BÁO CÁO TÌNH HÌNH KINH TẾ – XÃ HỘI THÁNG 6 VÀ 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2024
1. Tăng trưởng kinh tế
Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh 6 tháng đầu năm 2024 ước tăng 6,01% so với cùng kỳ năm trước. Đây là mức tăng trưởng khá và có xung hướng tăng cao qua các quý, nhưng tăng thấp hơn so với cùng kỳ và so với kế hoạch đề ra, nguyên nhân chủ yếu là do sự sụt giảm mạnh của ngành sản xuất điện; xét trong khu vực Bắc trung bộ và Duyên hải miền trung, tốc độ tăng trưởng của tỉnh nhà chưa cao. Trong đó: Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,99%, đóng góp 0,33 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 5,22%, đóng góp 1,66 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 6,95%, đóng góp 3,37 điểm phần trăm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 7,53% so với cùng kỳ năm 2023, đóng góp 0,65 điểm phần trăm trong tăng trưởng kinh tế toàn tỉnh.
Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản: Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 6 tháng đầu năm 2024, diễn ra trong điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi, các địa phương chủ động bám sát khung lịch thời vụ, tăng cường công tác dự báo, phòng chống dịch bệnh nhờ vậy hoạt động trồng trọt đạt kết quả tích cực; năng suất, sản lượng một số cây trồng chủ yếu tăng so với năm trước. Trong đóng góp tăng trưởng của khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản 6 tháng đầu năm 2024, ngành nông nghiệp tăng 1,70% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 0,11 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; ngành thủy sản duy trì phát triển ổn định tăng 2,95%, đóng góp 0,09 điểm phần trăm; riêng ngành lâm nghiệp tăng trưởng khá cao tăng 9,35%, đóng góp 0,04 điểm phần trăm, đảm bảo nguyên liệu cung cấp cho các doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu trên địa bàn.
Khu vực công nghiệp - xây dựng: Ngành công nghiệp 6 tháng năm 2024 tăng 2,37% đóng góp 0,58 điểm phần trăm. Đây là mức tăng trưởng thấp so với mục tiêu đặt ra, nguyên nhân do ngành sản xuất điện giảm sâu đã kéo lùi tăng trưởng toàn ngành công nghiệp 2,69% và làm giảm đi 0,67 điểm phần trăm. Năm nay, ngành công nghiệp chế biến chế tạo là ngành đầu tàu trong toàn ngành công nghiệp của tỉnh đạt mức tăng trưởng 5,67% so năm trước, đóng đóng góp 1,12 điểm phần trăm (năm 2023 công nghiệp chế biến chế tạo tăng 3,18%), đạt mức tăng trưởng này là nhờ năng lực tăng thêm của các ngành và một số sản phẩm chủ lực duy trì mức sản xuất khá như bia, dệt may, dăm gỗ, sản xuất túi xách,... Ngành công nghiệp cấp nước và thu gom rác thải tăng trưởng khá cao, do những dự án mang tính chất công ích, thân thiện môi trường và sử dụng công nghệ hiện đại đi vào hoạt động đã đóng góp cho sự phát triển kinh tế - xã hội và thực hiện hiệu quả công tác bảo vệ môi trường, đảm bảo sức khỏe người dân của tỉnh; Ngành xây dựng, hiện nay nhiều công trình lớn đang được thi công và đẩy nhanh tiến độ nên có tốc độ tăng trưởng cao, đóng góp lớn vào mức tăng trưởng của khu vực công nghiệp - xây dựng cũng như toàn nền kinh tế của tỉnh. Dự ước ngành xây dựng đạt mức tăng trưởng khá cao tăng 15,15%, đóng góp 1,08 điểm phần trăm.
Khu vực dịch vụ trong 6 tháng đầu năm 2024 tiếp tục ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực, công tác quảng bá, xúc tiến du lịch được đổi mới; giới thiệu các điểm đến, các sản phẩm du lịch mới được tăng cường; kích cầu dịch vụ du lịch dành cho khách nội địa và quốc tế được đẩy mạnh đã đem lại nhiều kết quả quan trọng. Một số ngành dịch vụ trong 6 tháng đầu năm có mức tăng trưởng khá: Ngành bán buôn, bán lẻ hàng hoá tăng 8,42% cùng kỳ, đóng góp 0,52 điểm phần trăm; dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng 9,43%, đóng góp 0,62 điểm phần trăm; vận tải kho bãi tăng 10,19%, đóng góp 0,33 điểm phần trăm; Nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 14,43%, đóng góp 0,11 điểm phần trăm,...
2. Tài chính, ngân hàng
2.1. Tài chính
Tổng thu ngân sách trên địa bàn 6 tháng năm 2024 ước đạt 5.900 tỷ đồng, bằng 50,0% dự toán năm. Trong đó: Thu nội địa ước đạt 5.364,2 tỷ đồng, bằng 48,1% dự toán; thu thuế từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 531 tỷ đồng, bằng 85,6% dự toán. Trong thu nội địa: Thu doanh nghiệp Nhà nước ước đạt 213 tỷ đồng, bằng 46,3% dự toán; thu doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 2.101 tỷ đồng, bằng 54,8% dự toán; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 960 tỷ đồng, bằng 59,7% dự toán; thuế thu nhập cá nhân 380 tỷ đồng, bằng 76,0% dự toán; thuế bảo vệ môi trường 186 tỷ đồng, bằng 50,3% dự toán.
Tổng chi ngân sách địa phương 6 tháng ước đạt 5.668,8 tỷ đồng, bằng 35,5% dự toán, trong đó chi đầu tư phát triển 1.548,7 tỷ đồng, bằng 26,2% dự toán; chi sự nghiệp kinh tế 375,3 tỷ đồng, bằng 35,0% dự toán; chi sự nghiệp giáo dục đào tạo 1.716,0 tỷ đồng, bằng 44,4% dự toán; chi sự nghiệp y tế 258 tỷ đồng, bằng 40,1% dự toán; chi quản lý Nhà nước 801,6 tỷ đồng, bằng 49,8% dự toán.
2.2. Ngân hàng
Triển khai thực hiện Thông tư 02/2023/TT-NHNN và Chỉ thị số 02/CT-NHNN ngày 23/5/2023 của NHNN VN về việc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng gặp khó khăn. Đến 30/04/2024, các tổ chức tín dụng trên địa bàn đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho 462 lượt khách hàng với tổng giá trị nợ gốc và lãi lũy kế được cơ cấu là gần 585,22 tỷ đồng. Tổng số dư nợ gốc và lãi của khách hàng được cơ cấu là 941,39 tỷ đồng.
Tổng nguồn vốn huy động đến cuối tháng 5 năm 2024 ước đạt 72,0 nghìn tỷ đồng, tăng 4,09% so với so với đầu năm; tổng dư nợ tín dụng ước đạt 72,9 nghìn tỷ đồng, tăng 1,85% so với đầu năm .
