhLực lượng lao động ước đạt 53,2 triệu người vào năm 2025, với cơ cấu chuyển dịch tích cực; tỷ lệ lao động nông nghiệp giảm mạnh, còn 25,8%; chất lượng nguồn nhân lực không ngừng nâng cao với 70% lao động qua đào tạo. Nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư trong các lĩnh vực then chốt, như công nghiệp bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ thông tin được tập trung phát triển, bước đầu hình thành đội ngũ lao động với tư duy số và kỹ năng số ngày càng được nâng cao. Trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT), dữ liệu lớn và điện toán đám mây đang dần trở thành những công cụ sản xuất quan trọng trong nhiều ngành, lĩnh vực. Kết cấu hạ tầng, đặc biệt là hạ tầng số, đang được đầu tư phát triển mạnh mẽ. Mạng lưới viễn thông và internet băng thông rộng phủ sóng rộng khắp cả nước, tạo nền tảng phát triển kinh tế số, xã hội số. Tuy nhiên, chúng ta cũng phải đối mặt với những thách thức mới. Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đặt ra yêu cầu cấp thiết nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra mạnh mẽ, sự phát triển công cụ sản xuất trong nền kinh tế số tạo ra biến đổi sâu sắc của lực lượng sản xuất, dẫn đến những mâu thuẫn mới với quan hệ sản xuất hiện hữu; vừa tạo tiền đề, động lực hình thành phương thức sản xuất mới trong tương lai, vừa đòi hỏi thay đổi căn bản cách thức tổ chức sản xuất và quản lý xã hội. Lực lượng sản xuất mới đang hình thành và phát triển mạnh mẽ; song chất lượng nguồn nhân lực vẫn còn khoảng cách so với yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới, trong khi đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực công nghệ cao, vẫn là thách thức lớn. Quan hệ sản xuất còn nhiều bất cập, chưa theo kịp sự phát triển của lực lượng sản xuất. Trong đó, cơ chế, chính sách, pháp luật chưa thực sự đồng bộ, còn chồng chéo, chưa tạo môi trường thực sự thuận lợi để thu hút nguồn lực của các nhà đầu tư trong và ngoài nước cũng như trong Nhân dân; tổ chức thực thi pháp luật, chính sách vẫn là khâu yếu. Công tác sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy hành chính Nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, giảm đầu mối, giảm cấp trung gian còn bất cập, một bộ phận còn cồng kềnh, chồng lấn giữa lập pháp và hành pháp, chưa thực sự đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý. Một số bộ, ngành còn ôm đồm nhiệm vụ của địa phương, dẫn đến tồn tại cơ chế xin, cho, dễ nảy sinh tiêu cực, tham nhũng. Công tác tinh giản biên chế gắn với vị trí việc làm, nâng cao chất lượng và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ công chức, viên chức còn thiếu triệt để. Công tác cải cách hành chính, chuyển đổi số, xây dựng chính quyền điện tử, chính quyền số còn hạn chế. Vẫn tồn tại những thủ tục hành chính rườm rà, lạc hậu, qua nhiều khâu, nhiều cửa, mất nhiều thời gian, công sức của người dân và doanh nghiệp, dễ nảy sinh tham nhũng vặt, cản trở phát triển. Việc kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa hệ thống thông tin của các bộ, ngành, địa phương và cơ sở dữ liệu quốc gia chưa thông suốt; nhiều dịch vụ công trực tuyến chất lượng thấp, tỷ lệ người sử dụng chưa cao; việc tổ chức vận hành bộ phận “một cửa” các cấp ở nhiều nơi chưa hiệu quả. Dựa trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, chúng ta nhận thức rõ rằng, trong mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất thì lực lượng sản xuất đóng vai trò quyết định sự phát triển của quan hệ sản xuất, quan hệ sản xuất phải không ngừng được điều chỉnh để phù hợp với trình độ ngày càng cao của lực lượng sản xuất. Khi quan hệ sản xuất không theo kịp sự phát triển của lực lượng sản xuất, nó sẽ trở thành lực cản, kìm hãm sự phát triển tiến bộ của toàn bộ phương thức sản xuất, từ đó ảnh hưởng đến sự phát triển chung của đất nước.Chúng ta đang đứng trước yêu cầu phải có một cuộc cách mạng với những cải cách mạnh mẽ, toàn diện để điều chỉnh quan hệ sản xuất, tạo động lực mới cho phát triển. 3. Chúng ta đang đứng trước yêu cầu phải có một cuộc cách mạng với những cải cách mạnh mẽ, toàn diện để điều chỉnh quan hệ sản xuất, tạo động lực mới cho phát triển. Đó là cuộc cách mạng chuyển đổi số, ứng dụng khoa học công nghệ nhằm tái cấu trúc quan hệ sản xuất phù hợp với sự tiến bộ vượt bậc của lực lượng sản xuất. Chuyển đổi số không đơn thuần là việc ứng dụng công nghệ số vào các hoạt động kinh tế – xã hội, mà còn là quá trình xác lập một phương thức sản xuất mới tiên tiến, hiện đại – “phương thức sản xuất số”, trong đó đặc trưng của lực lượng sản xuất là sự kết hợp hài hòa giữa con người và trí tuệ nhân tạo; dữ liệu trở thành một tài nguyên, trở thành tư liệu sản xuất quan trọng; đồng thời quan hệ sản xuất cũng có những biến đổi sâu sắc, đặc biệt là trong hình thức sở hữu và phân phối tư liệu sản xuất số. Sự thay đổi trong quan hệ sản xuất sẽ tác động mạnh đến kiến trúc thượng tầng, mở ra phương thức mới trong quản trị xã hội, tạo ra những công cụ mới trong quản lý nhà nước, làm thay đổi căn bản cách thức tương tác giữa nhà nước và công dân, giữa các tầng lớp xã hội. Quá trình chuyển đổi số cần được thực hiện toàn diện, đồng bộ, có tính đến mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, nhằm xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vừa phát huy sức mạnh của lực lượng sản xuất hiện đại, vừa đảm bảo bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa, phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam trong thời đại mới. Muốn vậy, người đứng đầu cấp uỷ Đảng, chính quyền, cơ quan, doanh nghiệp và người dân phải nhận thức đầy đủ, thống nhất, có trách nhiệm và quyết tâm thực hiện quá trình chuyển đổi số; đồng thời cần tập trung thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm, sau đây:Thứ nhất, hoàn thiện thể chế và hệ thống pháp luật, kiên định mục tiêu xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đồng thời không ngừng đổi mới để bắt kịp xu thế phát triển của thời đại. Tập trung xây dựng hành lang pháp lý cho nền kinh tế số, tạo nền tảng để Việt Nam nắm bắt cơ hội từ Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Có cơ chế, chính sách mạnh mẽ thúc đẩy chuyển đổi số trong mọi lĩnh vực kinh tế – xã hội, khuyến khích đổi mới sáng tạo, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Thường xuyên rà soát, sửa đổi kịp thời các quy định không còn phù hợp, tạo hành lang cho các mô hình kinh tế mới như kinh tế chia sẻ, kinh tế tuần hoàn, trí tuệ nhân tạo… đảm bảo khung pháp lý không trở thành rào cản của sự phát triển, đồng thời bảo đảm an ninh quốc gia, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp.Thứ hai, khơi thông và phát huy tối đa mọi nguồn lực xã hội, đẩy nhanh hiện đại hóa. Có cơ chế, chính sách phù hợp huy động nguồn lực to lớn trong Nhân dân, doanh nghiệp và các thành phần kinh tế; nguồn lực từ đất đai, tài sản trong xã hội mà người dân đang tích lũy, biến những tiềm năng này thành động lực, tư liệu sản xuất, để sản xuất ra nhiều của cải vật chất cho xã hội. Tạo môi trường đầu tư thông thoáng, minh bạch, thu hút mạnh mẽ nguồn vốn trong và ngoài nước cho phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Phát huy tối đa nguồn lực con người – nhân tố quyết định của sự nghiệp đổi mới. Có cơ chế đột phá thu hút nhân tài trong và ngoài nước; xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực có kiến thức, kỹ năng và tư duy đổi mới, sáng tạo, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế số và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.Thứ ba, cải cách, xây dựng bộ máy nhà nước tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Cắt giảm đầu mối trung gian không cần thiết, sắp xếp tổ chức theo hướng đa ngành, đa lĩnh vực. Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với tăng cường kiểm tra, giám sát, xác định rõ trách nhiệm giữa Trung ương và địa phương, giữa các cấp chính quyền địa phương, giữa người quản lý và người lao động. Hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát, bảo đảm sự thống nhất trong quản lý nhà nước và phát huy tính chủ động, sáng tạo của các địa phương. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng nền tảng số kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan, tổ chức. Mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam sẽ đứng trong nhóm 50 quốc gia hàng đầu thế giới và xếp thứ 3 trong ASEAN về chính phủ điện tử, kinh tế số. Trong quá trình cải cách, bám sát nguyên tắc Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ. Việc tinh gọn bộ máy phải nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế – xã hội.Thứ tư, đẩy mạnh chuyển đổi số gắn với bảo đảm an ninh, an toàn là tất yếu khách quan để Việt Nam bứt phá trong kỷ nguyên mới. Tập trung xây dựng xã hội số, số hóa toàn diện hoạt động quản lý nhà nước, cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ cao. Kết nối đồng bộ các cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, đất đai, doanh nghiệp, tạo nền tảng tinh gọn bộ máy, cải cách thủ tục hành chính thực chất. Phát triển kinh tế số tạo động lực mới cho tăng trưởng; thúc đẩy ứng dụng công nghệ số trong mọi ngành, lĩnh vực, tạo ra các mô hình kinh doanh mới. Phát triển công dân số, trang bị kiến thức, kỹ năng cần thiết để người dân tham gia hiệu quả vào nền kinh tế số và xã hội số, bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau.Hình ảnh lá cờ Tổ quốc tung bay ở Trường Sa. Ảnh: QĐNDĐất nước ta đang đứng trước vận hội mới, vừa là thời cơ đồng thời cũng là thách thức trên con đường phát triển. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, với sự đồng lòng, chung sức của toàn Đảng, toàn dân và cả hệ thống chính trị, chúng ta nhất định sẽ thực hiện thành công cuộc cách mạng chuyển đổi số, tạo ra bước đột phá trong phát triển lực lượng sản xuất và hoàn thiện quan hệ sản xuất, đưa đất nước ta, dân tộc ta vươn mình vượt bậc trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của tiên tiến, văn minh, hiện đại.TÔ LÂM (Tổng Bí thư – Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam)Nguồn: Vietnamnet.vn

Du lịch Huế “hút” khách dịp lễ 2/9
  •   05/09/2024 10:57

So với kỳ nghỉ lễ Quốc khánh năm ngoái, dịp lễ năm nay, lượng khách đến Huế tăng mạnh. Thống kê từ Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế, trong 4 ngày từ 30/8 - 2/9, đã có gần 98.900 lượt khách đến tham quan các di tích; riêng di tích Hải Vân Quan là hơn 14.600 lượt khách. Doanh thu du lịch là 4,75 tỷ đồng (trong đó ngày 2/9 miễn vé di tích cho 66.000 lượt khách).Cùng với các điểm di tích, rất nhiều điểm du lịch trên địa bàn tỉnh đã thu hút được đông đảo du khách, thậm chí “cháy” phòng lưu trú do lượng khách đến Huế tăng cao. Ông Phạm Hữu Chung, Trưởng phòng Văn hóa và Thông tin huyện Phú Lộc cho biết, hoạt động đón khách tại các cơ sở lưu trú, khách sạn, homestay trên địa bàn huyện với công suất sử dụng 100% số lượng phòng, khách lưu trú tương đối đông, nhiều cơ sở không đủ số lượng phòng để phục vụ. Ước tính lượt khách đến tham quan, nghỉ dưỡng trên địa bàn huyện trong dịp này là hơn 41.600 lượt khách, tăng 9,97% so với cùng kỳ năm 2023 (37.852 lượt khách); trong đó khách quốc tế ước đạt hơn 6.850 lượt, tăng 11,42% so với cùng kỳ năm 2023; khách nội địa ước đạt hơn 34.770 lượt khách, tăng 9,69% so với cùng kỳ năm 2023. Khách lưu trú ước đạt hơn 13.700 lượt khách, tăng 6,92% so với cùng kỳ.Ông Nguyễn Văn Phúc, Giám đốc Sở Du lịch cho biết, sức hút của du lịch Huế năm nay rất đáng mừng. Theo báo cáo nhanh tình hình hoạt động du lịch trong dịp lễ Quốc khánh 2/9/2024, tổng lượng du khách đến Thừa Thiên Huế ước đạt 130.000 lượt (tăng 32,7% so với cùng kỳ năm 2023), doanh thu từ dịch vụ du lịch ước đạt 132 tỷ đồng (tăng 69,2% so với cùng kỳ năm 2023). Khách lưu trú ước đạt 65.000 lượt (tăng 77,7% so với dịp lễ 2/9/2023), trong đó có khoảng 16.000 lượt khách quốc tế (tăng 49,7% so với cùng kỳ năm 2023). Công suất bình quân phòng các khách sạn đạt khoảng 64%. Riêng các ngày 31/8, ngày 1 và 2/9, công suất phòng của nhiều cơ sở lưu trú đạt trên 80%. Hầu hết các khách sạn ở trung tâm TP. Huế, khách sạn nghỉ dưỡng ven biển, đầm phá và suối thác, các homestay trên địa bàn TP. Huế, huyện Phú Lộc và huyện A Lưới gần như đã đầy khách đặt phòng trong 3 ngày này. Theo lãnh đạo Sở Du lịch, các điểm du lịch nghỉ dưỡng suối thác thu hút lượng khá lớn du khách. Điển hình như khu Bạch Mã Village (Phú Lộc) đón khoảng 1.500 khách/ngày, khu YesHue Eco Thác Mơ (Nam Đông) đón 500 khách/ngày… Xu hướng của du khách trong dịp lễ này là đi theo nhóm gia đình bằng phương tiện ô tô cá nhân và tàu hỏa từ các địa phương như: Hà Nội, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Đà Nẵng, Quảng Nam và