Dự kiến đến cuối tháng 6/2024, tín dụng đối với nông nghiệp nông thôn đạt 16.300 tỷ đồng, tăng 10,47% so với đầu năm; Tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa đạt 12.100 tỷ đồng, giảm 16,49%; Tín dụng đối với xuất khẩu đạt 5.500 tỷ đồng, tăng 7,08% so với đầu năm; Cho vay công nghiệp hỗ trợ đạt 1.450 tỷ đồng, tăng 23,05% so với đầu năm. Trên địa bàn chưa phát sinh dư nợ cho vay doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao. NHNN tỉnh tiếp tục giám sát chặt chẽ việc tuân thủ các quy định của NHNN VN về lãi suất, trong đó đã chỉ đạo các TCTD trên địa bàn thực hiện tiết giảm chi phí để giảm lãi suất cho vay, hỗ trợ nền kinh tế địa phương.Lãi suất huy động bằng VND tại các TCTD trên địa bàn: đang áp dụng ở mức tối đa 0,5%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn hoặc có kỳ hạn dưới 1 tháng, kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng ở mức tối đa 4%/năm theo quy định của NHNN Việt Nam. Đối với kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng, dao động trong mức 4%-5,5%/năm. Đối với kỳ hạn từ 12 tháng trở lên dao động trong khoảng 5%/năm đến 6%/năm (bao gồm lãi suất online).Lãi suất cho vay bằng VND: Lãi suất cho vay bằng VNĐ đối với các lĩnh vực ưu tiên tối đa 4,0%/năm đối với ngắn hạn. Lãi suất cho vay các lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường dao động trong khoảng 5-7%/năm đối với ngắn hạn; 6%-9%/năm đối với trung và dài hạn. Lãi suất huy động USD phổ biến bằng mức trần do NHNN quy định là 0,0%/năm đối với tiền gửi của tổ chức và cá nhân. Lãi suất cho vay USD bình quân ở mức 3-6%/năm.
3. Hoạt động xuất nhập khẩu
Hoạt động xuất nhập khẩu trên địa bàn trong 6 tháng đầu năm 2024 có những chuyển biến tích cực, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh sản xuất hàng hóa xuất khẩu đã có nhiều đơn hàng và mở rộng thị trường xuất khẩu đi nhiều nước. Tổng kim ngạch xuất nhập khấu ước đạt 914 triệu USD, tăng 8,7% so cùng kỳ, xuất siêu hàng hóa đạt 286 triệu USD, tăng 57,8% so cùng kỳ.
3.1. Về xuất khẩu
Kim ngạch xuất khẩu (KNXK) hàng hóa trong 6 tháng đầu năm 2024 ước đạt 600,0 triệu USD tăng 17,4% so với cùng kỳ, cụ thể:
- Nhóm hàng nông, thuỷ sản: KNXK ước đạt 33,0 triệu USD, giảm 10,8% so với cùng kỳ và chiếm tỷ trọng 5,5%.
- Nhóm hàng công nghiệp chế biến: KNXK ước đạt 484,0 triệu USD, tăng 17,0% so với cùng kỳ và chiếm tỷ trọng 80,7%, trong đó: xơ, sợi dệt các loại ước đạt 120,0 triệu USD, tăng 19,2%; hàng may mặc ước đạt 313,0 triệu USD, tăng 14,8; gỗ và sản phẩm gỗ ước đạt 51,0 triệu USD, tăng 26,2% so với cùng kỳ năm 2023.
- Nhóm các hàng hóa khác như hương và bột hương, bia, rượu sa kê, hàng thủ công mỹ nghệ, bao bì xi măng,…: KNXK ước đạt 83,0 triệu USD, tăng 37,9% và chiếm tỷ trọng 13,8%.
Thị trường xuất khẩu: Trong 6 tháng đầu năm 2024, doanh nghiệp đã xuất khẩu đến khoảng 50 quốc gia và vùng lãnh thổ như Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, ASEAN, các nước Châu Âu,…
3.2. Về nhập khẩu
Dự ước kim ngạch nhập khẩu hàng hóa 6 tháng đầu năm 2024 ước đạt 314,0 triệu USD giảm 4,8% so với cùng kỳ năm 2023. Các mặt hàng nhập khẩu tiếp tục phục vụ cho hoạt động sản xuất, xuất khẩu của các doanh nghiệp, cụ thể:
- Nhóm hàng cần nhập khẩu: KNNK ước đạt 258,0 triệu USD, giảm 6,5% so với cùng kỳ và chiếm tỷ trọng 82,2%, trong đó: KNNK thủy sản ước đạt 3,0 triệu USD, giảm 38,5%, nguyên phụ liệu dệt may ước đạt 198,0 triệu USD, giảm 2,9%; máy móc thiết bị dụng cụ phụ tùng ước đạt 57,0 triệu USD giảm 15,1%.
- Nhóm hàng hóa khác như thạch cao, thép, hóa chất, linh kiện điện tử, nguyên phụ liệu sản xuất bia,...: KNNK ước đạt 53,0 triệu USD, tăng 6,3% so với cùng kỳ.
4. Giá cả, lạm phát
- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
Chỉ số giá tiêu dùng toàn tỉnh tháng 6/2024 tăng 0,05% so với tháng trước, tăng 1,66% so với tháng 12 năm trước và tăng 4,38% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tăng so với tháng trước chủ yếu do nhu cầu tiêu dùng hàng ăn uống và dịch vụ ăn uống tăng; ngoài ra tháng này đang là mùa du lịch và diễn ra các lễ hội trên địa bàn thu hút nhiều du khách trong nước và nước ngoài đến thăm quan, vui chơi dẫn đến chỉ số nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng. Các nhóm hàng hóa dịch vụ có chỉ số giá tăng so tháng trước gồm: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,69%; Đồ uống và thuốc lá tăng 0,05%; May mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,03%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,28%; Văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,70%; Hàng hoá và dịch vụ khác tăng 0,10%. Bên cạnh đó, cũng có các nhóm hàng giảm giá so với tháng trước như: Nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,17%; Giao thông giảm 2,54%; Giáo dục giảm 0,12%. Các nhóm: Thuốc và dịch vụ y tế; Bưu chính viễn thông bình ổn so với tháng trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 6 tháng đầu năm 2024 tăng 4,26% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chính tăng giá do nhu cầu tiêu dùng của người dân trong các dịp lễ tết tăng, bên cạnh đó giá gạo liên tục tăng mạnh trong các tháng cuối năm trước và đầu năm nay làm cho nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống có chỉ số giá tăng 5,45%; các cơ sở khám chữa bệnh áp dụng mức giá mới theo thông tư 22/2023/TT-BYT ngày 17/11/2023 làm cho nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 8,28%. Các nhóm hàng hóa dịch vụ còn lại có chỉ số giá bình quân 6 tháng đầu năm 2024 tăng khá so cùng kỳ năm trước: Giao thông tăng 6,90%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 5,13%; Giáo dục tăng 3,20%. Bên cạnh đó, có nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,01%.
- Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ
Chỉ số giá vàng tháng 6/2024 giảm 0,93% so với tháng trước, tăng 21,02% so với tháng 12 năm trước và tăng 32,34% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 6 tháng đầu năm 2024 tăng 25,53% so với bình quân cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 6/2024 giảm 0,01% so với tháng trước, tăng 4,24% so với tháng 12 năm trước và tăng 7,61% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 6 tháng đầu năm 2024 tăng 5,51% so với bình quân cùng kỳ năm trước.
5. Vốn đầu tư
Tổng vốn đầu tư thực hiện theo giá hiện hành trên địa bàn 6 tháng đầu năm 2024 ước đạt 14.073,6 tỷ đồng, bằng 41,3% KH, tăng 11,4% so với cùng kỳ. Trong đó, vốn thuộc ngân sách Nhà nước ước đạt 3.183,0 tỷ đồng, bằng 32,7% KH, giảm 0,2% so với cùng kỳ, chiếm 22,5% tổng vốn. Nguồn vốn tín dụng ước đạt 3.135,7 tỷ đồng, bằng 29,7% KH, bằng 70,5% so cùng kỳ, chiếm 22,3% tổng vốn; vốn đầu tư của doanh nghiệp 1.564,0 tỷ đồng, bằng 44,1% KH, tăng 3,2%, chiếm 11,0%; vốn đầu tư của dân 3.409,4 tỷ đồng, bằng 58,8% KH, tăng 73,1%, chiếm 24,2%; vốn viện trợ 340,0 tỷ đồng, bằng 34,9% KH, tăng 5,3% so với cùng kỳ; chiếm 2,4%; vốn đầu tư nước ngoài 2.441,5 tỷ đồng, bằng 69,8% KH, tăng 105,2%, chiếm 17,3% tổng nguồn vốn. Nguồn thuộc ngân sách Nhà nước trong 6 tháng đầu năm tập trung thực hiện các dự án chuyển tiếp như: tuyến đường bộ ven biển qua tỉnh Thừa Thiên Huế và cầu qua cửa Thuận An; Nâng cấp, mở rộng quốc lộ 49A; doanh trại Bộ CHQS tỉnh Thừa Thiên Huế; hạ tầng kỹ thuật khu đất CL10 và BV thuộc khu A – đô thị mới An Vân Dương; Đường Nguyễn Hoàng và Cầu vượt Sông Hương; Đê chắn sóng cảng Chân mây giai đoạn 2; Chỉnh trang trục đường Tố Hữu và đường Võ Nguyên Giáp; Mở rộng tuyến đường Phạm Văn Đồng; Bệnh viện Quốc tế Trung ương Huế 2 ; … Bên cạnh các dự án đang được thi công, một số các dự án các đơn vị trên địa bàn tỉnh vẫn đang chậm khởi công do vướng mắc về thủ tục cũng như giải phóng mặt bằng như: Đường Tố Hữu nối dài đi sân bay Phú Bài; Đường vành đai 3; cầu Vỹ dạ bắt qua sông như ý; …Nguồn vốn doanh nghiệp đầu tư trên địa bàn đang thực hiện các dự án: nhà ở tại khu: Đô thị mới An Vân Dương, dự án Apec Land, An Cựu city, khu nhà ở phức hợp Phú Xuân; Khu nhà ở xã hội tại Khu phức hợp Thủy Vân giai đoạn 2; Dự án Khu công nghiệp Gilimex; Hạ tầng khu CN và khu phi thuế quan Sài Gòn - Chân Mây; công trình cảng biển; … Trong 6 tháng đầu năm các doanh nghiệp đã điều chỉnh tăng vốn 05 dự án gồm: Nhà máy sản xuất men frit, công suất 150.000 tấn/năm điều chỉnh tăng vốn từ 610 tỷ đồng lên 630 tỷ đồng; Dự án đầu tư xây dựng xưởng sản xuất chế biến thực phẩm chức năng điều chỉnh tăng vốn từ 205 tỷ đồng lên 360 tỷ đồng; Cửa hàng Xăng dầu Lộc Thuỷ điều chỉnh tăng vốn từ 15,6 tỷ đồng lên 16,6 tỷ đồng; Dự án mở rộng Nhà máy sản xuất bao bì giấy Carton điều chỉnh tăng vốn lên 30 tỷ đồng. Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tập trung thực hiện các dự án chuyển tiếp, cụ thể: Trung tâm thương mại AEON MALL; những hợp phần còn lai của khu Liên hợp sản xuất, lắp ráp Kim Long Motors Huế; sân Golf Quốc tế và khu dịch vụ phụ trợ khách sạn golf và khu biệt thự nghỉ dưỡng tại xã Vinh Xuân; Dự án Malpensa Plant Việt Nam (các sản phẩm từ nhựa) của công ty Công ty Tsukasa International;... Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh thu hút 08 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài với tổng số vốn đăng ký 33,2 triệu USD.
6. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp
Hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh trong 6 tháng đầu năm có những dấu hiệu khởi sắc. Nhiều doanh nghiệp có đơn hàng trở lại, giá cả nguyên vật liệu đầu vào ít biến động và lãi suất ngân hàng hạ nhiệt là những yếu tố thuận lợi để các doanh nghiệp chủ động thực hiện tốt kế hoạch hoạt động sản xuất kinh doanh. Tính đến thời điểm 17/6/2024 trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế có 344 doanh nghiệp thành lập mới. Trong đó: Công ty cổ phần 30 DN; Công ty TNHH hai thành viên trở lên 78 DN; Công ty TNHH một thành viên 230; Doanh nghiệp tư nhân 6 DN; với số vốn đăng ký đạt 1.723,0 tỷ đồng. Số doanh nghiệp hoạt động trở lại 184 DN, số doanh nghiệp đã giải thể 112 DN, số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động 624 DN. Đánh tổng quan về tình hình SXKD, có 83,3% số DN đánh giá SXKD quý II/2024 của họ khả quan hơn và giữ ổn định so với quý I/2024 (trong đó 35,0% khẳng định tốt lên và 48,3% khẳng định giữ ổn định); 16,7% số DN đánh giá là khó khăn hơn. Các DN nhận định SXKD của quý III/2024 tốt hơn và giữ ổn định so với quý II/2024 chiếm 76,7% (trong đó 38,3% dự báo tốt lên và 38,4% dự báo giữ ổn định), có 23,3% số DN dự báo khó khăn hơn. Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong quý II/2024, có 61,7% cho rằng nhu cầu của thị trường trong nước thấp đã ảnh hưởng đến hoạt động sxkd của DN, các nhân tố có mức ảnh hưởng tiếp theo đó là: Tính cạnh tranh của hàng trong nước cao (58,3%); Nhu cầu thị trường quốc tế thấp (46,7%); Thiết bị công nghệ lạc hậu (38,3%); Khó khăn về tài chính (30,0%); Thiếu nguyên, nhiên, vật liệu (26,7%); Lãi suất vay vốn cao (25,0%); Tính cạnh tranh của hàng nhập khẩu cao (20,0%); Chính sách pháp luật của Nhà nước (20,0%); Không tuyển dụng được lao động theo yêu cầu (20,0%); ...
7. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
7.1. Nông nghiệp
Cây hằng năm
Tính đến 15/6, lúa vụ Hè thu gieo cấy ước đạt 25.184 ha, tăng 180 ha, tương ứng tăng 0,7% so với vụ Hè thu năm trước. Do năm 2023 tình hình gieo trồng vụ Hè Thu bị trễ hạn, nhiều diện tích bỏ hoang, không gieo trồng kịp. Diện tích gieo trồng các loại cây hàng năm khác 6 tháng đầu năm: Ngô ước đạt 1.090 ha, giảm 1,0%; Khoai lang 532 ha, giảm 0,7%; Lạc 2.154 ha, giảm 4,9%; Rau các loại 3.766 ha, tăng 0,5%; Đậu các loại 795 ha, giảm 3,9% so với cùng kỳ năm 2023. Vụ Đông xuân năm 2024, Tổng diện tích gieo trồng cây hằng năm ước đạt 37.153,4 ha, giảm 0,1% so cùng kỳ. Trong đó, diện tích gieo cấy lúa toàn tỉnh đạt 27.917,5 ha, giảm 0,4% so với vụ Đông xuân năm trước. Các địa phương đưa các giống mới như: ĐT100 (KH1), TH5, HN6, J02, HG244, HG21… vào gieo cấy nhằm tạo ra sản phẩm chất lượng và rút ngắn tối đa thời gian sinh trưởng, hạn chế nguy cơ sâu bệnh gây hại và thiên tai. Các giống lúa mới này không chỉ đạt năng suất cao trên dưới 70 tạ/ha, mà còn tạo ra sản phẩm chất lượng, thơm ngon, bán được giá. Bên cạnh đó, năm nay giá phân bón giảm, giá lúa thu mua cao là động lực lớn cho người nông dân. Năm nay, thời tiết thuận lợi ngay từ đầu vụ, đến cuối vụ xảy ra hai đợt mưa lớn vào ngày 28/4 và 4/5 đã làm diện tích lúa chưa kịp thu hoạch bị đổ ngã tại một số huyện, nhưng do lúa đã chuẩn bị thu hoạch nên không ảnh hưởng đến năng suất. Ước tính năng suất lúa vụ Đông xuân năm 2024 đạt 67,4 tạ/ha, cao hơn vụ Đông xuân năm 2023 gần 1,4 tạ/ha. Sản lượng lúa vụ Đông xuân năm 2024 ước đạt 188.174 tấn, tăng 1,8% so với vụ Đông xuân năm 2023. Diện tích các loại cây hàng năm khác vụ đông xuân: diện tích ngô ước đạt 914,8 ha, giảm 0,6%; khoai lang 385,6 ha, tăng 0,9%; mía 106,4 ha, tăng 5,0 %, rau các loại 2.800,6 ha, giảm 2,0% so với vụ Đông Xuân 2023; diện tích lạc 2.068,5 ha, giảm 3,7% vụ Đông xuân năm 2023. Sản lượng các cây trồng vụ Đông xuân tăng khá, mặc dù trong tháng 4 thời tiết nắng nóng, một số diện tích cây trồng thiếu nước phải thu hoạch sớm như rau các loại, lạc… nhưng đầu vụ thời tiết tốt nên không ảnh hưởng đến năng suất. Năng suất thu hoạch một số loại cây hằng năm ước tính đến thời điểm hiện tại như: Ngô ước đạt 42,1 tạ/ha, tăng 2,4%; khoai lang 56,1 tạ/ha, tăng 3,6%; lạc 22,2 tạ/ha, tăng 5,2%, rau các loại đạt 98,5 tạ/ha, tăng 2,6%.
Cây lâu năm
Tổng diện tích cây lâu năm 6 tháng đầu năm 2024 ước đạt 9.264 ha, giảm 310 ha, giảm 3,2% so cùng kỳ. Nguyên nhân do cây cao su chiếm tỷ trọng 55,4% diện tích cây lâu năm của tỉnh có diện tích giảm 7,6%. Riêng diện tích cây lâu năm ăn quả ước 3.497 ha, tăng 2,7% so cùng kỳ. Trong đó, các loại cây ăn quả chủ yếu trên địa bàn như diện tích cây chuối 797 ha, tăng 4,4%; cây ổi với diện tích 132 ha, tăng 5,6%; cam 361 ha, tăng 0,3%; bưởi bòng thanh trà hiện có 1.389 ha, tăng 3,1%; mít 80 ha, tăng 9,6%.
Sản lượng thu hoạch một số cây lâu năm chủ yếu ước tính 6 tháng đầu năm 2024 như sau: sản lượng chuối ước đạt 8.140 tấn, tăng 4,5%; mít 279 tấn, tăng 9,4%; ổi 270 tấn, tăng 5,9%; sản lượng cam 690 tấn, tăng 0,3%; bưởi, thanh trà 2.455 tấn, tăng 3,2% so với cùng kỳ; chè hái lá 291 tấn, tăng 1,7%; dừa 700 tấn, tăng 6,1%; mủ cao su 2.430 tấn, giảm 4,9%; xoài ước 159 tấn, giảm 0,6%; dứa 910 tấn, giảm 1,1% so cùng kỳ;
Chăn nuôi
Chăn nuôi trâu bò góp phần vào việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho nông dân. Tuy nhiên, chăn nuôi trâu bò cũng gặp nhiều thách thức như: nguồn thức ăn, giá thành, tình trạng nhập lậu và cạnh tranh từ thị trường quốc tế. Ước tính tại thời điểm 30/6/2024 tổng đàn trâu toàn tỉnh có 15.112 con, giảm 2,1%; Đàn bò 29.085 con, tăng 2,5% so với thời điểm 30/6/2023. Tổng đàn lợn ước thời điểm 30/6/2024 đạt 154.083 con, tăng 1,1% so với cùng kỳ 30/6/2023. Chăn nuôi lợn tiếp tục phát triển theo hướng công nghiệp, trang trại, chăn nuôi công nghệ cao, VietGAP, hữu cơ, an toàn sinh học, an toàn dịch bệnh. Hộ chăn nuôi gia cầm truyền thống dần chuyển dịch theo hướng chuyên nghiệp hóa, chăn nuôi hữu cơ, giảm quy mô sản xuất ở những hộ nhỏ lẻ và phát triển các doanh nghiệp chăn nuôi quy mô lớn có quy trình khép kín với giá thành sản xuất thấp hơn. Xây dựng các vùng chăn nuôi tập trung xa khu dân cư, thuận lợi cho xử lý môi trường và phòng tránh dịch bệnh. Tổng đàn gia cầm ước thời điểm 30/6/2024 đạt 5.027 nghìn con, tăng 1,3%. Trong đó: đàn gà 3.594 nghìn con, tăng 1,6%; đàn vịt 1.143 nghìn con, tăng 0,4%.