một số tỉnh phía nam có nhu cầu nghỉ ngơi, trải nghiệm khám phá văn hóa, ẩm thực và thiên nhiên địa phương.Trò chuyện với nhiều du khách đến Huế dịp lễ, hầu hết đều bày tỏ sự thích thú, ấn tượng với nét văn hóa, cảnh quan, con người xứ Huế. Chị Bạch Thị Vân Anh, du khách đến từ Bình Thuận chia sẻ: “Mình nghe về Huế qua thơ, ca, nhạc, họa nhiều và khi đến Huế lần này, quả thực thấy Huế rất thơ mộng và dễ thương từ cảnh đẹp đến con người, ẩm thực Huế ngon mà rẻ”. Theo hai bạn trẻ có chuyến “xê dịch” đến Huế 4 ngày 3 đêm - Nguyễn Thiện Quý và Trần Ngọc Thiên Ân, Huế có đa dạng các loại hình du lịch, nhiều điểm đến cùng nhiều món ngon ẩm thực mà phải cần thời gian rất dài, mới có thể khám phá hết. “Tụi em di chuyển bằng xe máy, tham quan từ Đại Nội Huế, các di tích sau đó đến làng hương Thủy Xuân, các làng nghề truyền thống và nét văn hóa độc đáo các dân tộc thiểu số ở A Lưới. Thực sự ngỡ ngàng vì du lịch Huế lại có quá nhiều điều độc đáo và thú vị đến thế. Chắc chắn, có thời gian, chúng em cũng sẽ quay trở lại Huế”. Đánh giá từ ngành du lịch và các địa phương, nhìn chung, các hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh trong dịp lễ 2/9 năm nay cơ bản được tổ chức an toàn, đảm bảo an ninh trật tự; chất lượng du lịch, dịch vụ du lịch nâng cao, đáp ứng nhu cầu số lượng lớn khách du lịch đến với Thừa Thiên Huế. Do lượng khách du lịch tập trung đông tại một số điểm tham quan du lịch trên địa bàn tỉnh, nhất là trong ngày 2/9, nên có xảy ra áp lực về giao thông trong một số thời điểm tại một số tuyến đường trung tâm thành phố, hoặc cung ứng các dịch vụ.Tuy vẫn còn một vài phản ánh của du khách về vấn đề giá dịch vụ khi đi du lịch, nhưng nhờ sự vào cuộc nhanh chóng từ ngành du lịch và các cơ quan chức năng cùng chính quyền địa phương nên đã tạo được sự yên tâm cho du khách. Qua công tác đón tiếp, phục vụ khách và những góp ý từ du khách trong dịp lễ lần này, ngành du lịch sẽ tiếp tục xây dựng giải pháp khắc phục những điểm còn tồn tại, nâng cao chất lượng, hoàn thiện sản phẩm, dịch vụ du lịch, đồng thời nâng cao chất lượng đội ngũ làm du lịch để ngày càng thu hút nhiều du khách đến Huế và quay trở lại Huế.Thu hút du kháchSo với kỳ nghỉ lễ Quốc khánh năm ngoái, dịp lễ năm nay, lượng khách đến Huế tăng mạnh. Thống kê từ Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế, trong 4 ngày từ 30/8 - 2/9, đã có gần 98.900 lượt khách đến tham quan các di tích; riêng di tích Hải Vân Quan là hơn 14.600 lượt khách. Doanh thu du lịch là 4,75 tỷ đồng (trong đó ngày 2/9 miễn vé di tích cho 66.000 lượt khách). Cùng với các điểm di tích, rất nhiều điểm du lịch trên địa bàn tỉnh đã thu hút được đông đảo du khách, thậm chí “cháy” phòng lưu trú do lượng khách đến Huế tăng cao. Ông Phạm Hữu Chung, Trưởng phòng Văn hóa và Thông tin huyện Phú Lộc cho biết, hoạt động đón khách tại các cơ sở lưu trú, khách sạn, homestay trên địa bàn huyện với công suất sử dụng 100% số lượng phòng, khách lưu trú tương đối đông, nhiều cơ sở không đủ số lượng phòng để phục vụ. Ước tính lượt khách đến tham quan, nghỉ dưỡng trên địa bàn huyện trong dịp này là hơn 41.600 lượt khách, tăng 9,97% so với cùng kỳ năm 2023 (37.852 lượt khách); trong đó khách quốc tế ước đạt hơn 6.850 lượt, tăng 11,42% so với cùng kỳ năm 2023; khách nội địa ước đạt hơn 34.770 lượt khách, tăng 9,69% so với cùng kỳ năm 2023. Khách lưu trú ước đạt hơn 13.700 lượt khách, tăng 6,92% so với cùng kỳ.Ông Nguyễn Văn Phúc, Giám đốc Sở Du lịch cho biết, sức hút của du lịch Huế năm nay rất đáng mừng. Theo báo cáo nhanh tình hình hoạt động du lịch trong dịp lễ Quốc khánh 2/9/2024, tổng lượng du khách đến Thừa Thiên Huế ước đạt 130.000 lượt (tăng 32,7% so với cùng kỳ năm 2023), doanh thu từ dịch vụ du lịch ước đạt 132 tỷ đồng (tăng 69,2% so với cùng kỳ năm 2023). Khách lưu trú ước đạt 65.000 lượt (tăng 77,7% so với dịp lễ 2/9/2023), trong đó có khoảng 16.000 lượt khách quốc tế (tăng 49,7% so với cùng kỳ năm 2023). Công suất bình quân phòng các khách sạn đạt khoảng 64%. Riêng các ngày 31/8, ngày 1 và 2/9, công suất phòng của nhiều cơ sở lưu trú đạt trên 80%. Hầu hết các khách sạn ở trung tâm TP. Huế, khách sạn nghỉ dưỡng ven biển, đầm phá và suối thác, các homestay trên địa bàn TP. Huế, huyện Phú Lộc và huyện A Lưới gần như đã đầy khách đặt phòng trong 3 ngày này.  Theo lãnh đạo Sở Du lịch, các điểm du lịch nghỉ dưỡng suối thác thu hút lượng khá lớn du khách. Điển hình như khu Bạch Mã Village (Phú Lộc) đón khoảng 1.500 khách/ngày, khu YesHue Eco Thác Mơ (Nam Đông) đón 500 khách/ngày… Xu hướng của du khách trong dịp lễ này là đi theo nhóm gia đình bằng phương tiện ô tô cá nhân và tàu hỏa từ các địa phương như: Hà Nội, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Đà Nẵng, Quảng Nam và một số tỉnh phía nam có nhu cầu nghỉ ngơi, trải nghiệm khám phá văn hóa, ẩm thực và thiên nhiên địa phương. Trò chuyện với nhiều du khách đến Huế dịp lễ, hầu hết đều bày tỏ sự thích thú, ấn tượng với nét văn hóa, cảnh quan, con người xứ Huế. Chị Bạch Thị Vân Anh, du khách đến từ Bình Thuận chia sẻ: “Mình nghe về Huế qua thơ, ca, nhạc, họa nhiều và khi đến Huế lần này, quả thực thấy Huế rất thơ mộng và dễ thương từ cảnh đẹp đến con người, ẩm thực Huế ngon mà rẻ”. Theo hai bạn trẻ có chuyến “xê dịch” đến Huế 4 ngày 3 đêm - Nguyễn Thiện Quý và Trần Ngọc Thiên Ân, Huế có đa dạng các loại hình du lịch, nhiều điểm đến cùng nhiều món ngon ẩm thực mà phải cần thời gian rất dài, mới có thể khám phá hết. “Tụi em di chuyển bằng xe máy, tham quan từ Đại Nội Huế, các di tích sau đó đến làng hương Thủy Xuân, các làng nghề truyền thống và nét văn hóa độc đáo các dân tộc thiểu số ở A Lưới. Thực sự ngỡ ngàng vì du lịch Huế lại có quá nhiều điều độc đáo và thú vị đến thế. Chắc chắn, có thời gian, chúng em cũng sẽ quay trở lại Huế”. Đánh giá từ ngành du lịch và các địa phương, nhìn chung, các hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh trong dịp lễ 2/9 năm nay cơ bản được tổ chức an toàn, đảm bảo an ninh trật tự; chất lượng du lịch, dịch vụ du lịch nâng cao, đáp ứng nhu cầu số lượng lớn khách du lịch đến với Thừa Thiên Huế. Do lượng khách du lịch tập trung đông tại một số điểm tham quan du lịch trên địa bàn tỉnh, nhất là trong ngày 2/9, nên có xảy ra áp lực về giao thông trong một số thời điểm tại một số tuyến đường trung tâm thành phố, hoặc cung ứng các dịch vụ. Tuy vẫn còn một vài phản ánh của du khách về vấn đề giá dịch vụ khi đi du lịch, nhưng nhờ sự vào cuộc nhanh chóng từ ngành du lịch và các cơ quan chức năng cùng chính quyền địa phương nên đã tạo được sự yên tâm cho du khách. Qua công tác đón tiếp, phục vụ khách và những góp ý từ du khách trong dịp lễ lần này, ngành du lịch sẽ tiếp tục xây dựng giải pháp khắc phục những điểm còn tồn tại, nâng cao chất lượng, hoàn thiện sản phẩm, dịch vụ du lịch, đồng thời nâng cao chất lượng đội ngũ làm du lịch để ngày càng thu hút nhiều du khách đến Huế và quay trở lại Huế.Nguồn: baothuathienhue.vn

Tình hình Kinh tế - Xã hội tháng 8 và 8 tháng đầu năm 2024 trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế
  •   04/09/2024 15:56

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản 1.1. Nông nghiệp Vụ Hè thu năm 2024, diện tích gieo trồng cây lúa ước đạt 25.347 ha, tăng 0,5% so với cùng kỳ năm trước. Cây lúa sinh trưởng tốt, sâu bệnh chỉ xuất hiện rải rác ở mật độ thấp. Đến cuối tháng 8, giai đoạn hạt chín và người dân đang tiến hành thu hoạch đại trà, dự kiến năng suất vụ hè thu năm nay đạt 61,4 tạ/ha, tăng 2,1 tạ/ha so với vụ hè thu năm 2023. Cây hàng năm khác: diện tích nhiều loại cây có xu hướng giảm, nguyên nhân chủ yếu do diện tích manh mún nhỏ lẻ, tình hình thời tiết và sâu bệnh diễn biến ngày càng phức tạp, dẫn đến năng suất thấp, hiệu quả kinh tế không cao. Ngoài ra do chuyển mục đích sử dụng sang đất ở, quá trình đô thị hóa đã góp phần làm cho diện tích trồng cây hàng năm khác ngày càng giảm. Diện tích gieo trồng một số cây hằng năm chủ yếu tính đến cuối tháng 8 năm 2024 như sau: Ngô ước đạt 1.373 ha, giảm 0,9%; Khoai lang ước đạt 589 ha, giảm 4,7%; Lạc ước đạt 2.243 ha, giảm 4,7%; Rau các loại ước đạt 4.144 ha, tăng 1,0%; Đậu các loại ước đạt 875 ha, giảm 3,8% so với cùng kỳ. Chăn nuôi Thời tiết khí hậu trong tháng thuận lợi, dịch bệnh trên đàn gia súc kiểm soát, công tác kiểm dịch, kiểm soát giết mổ, kiểm tra vệ sinh thú y được tăng cường nhằm đảm bảo cung cấp thực phẩm an toàn cho người tiêu dùng. Thời điểm 31/8/2024 tổng đàn trâu toàn tỉnh ước đạt 15.258 con, giảm 0,4%; đàn bò 29.036 con, tăng 2,6%; đàn lợn thời điểm 31/8/2024 ước đạt 155.288 con, tăng 0,9% so với cùng kỳ. Công tác vệ sinh môi trường chăn nuôi tiếp tục cải thiện, việc tổ chức triển khai phòng dịch được chú trọng, đồng thời ý thức phòng bệnh cho đàn gia cầm của các cơ sở chăn nuôi ngày càng được nâng cao. Tổng đàn gia cầm thời điểm 31/8/2024 ước đạt 4.912 nghìn con tăng 1,9% so với cùng kỳ. Trong đó: Đàn gà có 3.602 nghìn con, tăng 1,7% so với cùng kỳ năm 2023. Trên địa bàn tỉnh tiếp tục triển khai công tác tiêm phòng các loại vắc xin cho gia súc, gia cầm. Toàn tỉnh đã tiêm phòng được 1.480 liều THT trâu bò (15%, tăng 10% so với tuần trước), 9.619 liều tam liên (22%, tăng 9%), 730 liều E.coli (8%, tăng 7%), 97.800 liều CGC (25%, tăng 12%), 92.600 liều DTV (23%, tăng 13%), 17.020 liều vắc xin Newcastle (6%), 1.710 liều THT gia cầm (11%, tăng 6), 4.450 liều Đậu gà (8%, tăng 2%), 7.820 liều Gumboro (5%, tăng 4%); LMLM lợn trang trại: 1.335 liều, 8.561 liều VDNC. 1.2. Lâm nghiệp Sản lượng gỗ khai thác trong tháng 8/2024 ước đạt 55.080 m3 gỗ, tăng 1,6% so với cùng, toàn bộ gỗ được khai thác từ rừng trồng. Sản lượng củi khai thác tháng 8/2024 ước đạt 8.310 ste, giảm 3,8%. Luỹ kế sản lượng gỗ khai thác 8 tháng năm 2024 ước đạt 513.420 m3 gỗ, tăng 11,7% so với cùng kỳ. Sản lượng củi khai thác 8 tháng năm 2024 đạt 68.085 ste, giảm 1,7%. Trong tháng 8 xảy ra 1 vụ phá rừng để làm nương rẫy, với diện tích 0,05 ha. Tính chung 8 tháng năm 2024, số vụ phá rừng 18 vụ, tăng 8 vụ so với cùng kỳ; diện tích rừng bị phá 1,9 ha, giảm 4,3 ha so với cùng kỳ năm trước. 1.3. Thủy sản Tình hình nuôi trồng thủy sản: diện tích nuôi trồng thủy sản tháng 8/2024 ước đạt 1.073 ha, tăng 1,3% so với cùng kỳ. Bao gồm, diện tích nuôi nước ngọt 273 ha, giảm 0,7% so với cùng kỳ; diện tích nuôi nước lợ 800 ha, tăng 2,0%, trong đó: nuôi cá 274 ha, tăng 2,2%; nuôi tôm 283 ha, tăng 2,5%; nuôi các loại thủy sản khác 243 ha, tăng 1,3%. Lũy kế tổng diện tích nuôi trồng thủy sản 8 tháng đầu năm 2024 ước đạt 5.609 ha, tăng 1,3% so với cùng kỳ. Bao gồm, diện tích nuôi nước ngọt 1.475 ha, giảm 0,7%; diện tích nuôi nước lợ 4.134 ha, tăng 2,1%, trong đó: nuôi cá 1.449 ha, tăng 1,8%; nuôi tôm 1.788 ha, tăng 2,7%; nuôi các loại thủy sản khác 890 ha, tăng 1,3%, ươm nuôi; nuôi giống thủy sản 7 ha, bằng so với cùng kỳ. Về sản xuất giống thủy sản, trong tháng 8/2024 sản xuất giống trên địa bàn tỉnh ước đạt 11,1 triệu con, tăng 2,8% so với cùng kỳ, trong đó: tôm sú giống 3,6 triệu con, tăng 2,9%; cá giống 7,5 triệu con, tăng 2,7% so với cùng kỳ, chủ yếu cung cấp giống cho các cơ sở nuôi trên địa bàn tỉnh. Lũy kế số giống sản xuất được 8 tháng đầu năm 2024 ước đạt 173,7 triệu con, tăng 1,6% so với cùng kỳ, trong đó: tôm sú giống 100 triệu con, tăng 1,5%; cá giống các loại 71,7 triệu con, tăng 1,8%; cua, ếch giống 2 triệu con, bằng so với cùng kỳ. Sản lượng thủy sản nuôi trồng thu hoạch tháng 8/2024 ước đạt 2.635 tấn, tăng 4,4% so với cùng kỳ, trong đó sản lượng cá các loại 1.473 tấn, tăng 4,5%; tôm các loại 905 tấn, tăng 5%; thủy sản khác 257 tấn, tăng 2,4%. Tính chung sản lượng thủy sản nuôi trồng 8 tháng đầu năm 2024 ước đạt 14.620 tấn, tăng 4,9% so với cùng kỳ, trong đó sản lượng cá các loại 8.050 tấn, tăng 5,2%; tôm các loại 5.615 tấn, tăng 4,8%; thủy sản khác 955 tấn, tăng 2,9%.  Tình hình khai thác thủy sản: sản lượng thủy sản khai thác tháng 8/2024 ước đạt 4.073 tấn, tăng 2,6% so với cùng kỳ, trong đó khai thác biển 3.725 tấn, tăng 2,9%; khai thác nội địa 348 tấn, giảm 0,6%. Lũy kế sản lượng thủy sản khai thác 8 tháng đầu năm 2024 ước đạt 32.584 tấn, tăng 2,3% so với cùng kỳ, trong đó khai thác biển 30.085 tấn, tăng 2,6%; khai thác nội địa 2.499 tấn, giảm 0,6%. Tính chung sản lượng thủy sản nuôi trồng và khai thác 8 tháng đầu năm 2024 ước đạt 47.204 tấn, tăng 3,1% so với cùng kỳ. 2. Sản xuất công nghiệp Tính chung chỉ số IIP 8 tháng đầu năm tăng 3,98% so với cùng kỳ 2023, trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,29%; cấp nước và thu gom rác thải tăng 10,38%; công nghiệp khai khoáng giảm 0,01%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt giảm 7,76%.  