Tiến độ tiêm phòng gia súc, gia cầm tính đến 16/6/2024: Toàn tỉnh đã tiêm được 22.400 liều THT trâu bò (72%), 35.476 liều tam liên (81%), 5.425 liều E.coli (69%), 392.100 liều CGC (69%), 274.400 liều DTV (62%) và 250.650 liều vắc xin Newcastle (74%), 70.120 liều THT gia cầm (93%), 152.050 liều Đậu gà (90%), 101.800 liều Gumboro (52%); LMLM lợn trang trại: 2.478 liều, 30.550 liều LMLM đợt 1 (81%), 3.640 liều VDNC (Phú Lộc, Nam Đông). Đàn gia súc, gia cầm phát triển khá, các sản phẩm chăn nuôi cung cấp đảm bảo sức tiêu thụ của người dân, tình trạng lợn nhập lậu được kiểm soát tốt. Sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng 6 tháng đầu năm 2024 ước đạt 474 tấn, giảm 0,8% so cùng kỳ; thịt bò hơi 648 tấn, tăng 1,1%; sản lượng thịt lợn hơi 9.040 tấn, tăng 1,5%; sản lượng thịt gà hơi 5.046 tấn, tăng 2,6%; sản lượng thịt gia cầm đạt 8.432 tấn, tăng 3,9% so với cùng kỳ.
7.2. Lâm nghiệp
Diện tích trồng rừng tập trung 6 tháng đầu năm 2024 ước đạt 4.190 ha, tăng 2,0%, trong đó rừng sản xuất trồng mới chiếm 96,4%. Rừng trồng mới chủ yếu trên diện tích rừng đã khai thác. Diện tích rừng trồng được chăm sóc ước đạt 13.920 ha, tăng 0,7%. Diện tích rừng được giao khoán bảo vệ ước đạt 71.000 ha, tăng 0,3%. Nguyên nhân tăng do các địa phương tiếp tục thực hiện chương trình về giao rừng cho người dân bảo vệ đạt tỷ hiệu quả cao. Sản lượng gỗ khai thác trong tháng 6 năm 2024 ước đạt 78.440 m3 gỗ tăng 4,5% so cùng kỳ. Lũy kế sản lượng gỗ khai thác 6 tháng đầu năm 2024 ước tính đạt 379.990 m3 gỗ, tăng 14,0% so cùng kỳ, trong đó toàn bộ là khai thác gỗ từ rừng trồng phục vụ sản xuất dăm gỗ. Nguyên nhân sản lượng gỗ khai thác tăng là do từ đầu năm đến nay, sản lượng dăm gỗ sản xuất xuất khẩu được nên người dân tranh thủ khai thác; Sản lượng củi khai thác trong tháng 6 ước đạt 8.250 ste, giảm 4,0% so cùng kỳ. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2024 sản lượng củi khai thác đạt 64.150 ste, giảm 4,0% so cùng kỳ.
Sản lượng một số sản phẩm lâm sản khác 6 tháng đầu năm 2024: nhựa thông 470 tấn, tăng 2,0%; Măng tươi 22 tấn, tăng 4,8% so cùng kỳ; tre/lồ ô đạt 385 nghìn cây, tăng 0,8%; song mây 545 tấn, tăng 0,9%; mật ong rừng 0,9 tấn, tăng 12,5% so với cùng kỳ.
7.3. Thủy sản
Diện tích nuôi trồng thủy sản tháng 6 năm 2024 ước đạt 1.389 ha, tăng 1,2% so với cùng kỳ, bao gồm nuôi nước lợ 981 ha, tăng 1,9%; nuôi nước ngọt 408 ha, giảm 0,5%. Trong đó nuôi cá 345 ha, tăng 1,5%; nuôi tôm 408 ha, tăng 2,8%. Lũy kế tổng diện tích nuôi trồng thủy sản 6 tháng đầu năm 2024 ước đạt 2.887 ha, tăng 1,2% so cùng kỳ. Bao gồm nuôi nước ngọt ước đạt 1.147 ha, giảm 0,5%; diện tích nuôi nước lợ đạt 1.740 ha, tăng 2,4% so cùng kỳ. Trong đó nuôi cá 516 ha, tăng 2,6%; nuôi tôm 830 ha, tăng 2,9%. Hiện nay nuôi lồng bè ở các địa phương phát triển nhờ hiệu quả kinh tế mang lại khá, do tận dụng mặt nước vùng đầm phá, sông ngòi, hồ thủy điện và một phần nguồn thức ăn tự chế của người nuôi. Số hộ nuôi lồng, bè 3.751 hộ, tăng 20 hộ, tăng 0,5% so cùng kỳ; số lồng, bè thả nuôi 8.095 lồng, tăng 145 lồng, tăng 1,8%; thể tích lồng, bè nuôi 173.400 m3, tăng 3.670 m3, tăng 2,2% so cùng kỳ.
Sản xuất giống thủy sản, tháng 6 năm 2024 sản xuất giống trên địa bàn tỉnh ước đạt 20,8 triệu con, tăng 1,5% so với tháng 6/2023; trong đó tôm sú giống 13,8 triệu con, tăng 1,5%, cá giống 6,5 triệu con, tăng 0,1 triệu con, tăng 1,6%; Lũy kế 6 tháng đầu năm 2024 sản xuất giống trên địa bàn tỉnh đạt 145,7 triệu con, tăng 1,5%; trong đó tôm sú giống 90,3 triệu con, tăng 1,3%; cá giống các loại 53,4 triệu con, tăng 1,7% so cùng kỳ. Sản lượng nuôi trồng tháng 6 năm 2024 ước đạt 3.369 tấn, tăng 5,0% so cùng kỳ. Bao gồm sản lượng cá 2.350 tấn, tăng 5,6%, tôm các loại 1.064 tấn, tăng 4,1%; thủy sản khác 225 tấn, tăng 3,2%. Lũy kế sản lượng nuôi trồng 6 tháng đầu năm 2024 ước đạt 8.511 tấn, tăng 5,3% so cùng kỳ. Bao gồm sản lượng cá 5.210 tấn, tăng 5,6%, tôm các loại 2.891 tấn, tăng 5%; thủy sản khác 410 tấn, tăng 3,3%. Sản lượng thủy sản khai thác tháng 6 năm 2024 ước đạt 5.781 tấn, tăng 2,8% so với cùng kỳ, bao gồm khai thác biển 5.220 tấn, tăng 3,2%; khai thác nội địa 561 tấn, giảm 0,4% so cùng kỳ. Lũy kế sản lượng thủy sản khai thác 6 tháng đầu năm 2024 ước đạt 24.120 tấn, tăng 2,2% so cùng kỳ. Bao gồm khai thác biển đạt 22.260 tấn, tăng 2,4%; khai thác nội địa 1.860 tấn, giảm 0,6%. Trong đó, sản lượng cá 20.853 tấn, tăng 2,2% so cùng kỳ. Tính chung sản lượng thủy sản nuôi trồng và khai thác 6 tháng đầu năm 2024 ước đạt 32.631 tấn, tăng 2,9% so cùng kỳ.