Các ngành công nghiệp cấp 4 trong 8 tháng đầu năm 2024 có chỉ số sản xuất ước tăng so với cùng kỳ như: sản xuất các loại bánh từ bột (+36,9%); sản xuất bia và mạch nha ủ men bia (+3,3%); sản xuất sợi (+1,5%); may trang phục (6,9%); cưa, xẻ, bào gỗ và bảo quản gỗ (+25,4%); sản xuất xe có động cơ có chỉ số tăng 13,5 lần so với cùng kỳ,...  Bên cạnh, tăng trưởng các ngành sản xuất chủ lực, một số ngành sản xuất công nghiệp vẫn đang gặp nhiều khó khăn. Hiện tượng El Nino xuất hiện vào nửa cuối mùa hè năm 2023 vẫn duy trì đến nay, làm cho các nhà máy thủy điện trên địa bàn tỉnh thiếu nước để hoạt động nên ngành sản xuất điện có chỉ số giảm mạnh (-7,8%). Chính sách thắt chặt tiền tệ ở nhiều quốc gia làm suy giảm nhu cầu tiêu dùng, dẫn đến nhiều đơn hàng sản xuất của doanh nghiệp bị cắt giảm như: chế biến, bảo quản thuỷ sản và các sản phẩm từ thuỷ sản (-8,0%); sản xuất vật liệu xây dựng từ đất sét (-5,6%); sản xuất xi măng, vôi, thạch cao (-8,2%); sản xuất giường tủ, bàn ghế (-23,3%)… Các sản phẩm công nghiệp 8 tháng đầu năm 2024 ước tăng so với cùng kỳ như sau: đá xây dựng khác 667,3 nghìn m3 (+13,0%); bánh làm từ bột khác bảo quản được 2.180 tấn (+36,9%); bia 231,2 triệu lít (+2,1%); sợi 79,1 nghìn tấn (+1,5%); quần áo lót 254,8 triệu cái (+6,9%); vỏ bào, dăm gỗ 535 nghìn tấn (+25,4%); ô tô 487 chiếc (+9,1 lần)...  Các sản phẩm công nghiệp ước giảm so với cùng kỳ: đá vôi và các loại đá có chứa canxi khác, dùng để sản xuất vôi hoặc xi măng 1.081 nghìn m3 (-5,9%), tôm đông lạnh 3.430 tấn (-8,0%); sản phẩm in 475 triệu trang (-8,2%), gạch men 8,9 triệu m2 (-5,6%); xi măng 1.052 nghìn tấn (-9,7%); clanhke xi măng 1.077 nghìn tấn (-17,5%); điện sản xuất 893,5 triệu KW (-13,3%)... 3. Vốn đầu tư Tổng vốn đầu tư thực hiện theo giá hiện hành trên địa bàn 8 tháng đầu năm 2024 ước đạt 20.416,6 tỷ đồng, bằng 59,9% KH năm, tăng 9,5% so với cùng kỳ năm trước. Bao gồm, vốn do Trung ương quản lý 2.820 tỷ đồng, bằng 37,7% KH, tăng 13,1% so cùng kỳ, chiếm 13,8% tổng vốn; vốn do Địa phương quản lý 17.596,6 tỷ đồng, bằng 66,1% KH, tăng 9% so với cùng kì, chiếm 86,2% tổng nguồn vốn. Trong đó, vốn thuộc ngân sách Nhà nước ước đạt 4.346,68 tỷ đồng, bằng 44,7% KH, tăng 0,8% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 21,3% tổng vốn. Nguồn vốn tín dụng 5.105,7 tỷ đồng, bằng 48,4% KH, tăng 5,3%, chiếm 25,0%; vốn đầu tư của doanh nghiệp 2.129,3 tỷ đồng, bằng 60% KH, tăng 15,3%, chiếm 10,4%; vốn đầu tư của dân 5.105,6 tỷ đồng, bằng 95,2% KH, tăng 15,5%, chiếm 27,0%; vốn viện trợ 555 tỷ đồng, bằng 56,9% KH, tăng 9,9%, chiếm 2,7%; vốn đầu tư nước ngoài 2.760 tỷ đồng, bằng 78,9% KH, tăng 17,6%, chiếm 13,5%. Trong tháng 8 năm 2024, trên địa bàn tỉnh, có 1 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký mới với tổng số vốn đăng ký 1,1 triệu USD. Lũy kế từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh có 9 dự án FDI đăng ký mới với tổng số vốn đăng ký 34,3 triệu USD. 4. Thương mại, dịch vụ và giá cả 4.1. Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 8/2024 ước đạt 5.073,5 tỷ đồng, tăng 2,8% so với tháng trước và tăng 12,3% so với cùng kỳ. Chia theo ngành kinh tế: Bán lẻ hàng hóa ước đạt 3.453,5 tỷ đồng, chiếm 68,1% trong tổng số, tăng 0,6% so với tháng trước và tăng 11,9% so với cùng kỳ. Doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống tháng 8 ước đạt 1.112,6 tỷ đồng, chiếm 21,9%, tăng 4,1% so với tháng trước và tăng 31,0% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ lữ hành đạt 37,9 tỷ đồng, chiếm 0,7%, tăng 7,5% so với tháng trước và tăng 9,4% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ khác đạt 469,5 tỷ đồng, chiếm 9,3%, tăng 18,4% so tháng trước và tăng 36,1% so với cùng kỳ. Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 8 tháng đầu năm 2024 đạt 37.352,6 tỷ đồng, tăng 15,7% so với cùng kỳ, trong đó doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 26.717,6 tỷ đồng, chiếm 71,5% tổng số và tăng 12,1%; dịch vụ lưu trú và ăn uống đạt 7.426,7 tỷ đồng, chiếm 19,9% và tăng 18,2%; dịch vụ lữ hành đạt 223,3 tỷ đồng, chiếm 0,6% và tăng 27,8%; dịch vụ khác đạt 2.985,1 tỷ đồng, chiếm 8,0% và tăng 23,7%. 4.2. Vận tải hành khách và hàng hóa      Dự ước hành khách vận chuyển tháng 8 năm 2024 đạt 3,1 triệu hành khách, giảm 0,4% so với tháng trước và tăng 15,3% so với cùng kỳ; hành khách luân chuyển đạt 151,0 triệu hành khách.km, giảm 0,5% so với tháng trước và tăng 11,9% so với cùng kỳ. Tính chung 8 tháng đầu năm 2024, vận tải hành khách ước đạt 24,0 triệu hành khách, tăng 16,9% so với cùng kỳ và luân chuyển ước đạt 1.183,3 triệu hành khách.km, tăng 12,1% so với cùng kỳ. Dự ước hàng hóa vận chuyển tháng 8 năm 2024 ước đạt 2,0 triệu tấn, tăng 1,5% so với tháng trước và tăng 14,5% so với cùng kỳ; hàng hóa luân chuyển đạt 162,3 triệu tấn.km, tăng 1,5% và tăng 12,8%. Tính chung 8 tháng đầu năm 2024, vận tải hàng hóa ước đạt 15,0 triệu tấn, tăng 14,6% so với cùng kỳ và luân chuyển ước đạt 1.240,4 triệu tấn.km, tăng 11,4%. Dự ước doanh thu vận tải, kho bãi và bưu chính chuyển phát tháng 8/2024 đạt 454,8 tỷ đồng, tăng 0,8% so với tháng trước và tăng 14,4% so với cùng kỳ. Đưa doanh thu vận tải, bốc xếp 8 tháng đầu năm 2024 ước đạt 3.498,3 tỷ đồng, tăng 15,6% so với cùng kỳ. Chia theo loại hình dịch vụ: doanh thu vận tải hành khách ước đạt 735,3 tỷ đồng, tăng 15,4%; vận tải hàng hóa ước đạt 2.480,9 tỷ đồng, tăng 14,2%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 261,8 tỷ đồng, tăng 31,6%; bưu chính chuyển phát ước đạt 20,4 tỷ đồng, tăng 4,3% so với cùng kỳ. Phân theo ngành, doanh thu vận tải bao gồm: doanh thu vận tải bao gồm: đường bộ đạt 3.213,1 tỷ đồng, tăng 14,5%; đường sông đạt 3,1 tỷ đồng, tăng 17,8%. 4.3. Lượt khách các cơ sở lưu trú phục vụ và du lịch lữ hành Dự ước lượt khách do cơ sở lưu trú phục vụ tháng 8/2024 đạt 212,2 nghìn lượt khách, tăng 4,2% so với tháng trước và tăng 24,1% so với cùng kỳ. Trong đó, lượt khách ngủ qua đêm tháng 8/2024 ước đạt 172,5 nghìn lượt khách, tăng 5,2% so với tháng trước và tăng 25,6% so với cùng kỳ; lượt khách trong ngày đạt 39,7 nghìn lượt khách, tăng 0,3% so với tháng trước và tăng 17,8% so với cùng kỳ. Đưa lượt khách do các cơ sở lưu trú phục vụ 8 tháng đầu năm 2024 đạt 1.397 nghìn lượt, tăng 21,0% so với cùng kỳ. Trong đó, lượt khách ngủ qua đêm 8 tháng đầu năm đạt 1.120,6 nghìn lượt, tăng 25,6% so với cùng kỳ. Trong lượt khách ngủ qua đêm, khách quốc tế 440,3 nghìn lượt, tăng 25,7%; khách trong nước 680,4 nghìn lượt, tăng 20,3% so với cùng kỳ. Lượt khách trong ngày 8 tháng đầu năm 2024 đạt 276,4 nghìn lượt, tăng 15,9% so với cùng kỳ. Ngày khách dự ước cả tháng 8/2024 đạt 289,8 nghìn ngày, tăng 4,1% so với tháng trước và tăng 22,7% so với cùng kỳ. Trong đó: Ngày khách quốc tế đạt 86,5 nghìn ngày, tăng 6,7% so với tháng trước và tăng 6,7% so với cùng kỳ; ngày khách trong nước đạt 203,3 nghìn ngày, tăng 3,0% so với tháng trước và tăng 31,1% so với cùng kỳ. Đưa ngày khách dự ước 8 tháng đầu năm đạt 1.904,1 nghìn ngày, tăng 20,5% so với cùng kỳ. Trong đó: Ngày khách quốc tế đạt 781,4 nghìn ngày, tăng 26,3%; ngày khách trong nước đạt 1.122,7 nghìn ngày, tăng 14,4% so với cùng kỳ. Lượt khách phục vụ của các cơ sở lữ hành thực hiện tháng 8/2024 ước đạt 26,5 nghìn lượt, tăng 5,2% với tháng trước và tăng 13,9% so với cùng kỳ; đưa lượt khách tám tháng đầu năm ước đạt 143,9 nghìn lượt, tăng 25,0% so với cùng kỳ. Ngày khách theo tour ước thực hiện tháng 8/2024 là 48,6 nghìn ngày, tăng 3,3% so với tháng trước và tăng 16,2% so với cùng kỳ. Đưa ngày khách theo tour 8 tháng đầu năm ước đạt 284,5 nghìn ngày khách, tăng 18,8% so với cùng kỳ. 4.4. Giá cả  - Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) Chỉ số giá tiêu dùng chung toàn tỉnh tháng 8/2024 giảm 0,16% so với tháng trước. Nguyên nhân giảm chủ yếu là do tập đoàn Petrolimex điều chỉnh tăng giá xăng dầu trong tháng 8, làm cho giá nhiên liệu giảm. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính, có 3 nhóm hàng hóa có chỉ số giảm so với tháng trước: hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,11%; đồ uống và thuốc lá giảm 0,01%; giao thông giảm 2,20%. 05 nhóm có chỉ số giá tăng: may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,16%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,48%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,07%; giáo dục tăng 0,01%; hàng hoá và dịch vụ khác tăng 0,03%. Các nhóm thuốc và dịch vụ y tế; bưu chính viễn thông; văn hoá, giải trí và du lịch bình ổn so với tháng trước. Chỉ số giá tiêu dùng chung toàn tỉnh tháng 8/2024 tăng 1,80% so với tháng 12 năm trước và tăng 3,19% so với cùng kỳ. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 8 tháng đầu năm 2024 tăng 4,11% so với bình quân cùng kỳ, nguyên nhân là do một số nhóm hàng hóa và dịch vụ tăng khá như: hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 5,15%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 8,27%; giao thông tăng 6,22%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 5,35%. - Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ Chỉ số giá vàng tháng 8/2024 tăng 1,50% so với tháng trước, tăng 25,28% so với tháng 12 năm trước và tăng 35,98% so với cùng kỳ. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 8/2024 giảm 0,74% so với tháng trước, tăng 3,46% so với tháng 12 năm trước và tăng 5,69% so với cùng kỳ. 5. Tài chính, ngân hàng 5.1. Tài chính Tổng thu ngân sách trên địa bàn 8 tháng năm 2024 ước đạt 7.753,4 tỷ đồng, bằng 65,8% dự toán năm. Trong đó: Thu nội địa ước đạt 7.009,5 tỷ đồng, bằng 62,8% dự toán; thu thuế từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 734,4 tỷ đồng, bằng 118,5% dự toán. Trong thu nội địa: Thu doanh nghiệp Nhà nước ước đạt 277 tỷ đồng, bằng 60,2% dự toán; thu doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 2.800 tỷ đồng, bằng 73,0% dự toán; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 1.200 tỷ đồng, bằng 74,6% dự toán; thuế thu nhập cá nhân 453 tỷ đồng, bằng 90,6% dự toán; thuế bảo vệ môi trường 260 tỷ đồng, bằng 70,3% dự toán. Tổng chi ngân sách địa phương 8 tháng ước đạt 8.652,8 tỷ đồng, bằng 54,1% dự toán, trong đó chi đầu tư phát triển 2.904,3 tỷ đồng, bằng 49,1% dự toán; chi thường xuyên 5.468 tỷ đồng, bằng 63,2% dự toán; bao gồm: chi sự nghiệp kinh tế 500,4 tỷ đồng, bằng 46,7% dự toán; chi sự nghiệp giáo dục đào tạo 2.451,6 tỷ đồng, bằng 63,4% dự toán; chi sự nghiệp y tế 399,1 tỷ đồng, bằng 62,1% dự toán; chi quản lý Nhà nước 1.162,8 tỷ đồng, bằng 72,2% dự toán. 5.2. Ngân hàng Tổng nguồn vốn huy động đến cuối tháng 8 năm 2024 ước đạt 73,5 nghìn tỷ đồng, tăng 5,6% so với so với đầu năm; tổng dư nợ tín dụng ước đạt 79,6 nghìn tỷ đồng, tăng 2,4% so với đầu năm. NHNN tỉnh tiếp tục giám sát chặt chẽ việc tuân thủ các quy định của NHNN VN về lãi suất, trong đó đã chỉ đạo các TCTD trên địa bàn thực hiện tiết giảm chi phí để giảm lãi suất cho vay, hỗ trợ nền kinh tế địa phương. Lãi suất huy động bằng VND tại các TCTD trên địa bàn: đang áp dụng ở mức tối đa 0,5%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn hoặc có kỳ hạn dưới 1 tháng, kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng ở mức tối đa 4%/năm theo quy định của NHNN Việt Nam. Đối với kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng, dao động trong mức 4%-5,5%/năm. Đối với kỳ hạn từ 12 tháng trở lên dao động trong khoảng 5%/năm đến 6%/năm (bao gồm lãi suất online). Lãi suất cho vay bằng VND: Lãi suất cho vay bằng VNĐ đối với các lĩnh vực ưu tiên tối đa 4,0%/năm đối với ngắn hạn. Lãi suất cho vay các lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường dao động trong khoảng 5-7%/năm đối với ngắn hạn; 6%-9%/năm đối với trung và dài hạn. Lãi suất huy động USD phổ biến bằng mức trần do NHNN quy định là 0,0%/năm đối với tiền gửi của tổ chức và cá nhân. Lãi suất cho vay USD bình quân ở mức 3-6%/năm.          6. Các vấn đề xã hội 6.1. Giáo dục - Đào tạo Những ngày cuối tháng 8/2024, toàn ngành giáo dục chuẩn bị mọi điều kiện, phương tiện sẵn sàng cho năm học mới 2024-2025, tiếp tục thực hiện hiệu quả chương trình giáo dục mới, các trường trong tỉnh đã hoàn thành biên chế lớp học các lớp đầu cấp; thực hiện tốt công tác vận động học sinh đến lớp. Tập trung triển khai hiệu quả chương trình giáo dục phổ thông đối với các lớp, đặc biệt với các lớp cuối cấp lớp 5, 9, 12; tăng cường đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá tích cực theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh. Đồng thời, phát huy tính chủ động, linh hoạt trong thực hiện chương trình giáo dục của nhà trường và năng lực tự chủ, sáng tạo của tổ chuyên môn, giáo viên; chủ động rà soát và phát triển chương trình giáo dục phổ thông bảo đảm đáp ứng yêu cầu đổi mới và phù hợp với thực tế triển khai tại các