8. Sản xuất công nghiệp
Tình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh 6 tháng đầu năm 2024 tăng trưởng theo hướng tích cực, quý II có mức tăng trưởng cao hơn quý I. Ngoại trừ ngành điện có tăng trưởng âm thì các ngành sản xuất chủ lực của tỉnh như: sản xuất đồ uống, sản xuất sợi, may mặc, cưa, xẻ, bào gỗ và bảo quản gỗ, sản xuất ô tô, ... vẫn duy trì được mức sản xuất tốt. Bên cạnh đó, một số dự án trọng điểm đi vào hoạt động đã bổ sung năng lực tăng thêm cho ngành công nghiệp của tỉnh. Ước tính chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 6 tháng đầu năm 2024 chỉ số IIP tăng 2,9% so với cùng kỳ, trong đó: công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,8%; cấp nước và thu gom rác thải tăng 12,1%; ngành công nghiệp khai khoáng giảm 1,4%; sản xuất và phân phối điện giảm 20,6%. Các ngành công nghiệp cấp 4 trong 6 tháng đầu năm 2024 đạt được mức tăng khá so với cùng kỳ: sản xuất các loại bánh từ bột (+48,0%); sản xuất bia và mạch nha ủ men bia (+4,4%); sản xuất sợi (+7,1%); may trang phục (+7,8%); sản xuất ô tô tăng 4,2 lần so với cùng kỳ; …Các ngành công nghiệp cấp 4 có chỉ số sản xuất giảm so với cùng kỳ: ngành sản xuất điện và phân phối điện (-20,6%); sản xuất chế biến thực phẩm (-2,0%); in ấn (-10,7%); sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic (-1,8%); sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác (-3,5%); sản xuất giường tủ, bàn ghế (-25,2%);… Các sản phẩm công nghiệp ước 6 tháng đầu năm 2024 tăng so với cùng kỳ năm trước: đá xây dựng khác 452,0 nghìn m3 (+12,9%); bánh làm từ bột khác bảo quản được 1.563,0 tấn (+48,0%); bia 165,6 triệu lít (+2,7%); sợi 54,0 nghìn tấn (+7,1%); quần áo lót 196,6 triệu cái (+7,9%); vỏ bào, dăm gỗ 373,9 nghìn tấn (+39,3%); ô tô 172 chiếc (+4,21 lần); ... Các sản phẩm công nghiệp ước 6 tháng đầu năm 2024 giảm so với cùng kỳ: đá vôi và các loại đá có chứa canxi khác, dùng để sản xuất vôi hoặc xi măng 790,8 nghìn m3 (-8,7%); tôm đông lạnh 2.309,7 tấn (-2,0%); sản phẩm in 359,0 triệu trang (-10,7%); gạch men 6,3 triệu m3 (- 7,9%); đôlômít 122,0 nghìn tấn (-4,1%); điện sản xuất 643 triệu KW (-26,4%); ...
9. Thương mại, dịch vụ
Trong 6 tháng đầu năm 2024 mặc dù chịu tác động từ tình hình kinh tế chính trị thế giới, giá xăng dầu, giá nhiên liệu, giá vàng tăng cao nhưng với sự nỗ lực của đơn vị cùng các chiến lược chính sách phục hồi và phát triển kinh tế xã hội của nhà nước cũng như của địa phương, vì vậy hoạt động thương mại dịch vụ trên địa bàn tỉnh trong 6 tháng đầu của năm 2024 đạt mức tăng trưởng khá so với cùng kỳ. Ngoài ra năm nay trên địa bàn tỉnh diễn ra nhiều sự kiện và lễ hội với nhiều hoạt động sôi nổi, hấp dẫn, mang đậm bản sắc văn hóa vùng miền, từ lễ hội Mùa Xuân “Xuân cố đô” trải dài 3 tháng đầu năm, đến dịp nghỉ lễ 30/4, 1/5 dài ngày và tháng 6 với điểm nhấn là Tuần lễ Festival Huế 2024 với chủ đề "Di sản văn hóa với hội nhập và phát triển" đã thu hút đông đảo khách du lịch trong và ngoài nước đến tham quan, mua sắm.
9.1. Bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Hoạt động bán lẻ, dịch vụ, du lịch trên địa bàn trong 6 tháng đầu năm 2024 tiếp tục phục hồi tích cực. Các chương trình kích cầu tiêu dùng, khuyến mãi vẫn diễn ra sôi động, phát triển mạng lưới kinh doanh đa nền tảng giúp tiếp cận được nhiều khách hàng và tăng doanh thu,...Tháng 6 cũng là dịp học sinh được nghỉ nghè, nhu cầu đi lại vui chơi du lịch tăng, kéo theo nhu cầu mua sắm cũng tăng lên. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 6/2024 ước đạt 4.780,9 tỷ đồng, tăng 2,3% so với tháng trước và tăng 15,4% so với cùng kỳ năm trước. Chia theo ngành kinh tế: Doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 3.408,8 tỷ đồng, chiếm 71,3% tổng số, tăng 1,5% so với tháng trước và tăng 12,6% so với cùng kỳ năm trước, nguyên nhân tăng so với tháng trước là do tháng 6 nhu cầu xây dựng tiếp tục tăng trong mùa nắng, nhu cầu mua sắm, đi lại vui chơi lễ hội và dịp hè tăng. Doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống tháng 6/2024 ước đạt 1.005,8 tỷ đồng, chiếm 21,0%, tăng 7,8% so với tháng trước và tăng 25,0% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu dịch vụ lữ hành ước đạt 32,5 tỷ đồng, chiếm 0,7%, tăng 11,5% so với tháng trước và tăng 44,0% so với cùng kỳ. Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 333,9 tỷ đồng, chiếm 7,0%, giảm 5,3% so với tháng trước và tăng 15,0% so với cùng kỳ. Đưa tổng mức bán lẻ hàng hóa doanh thu dịch vụ tiêu dùng 6 tháng đầu năm 2024 ước đạt 27.355,3 tỷ đồng, tăng 13,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 19.832,6 tỷ đồng, chiếm 72,5% tổng số và tăng 12,1%; dịch vụ lưu trú và ăn uống 5.253,6 tỷ đồng, chiếm 19,2% và tăng 14,5%; du lịch lữ hành 149,2 tỷ đồng, chiếm 0,5% và tăng 38,1%; dịch vụ khác 2.120,0 tỷ đồng, chiếm 7,7% và tăng 20,2%.
9.2. Vận tải hành khách và hàng hóa
Hoạt động vận tải 6 tháng đầu năm 2024 đạt được kết quả tích cực. Các sự kiện, hoạt động vui chơi diễn ra khá sôi nổi đã thu hút lượng lớn du khách đến Huế, qua đó thúc đẩy hoạt động vận tải hành khách phát triển. Bên cạnh đó, thời gian này nhiều dự án đầu tư xây dựng trên địa bàn tỉnh đồng loạt triển khai, nhu cầu vận tải nguyên, vật liệu, thiết bị phục vụ cho các dự án, công trình tăng mạnh làm cho hoạt động vận tải hàng hóa đạt kết quả cao so với cùng kỳ.
Dự ước hành khách vận chuyển tháng 6/2024 đạt 3,0 triệu hành khách, tăng 3,6% so với tháng trước và tăng 16,1% so với cùng kỳ năm trước; hành khách luân chuyển đạt 148,5 triệu hành khách.km, tăng 3,5% so với tháng trước và tăng 11,9% so với cùng kỳ năm trước. Đưa vận tải hành khách 6 tháng đầu năm 2024 ước đạt 17,8 triệu hành khách, tăng 17,0% so với cùng kỳ và luân chuyển ước đạt 880,4 triệu hành khách.km, tăng 12,0%. Dự ước hàng hóa vận chuyển tháng 6/2024 ước đạt 1,9 triệu tấn, tăng 2,3% so với tháng trước và tăng 15,1% so với cùng kỳ năm 2023; hàng hóa luân chuyển đạt 157,7 triệu tấn.km, tăng 2,0% so với tháng trước và tăng 12,2% so với cùng kỳ năm trước. Đưa hàng hóa vận chuyển 6 tháng năm 2024 ước đạt 11,2 triệu tấn, tăng 14,5% và luân chuyển hàng hóa đạt 918,3 triệu tấn.km, tăng 11,0% so với cùng kỳ năm trước. Dự ước doanh thu vận tải và bốc xếp tháng 6 năm 2024,0 đạt 446,3 tỷ đồng, tăng 1,8% so với tháng trước và tăng 15,2% so với cùng kỳ năm 2023. Doanh thu vận tải, bốc xếp quí II/2024 ước đạt 1.318,5 tỷ đồng, tăng 14,5% so với cùng kỳ năm trước. Đưa doanh thu vận tải, bốc xếp 6 tháng đầu năm 2024 ước đạt 2.593,2 tỷ đồng, tăng 15,8% so với cùng kỳ năm trước. Chia theo loại hình dịch vụ: doanh thu vận tải hành khách ước đạt 545,8 tỷ đồng, tăng 15,4%; vận tải hàng hóa ước đạt 1.836,7 tỷ đồng, tăng 14,5%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 196,1 tỷ đồng, tăng 32,1%; bưu chính chuyển phát ước đạt 14,6 tỷ đồng, tăng 1,7% so với cùng kỳ năm 2023. Trong đó doanh thu vận tải bao gồm: đường bộ đạt 2.380,4 tỷ đồng, tăng 14,7%; đường sông đạt 2,1 tỷ đồng, tăng 15,3%.
9.3. Lượt khách các cơ sở lưu trú phục vụ và du lịch lữ hành
Trong sáu tháng đầu năm 2024, hoạt động du lịch trong tỉnh diễn ra sôi động, khách quốc tế và trong nước đến Huế tiếp tục tăng mạnh. Những sự kiện văn hóa, thể thao và du lịch trong những tháng đầu năm 2024 đã để lại nhiều thành công và thu hút nhiều lượt khách đến Huế, đặc biệt là khai trương đoàn tàu Huế - Đà Nẵng và ngược lại với tên gọi “Kết nối di sản miền Trung” mở ra một trải nghiệm độc đáo và thú vị cho du khách khi được ngắm nhìn những cảnh đẹp tuyệt vời của miền Trung Việt Nam; Giải chạy VnExpress Marathon Imperial Huế;... Tháng 6 diễn ra Tuần lễ Festival Huế 2024 trong chuỗi Lễ hội mùa Hạ với chủ đề “Di sản văn hóa với hội nhập và phát triển” và cũng là dịp nghỉ hè của học sinh, các gia đình, cơ quan đoàn thể thường tổ chức các chương trình du lịch. Dự ước lượt khách do cơ sở lưu trú phục vụ tháng 6/2024 đạt 187,3 nghìn lượt khách, tăng 14,4% so với tháng trước và tăng 29,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, lượt khách ngủ qua đêm tháng 6/2024 ước đạt 151,4 nghìn lượt khách, tăng 17,1% so với tháng trước và tăng 31,6% so với cùng kỳ; lượt khách trong ngày đạt 36 nghìn lượt khách, tăng 4,6% so với tháng trước và tăng 22,1% so với cùng kỳ. Đưa lượt khách do các cơ sở lưu trú phục vụ sáu tháng đầu năm 2024 đạt 893,6 nghìn lượt, tăng 21,0% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, lượt khách ngủ qua đêm sáu tháng đầu năm đạt 785,8 nghìn lượt, tăng 22,6% so cùng kỳ. Trong lượt khách ngủ qua đêm, khách quốc tế 362 nghìn lượt, tăng 37,7%; khách trong nước 423,8 nghìn lượt, tăng 12,1% so với cùng kỳ. Lượt khách trong ngày sáu tháng đầu năm 2024 đạt 197,8 nghìn lượt, tăng 15,0% so với cùng kỳ. Ngày khách dự ước tháng 6/2024 đạt 253 nghìn ngày, tăng 15,03% so với tháng trước và tăng 25,79% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngày khách quốc tế đạt 95,6 nghìn ngày, tăng 3,16% so với tháng trước và tăng 66,98% so với cùng kỳ; ngày khách trong nước đạt 157,5 nghìn ngày, tăng 23,66% so với tháng trước và tăng 9,42% so với cùng kỳ. Đưa ngày khách dự ước sáu tháng đầu năm đạt 1.338,1 nghìn ngày, tăng 20,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngày khách quốc tế đạt 629,1 nghìn ngày, tăng 36%; ngày khách trong nước đạt 709 nghìn ngày, tăng 9,9%. Lượt khách phục vụ của các cơ sở lữ hành thực hiện tháng 6/2024 ước đạt 19,4 nghìn lượt, tăng 13,2% với tháng trước và tăng 19,63% so với cùng kỳ, đưa lượt khách sáu tháng đầu năm ước đạt 88,5 nghìn lượt, tăng 25,6% so với cùng kỳ. Ngày khách theo tour ước thực hiện tháng 6/2024 là 46,2 nghìn ngày, tăng 16,7% so với tháng trước và tăng 24,7% so với cùng kỳ năm trước, đưa ngày khách theo tour sáu tháng đầu năm ước đạt 188,7 nghìn ngày khách, tăng 24,4% so với cùng kỳ năm trước.
10. Các vấn đề xã hội
10.1. Lao động việc làm
Ước tính 6 tháng đầu năm 2024 toàn tỉnh đã giải quyết việc làm cho 9.105 người lao động, đạt 53,55% so với chỉ tiêu kế hoạch năm 2024, tăng 7,39% so với cùng kỳ năm 2023; trong đó đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài 1.453 người, đạt 70,87% so với kế hoạch năm. Từ đầu năm đến nay, tiếp nhận và giải quyết chính sách hỗ trợ cho 146 người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, với số tiền 322,3 triệu đồng (có 06 trường hợp thuộc hộ cận nghèo và 03 trường hợp thuộc xã bãi ngang ven biển với tổng số tiền 60,69 triệu đồng). Phối hợp với các địa phương, đơn vị tổ chức các phiên giao dịch việc làm, hội nghị thông tin, tuyên truyền, kết nối việc làm trong và ngoài nước.