cơ sở giáo dục. 6.2. Tình hình y tế Tháng 7/2024, trên địa bàn tỉnh có 262 ca sốt xuất huyết, tăng 226 ca so với cùng kỳ; có 9 ca mắc tay chân miệng, tăng 5 ca; 1 ca liên cầu lợn, tăng 1 ca; không có ca mắc sốt rét, viêm gan siêu trùng, viêm não vi rút, thương hàn bằng cùng kỳ. Bảy tháng đầu năm, trên địa bàn có 804 ca sốt xuất huyết, tăng 650 ca so với cùng kỳ, có 1 ca tử vong, tăng 1 ca; có 72 ca mắc tay chân miệng, tăng 50 ca; 1 ca liên cầu lợn, tăng 1 ca; không có ca mắc sốt rét, viêm gan siêu trùng, viêm não vi rút, thương hàn bằng cùng kỳ. Tháng 7/2024, toàn tỉnh đã phát hiện 9 ca nhiễm mới HIV, bằng cùng kỳ; có 3 ca chuyển qua AIDS, tăng 3 ca so với cùng kỳ; không có ca tử vong, bằng cùng kỳ. Bảy tháng đầu năm, toàn tỉnh có 53 ca nhiễm mới HIV, giảm 13 ca so với cùng kỳ; có 16 ca chuyển qua AIDS, tăng 10 ca; có 3 ca tử vong, tăng 1 ca. Hiện tại, trên địa bàn tỉnh có 554 bệnh nhân đang được quản lý và điều trị tại các cơ sở y tế, trong đó có 545 bệnh nhân điều trị ARV. Tháng 7/2024, trên địa bàn không xảy ra ngộ độc thực phẩm, giảm 1 vụ so với cùng kỳ. Bảy tháng đầu năm, toàn tỉnh xảy ra 4 vụ ngộ độc thực phẩm, tăng 2 vụ so với cùng kỳ, làm 39 người ngộ độc, tăng 6 người so với cùng kỳ; không có người tử vong. 6.3. Hoạt động văn hóa, thể thao Trong tháng 8/2024 nhiều địa phương trong tỉnh gồm cấp xã, cấp huyện tổ chức giải bóng đá phong trào, tổ chức giải chạy các cự ly, thu hút đông đảo mọi người hưởng ứng tích cực tham gia. Góp phần quảng bá hình ảnh, con người, các giá trị lịch sử, văn hóa, tiềm năng du lịch địa phương, đẩy mạnh cuộc vận động toàn dân “Rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”, thúc đẩy phong trào rèn luyện thể dục, thể thao phát triển. 6.4. Tai nạn giao thông Theo báo cáo của Ban ATGT tỉnh, từ 15/7/2024 đến 14/8/2024, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 20 vụ tai nạn giao thông đường bộ, giảm 13 vụ so với cùng kỳ năm 2023; làm 6 người chết, giảm 14 người; làm bị thương 18 người, giảm 9 người. Đường sắt xảy ra không xảy ra tai nạn và va chạm giao thông, giảm 1 vụ; không có người chết, giảm 1 người; không có người bị thương, bằng cùng kỳ. Đường thủy không xảy ra tai nạn và va chạm giao thông, không tăng, không giảm so với cùng kỳ. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn xảy ra 199 vụ tai nạn giao thông đường bộ, tăng 77 vụ so với cùng kỳ; làm chết 85 người, tăng 8 người; làm bị thương 146 người, tăng 58 người so với cùng kỳ. Tai nạn đường sắt 2 vụ, giảm 1 vụ, làm chết 2 người, giảm 1 người; không có người bị thương, bằng cùng kỳ. Tai nạn đường thủy không xảy ra, không tăng giảm so với cùng kỳ. 6.5. Tình hình cháy nổ, bảo vệ môi trường và thiên tai Tình hình hỏa hoạn, trong tháng 8 trên địa bàn tỉnh không xảy ra vụ cháy, giảm 14 vụ so với cùng kỳ, giảm 4 vụ so tháng trước. Tám tháng đầu năm, trên địa bàn tỉnh xảy ra 14 vụ cháy, giảm 8 vụ so với cùng kỳ; không có thiệt hại về người, thiệt hại về tài sản hơn 1 tỷ đồng. Tình hình vi phạm môi trường: tháng 8/2024 trên địa bàn tỉnh xảy ra 6 vụ vi phạm môi trường, các ngành chức năng đã tiến hành xử lý 5 vụ, số tiền xử phạt 79,6 triệu đồng. Lũy kế 8 tháng đầu năm, trên địa bàn tỉnh xảy ra 156 vụ vi phạm môi trường, tăng 21 vụ so với cùng kỳ; tiến hành xử lý 141 vụ với tổng số tiền phạt hơn 1 tỷ đồng. Từ 19/7/2024 đến 18/8/2024, trên địa bàn tỉnh không xảy ra thiên tai, bằng tháng trước và bằng cùng kỳ. Tám tháng đầu năm trên địa bàn tỉnh xảy ra 5 vụ thiên tai, tăng 1 vụ so với cùng kỳ; giá trị thiệt hại ước khoảng 3,1 tỷ đồng, chính quyền các cấp đã hỗ trợ 18 triệu đồng khắc phục hậu quả./.

Công nhận khu vực Thừa Thiên Huế dự kiến thành lập thành phố trực thuộc Trung ương đạt tiêu chí Đô thị loại I
  •   04/09/2024 10:12

Ngày 30/8/2024, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 924/QĐ-TTg công nhận khu vực tỉnh Thừa Thiên Huế dự kiến thành lập thành phố trực thuộc Trung ương đạt tiêu chí đô thị loại I.  Hạ tầng đô thị Thừa Thiên Huế ngày càng hoàn thiện, khang trang   Theo quyết định này, phạm vi đánh giá phân loại đô thị là toàn bộ địa giới hành chính hiện hữu của tỉnh Thừa Thiên Huế có diện tích tự nhiên là 4.947,11 km2. Khu vực nội thành là khu vực dự kiến thành lập 02 quận trực thuộc thành phố trực thuộc Trung ương, gồm toàn bộ địa giới hành chính hiện hữu của thành phố Huế, có tổng diện tích tự nhiên là 266,46 km2.  Quyết định cũng nêu rõ, UBND tỉnh Thừa Thiên Huế chịu trách nhiệm toàn diện trước pháp luật và Thủ tướng Chính phủ về tính chính xác thông tin, số liệu, nội dung của Đề án, các quy hoạch phân khu đã được phê duyệt bảo đảm phù hợp với Quy hoạch chung đô thị Thừa Thiên Huế đến năm 2045, tầm nhìn đến năm 2065 đã được phê duyệt, quy định pháp luật và các quy định có liên quan; quan tâm đầu tư xây dựng khắc phục các tiêu chuẩn chưa đạt, đạt thấp, nhất là tại khu vực các xã dự kiến thành lập phường; chịu trách nhiệm đảm bảo tính chính xác của thông tin, số liệu, đánh giá các tiêu chuẩn phân loại đô thị, tiêu chuẩn trình độ phát triển cơ sở hạ tầng khu vực dự kiến thành lập các phường, quận và báo cáo rà soát tiêu chí phân loại đô thị của các đô thị trực thuộc…  Cơ sở pháp lý hiện thực hóa thành phố trực thuộc Trung ương  Trước đó, tại Hội nghị thẩm định Đề án công nhận khu vực tỉnh Thừa Thiên Huế dự kiến thành lập thành phố trực thuộc Trung ương đạt tiêu chí đô thị loại I (Đề án Huế loại I) và đánh giá trình độ cơ sở hạ tầng của khu vực dự kiến thành lập quận, phường thuộc đô thị Thừa Thiên Huế, Giám đốc Sở Xây dựng Nguyễn Đại Viên khẳng định: Thừa Thiên Huế là cực tăng trưởng của vùng động lực miền Trung về kinh tế biển, kinh tế du lịch; trung tâm lớn của cả nước về khoa học - công nghệ, y tế chuyên sâu, giáo dục và đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao; trung tâm du lịch quốc tế; trung tâm về phát triển công nghiệp và cảng biển của quốc gia.  Theo Quy hoạch chung 108/QĐ-TTg và Chương trình phát triển Thừa Thiên Huế được phê duyệt tại QĐ 1372/QĐ-UBND ngày 28/5/2024 đã xác định từ nay đến năm 2025 sẽ xây dựng Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc Trung ương với 9 đơn vị hành chính gồm 2 quận; 3 thị xã; 4 huyện.  Ngoài TX. Phong Điền, TX. Hương Thủy và TX. Hương Trà là các đô thị trực thuộc, khu vực dự kiến thành lập quận Thuận Hóa (phía nam) có diện tích 139,41 km2, dân số: 297.507 người; quận Phú Xuân (phía bắc) có diện tích 127,05 km2, dân số: 203.142 người...  Theo Bí thư Tỉnh ủy Lê Trường Lưu, những năm qua, Thừa Thiên Huế đã bám sát các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Trung ương, cùng với quyết tâm, nỗ lực của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và các tầng lớp nhân dân, tỉnh đã từng bước khắc phục khó khăn, tập trung triển khai đồng bộ, quyết liệt, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, cấp bách để phát triển kinh tế-xã hội và nhiệm vụ phát triển, nâng cấp đô thị.  Tỉnh cũng đã chủ động lập và phê duyệt Chương trình Phát triển đô thị, phủ kín 100% các đồ án quy hoạch phân khu đối với các khu vực dự kiến thành lập quận, phường và trung tâm các đô thị Hương Trà, Hương Thủy, Phong Điền. Đồng thời, tập trung huy động mọi nguồn lực để đầu tư nâng cấp chất lượng cơ sở hạ tầng đô thị đáp ứng tiêu chí đô thị loại I trực thuộc Trung ương…  Báo cáo thẩm định của hội đồng thẩm định cho thấy, Đề án Huế loại I có 5/5 tiêu chí đều đạt so với quy định; các đô thị trên địa bàn cũng đã được rà soát, đảm bảo theo tiêu chí phân loại đô thị (2 thị xã Hương Trà, Hương Thủy là đô thị loại IV và 10 đô thị loại V); 2 khu vực dự kiến thành lập quận đạt các tiêu chí thành lập quận; 5 khu vực dự kiến thành lập phường đạt các tiêu chí thành lập phường.  Về hạ tầng, các cơ quan phản biện đánh giá cao sự phát triển về hạ tầng đô thị của Thừa Thiên Huế, từng bước khẳng định vai trò, tiềm năng, thế mạnh của Huế với hệ thống hạ tầng, các khu chức năng khá rõ ràng, đô thị hiện đại nhưng vẫn giữ bản sắc.  Dù vậy, cơ quan phản biện cho rằng, sau khi Quốc hội cho phép thành lập thành phố trực thuộc Trung ương thì Huế cần sớm xây dựng đề án tổ chức chính quyền đô thị dựa trên chính sách đặc thù, phát triển…  Tại hội nghị này, Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Tường Văn đánh giá, đây là đề án rất đặc biệt, đặc thù, là cơ sở pháp lý để hiện thực hóa thành phố trực thuộc Trung ương thứ 6 trên cả nước.  Để thực hiện nội dung thẩm định, đoàn công tác liên ngành đã tổ chức nhiều cuộc khảo sát tại các địa phương ở Thừa Thiên Huế, trực tiếp tham gia ý kiến để hoàn thiện hồ sơ.Hội đồng thẩm định thông qua hồ sơ Đề án Huế loại I và đánh giá trình độ cơ sở hạ tầng của khu vực dự kiến thành lập quận, phường thuộc đô thị Thừa Thiên Huế với 82,91 điểm.Nguồn: huecity.gov.vn

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI), giá vàng, đô la mỹ tháng 8 trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế
  •   04/09/2024 08:14

So với tháng trước, CPI tháng 8/2024 giảm 0,16% (khu vực thành thị giảm 0,12%; khu vực nông thôn giảm 0,20%). Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 03 nhóm hàng giảm giá so với tháng trước, gồm: hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,11%; đồ uống và thuốc lá giảm 0,01%; giao thông giảm 2,20%. Có 05 nhóm có chỉ số giá tăng so với tháng trước: may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,16%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,48%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,07%; giáo dục tăng 0,01%; hàng hoá và dịch vụ khác tăng 0,03%. Các nhóm thuốc và dịch vụ y tế; bưu chính viễn thông; văn hoá, giải trí và du lịch bình ổn so với tháng trước. Giá vàng, đô la mỹ biến động theo thị trường thế giới và trong nước. Tháng này giá vàng tiếp tục tăng (tăng 1,50% so với tháng trước), tính bình quân giá vàng trên thị trường tự do trong tháng 8/2024 là 7.705.669đ/chỉ, tăng 113.565đ/chỉ so với tháng 7/2024. Giá đô la Mỹ giảm 0,74% so với tháng trước, tại thời điểm ngày 21/8/2024 tỷ giá đô la Mỹ trên thị trường tỉnh Thừa Thiên Huế 25.271đ/USD.

Sôi nổi, hấp dẫn Giải bóng đá mini Khối thi đua Tổng hợp lần thứ nhất năm 2024
  •   16/08/2024 15:52

Giải bóng đá mini lần thứ nhất của Khối Thi đua Tổng hợp được tổ chức nhằm thực hiện hiệu quả Chỉ thị số 23/CT-UBND ngày 18 tháng 12 năm 2023 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc phát động phong trào thi đua thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2024; Kế hoạch số 415/KH-UBND ngày 20 tháng 12 năm 2023 của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế về hoạt động của các Khối thi đua năm 2024 và Kế hoạch hoạt động năm 2024 của Khối Thi đua Tổng hợp, Giải đấu lần này không chỉ bước đầu mở ra những hoạt động phong trào thể dục thể thao trong Khối, từng bước tạo môi trường rèn luyện thân thể, nâng cao sức khỏe mà còn là hoạt động kết nối tình bằng hữu giữa các cầu thủ là cán bộ, công chức, viên chức và người lao động thuộc các đơn vị trong Khối với nhau.  Với tinh thần thi đấu Fair play, các cầu thủ đã cống hiến hết mình trên sân cỏ để mang đến cho khán giả những pha bóng đẹp mắt và hấp dẫn. Kết thúc giải Đội liên quân Văn phòng UBND tỉnh - Sở Ngoại vụ - Sở Nội vụ và Sở tài chính đã chiến thắng chung cuộc, giành CUP mùa giải lần thứ nhất. Giải nhì thuộc về về Đội liên quân Văn phòng ĐĐBQH và HĐND - Kho bạc Nhà nước - Cục Thống kê và Ban Dân tộc. Giải 3: Cục Thuế và Giải 4: Sở Kế hoạch và Đầu tư.Một số hình ảnh của giải đấu:

Tình hình giá cả trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế
  •   29/07/2024 15:35

So với tháng trước, CPI tháng 7/2024 tăng 0,29% (khu vực thành thị tăng 0,29%; khu vực nông thôn tăng 0,29%). Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 5 nhóm hàng tăng giá so với tháng trước. Trong đó, đồ uống và thuốc lá tăng 0,02%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,05%; giao thông tăng 1,85%; giáo dục tăng 0,08%; hàng hoá và dịch vụ khác tăng 4,09%. Bên cạnh đó, cũng có các nhóm giảm giá so với tháng trước như: hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,47%; thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,29%; may mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,59%; văn hoá, giải trí và du lịch giảm 0,02%. Các nhóm thuốc và dịch vụ y tế, bưu chính viễn thông bình ổn so với tháng trước. Giá vàng, đô la mỹ biến động theo thị trường thế giới và trong nước. Tháng này giá vàng tiếp tục tăng (tăng 1,99% so với tháng trước), tính bình quân giá vàng trên thị trường tự do trong tháng 7/2024 là 7.592.104 đ/chỉ, tăng 147.936đ/chỉ so với tháng 7/2024. Giá đô la Mỹ giảm nhẹ 0,01% so với tháng trước, tại thời điểm ngày 21/7/2024 tỷ giá đô la Mỹ trên thị trường tỉnh Thừa Thiên Huế 25.498đ/USD.