10.2. Đời sống dân cư
Theo khảo sát tình hình đời sống của hộ dân cư các tháng đầu năm, đời sống của cán bộ, công chức, viên chức, công nhân và người lao động trong 6 tháng đầu năm 2024 tiếp tục ổn định và có bước cải thiện. Khu vực nông nghiệp nông thôn nhờ từng bước thực hiện thành công một số mô hình, chương trình, đề tài phục vụ sản xuất cho lao động nông thôn, tạo điều kiện để lao động nông thôn có việc làm và tăng thu nhập góp phần ổn định đời sống. Bên cạnh đó vụ đông xuân năm nay được mùa, được giá, nhờ vậy đời sống của người dân ở khu vực nông nghiệp nông thôn tiếp tục giữ được ổn định và có bước phát triển. Ước tính thu nhập bình quân đầu người/tháng trong 6 tháng đầu năm 2024 tăng 6% so với năm 2023. Đó là nhờ sự quan tâm kịp thời của lãnh đạo địa phương và các ban ngành, đoàn thể, sự quyết tâm của cộng đồng doanh nghiệp trong việc thích nghi với điều kiện sản xuất kinh doanh mới, giải quyết việc làm cho người lao động. Công tác đảm bảo an sinh xã hội được chú trọng, cơ sở hạ tầng tiếp tục được đầu tư, mở rộng, nhất là về giao thông, thủy lợi, trong đó hầu hết các địa phương đều tập trung đầu tư xây dựng nông thôn mới và tái sản xuất nông nghiệp, nhiều mô hình sản xuất trong khu vực nông thôn nông nghiệp đạt hiệu quả khá.
10.3. Chính sách xã hội
Chính sách người có công: Các chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng được thực hiện kịp thời và đầy đủ; các hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa”, “Uống nước nhớ nguồn” được quan tâm; phối hợp, tham mưu, hướng dẫn, tổ chức công tác thăm hỏi, tặng quà người có công nhân dịp Tết Nguyên đán Giáp Thìn 2024. Có 62.264 suất quà của các cấp được trao tặng đến người có công và gia đình người có công với tổng kinh phí hơn 18,3 tỷ đồng. Bảo trợ xã hội: Công tác bảo trợ xã hội được chính quyền địa phương và các ngành quan tâm thực hiện. Trị giá tiền, quà thăm hỏi và các hỗ trợ cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn là 17,9 tỷ đồng. Các chính sách giảm nghèo được triển khai thực hiện kịp thời, một số chính sách an sinh xã hội như: chính sách giáo dục, đào tạo, dạy nghề; chính sách y tế (mua thẻ BHYT cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, người thuộc hộ cận nghèo…). Trị giá tiền, quà, hỗ trợ cho các đối tượng bảo trợ xã hội theo Nghị định 20/2021/NĐ-CP là 118,9 tỷ đồng. Số thẻ bảo hiểm y tế được ngân sách nhà nước đóng 100% (miễn phí hoàn toàn) quý I/2024 là 343.422 thẻ. Công tác giảm nghèo: Ngày 30/12/2023, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 3204/QĐ-UBND phê duyệt kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn toàn tỉnh năm 2023 theo chuẩn đa chiều giai đoạn 2022-2025, tổng số hộ nghèo toàn tỉnh 7.540 hộ, chiếm tỷ lệ 2,27%; tổng số hộ cận nghèo 9.002 hộ, chiếm tỷ lệ 2,71%. UBND tỉnh chỉ đạo các ngành, địa phương tập trung thực hiện các giải pháp, đồng bộ có hiệu quả chương trình, dự án giảm nghèo; lồng ghép chính sách và nguồn lực có hiệu quả để phát triển kinh tế, thoát nghèo. Năm 2024 phấn đấu tỷ lệ hộ nghèo chung toàn tỉnh giảm còn dưới 1,76%.
10.4. Giáo dục và đào tạo
Năm học 2023-2024, ngành giáo dục toàn tỉnh tiếp tục hoàn thiện quy mô mạng lưới giáo dục theo hướng tinh gọn, tập trung, đồng bộ, hiện đại, chuẩn hóa và tăng cường xã hội hóa; phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế xã hội địa phương và điều kiện đi lại học tập của học sinh, toàn tỉnh hiện có 568 trường mầm non và phổ thông (trường Mầm non: 207; trường Tiểu học: 192; trường THCS, TH&THCS: 130; trường THPT, THCS&THPT, TH, THCS&THPT: 39); có 09 Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên cấp huyện và 01 trung tâm Giáo dục thường xuyên cấp tỉnh.
Đã tổ chức thi và công nhận 1.194 học sinh đạt giải trong Kỳ thi chọn học sinh giỏi lớp 12 THPT cấp tỉnh năm học 2023-2024, gồm: 35 giải Nhất, 188 giải Nhì, 421 giải Ba và 550 giải Khuyến khích. Chiều ngày 07/5, tổ chức trao thưởng cho học sinh đoạt giải cao trong kỳ thi học sinh giỏi cấp quốc gia năm học 2023-2024 với tổng trị giá 148 triệu đồng. Toàn tỉnh có 74 học sinh đạt giải, gồm: 3 giải Nhất, 20 giải Nhì, 22 giải Ba và 29 giải khuyến khích.
Ngày hội Khởi nghiệp Quốc gia của học sinh, sinh viên lần thứ VI được tổ chức vào ngày 12 và 13/5 tại Cần Thơ. Thừa Thiên Huế đạt 2 giải Ba. Với mục đích thúc đẩy sự tham gia của các cơ sở giáo dục và hỗ trợ khởi nghiệp cho học sinh, sinh viên, đồng thời khơi dậy tinh thần khởi nghiệp, giúp HSSV thay đổi tư duy, nhận thức, tạo môi trường học đi đôi với hành. Ngày 3/6, Sở GD&ĐT tổ chức kỳ khảo sát, đánh giá năng lực học sinh dự tuyển vào trường THCS Nguyễn Tri Phương năm học 2024-2025. Có 1.575 học sinh dự tuyển tại 3 hội đồng thi gồm 67 phòng thi. Chỉ tiêu tuyển sinh của trường là 360 em. Phương thức tuyển sinh kết hợp xét tuyển với kiểm tra, đánh giá năng lực học sinh. Kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 năm học 2024-2025 diễn ra từ ngày 2 đến 4/6. Toàn tỉnh có 16.183 học sinh đăng ký thi tuyển với 13.826 chỉ tiêu vào lớp 10. Số thí sinh thi vào trường THPT chuyên Quốc Học là 2.411 em cạnh tranh 450 chỉ tiêu; trong đó có 102 thí sinh ngoại tỉnh. Kỳ thi năm nay cơ bản giữ ổn định như năm trước. Riêng huyện Nam Đông và A Lưới bỏ hình thức xét tuyển như năm ngoái và tổ chức thi tuyển. Chiều 8/6, tổ chức lễ khai mạc CLB Văn – Toán Tuổi thơ toàn quốc năm 2024, thu hút 26 đoàn với 440 thí sinh đến từ 17 tỉnh, thành tham gia.
*Giáo dục nghề nghiệp: Từ đầu năm đến nay, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh đã tuyển sinh 4.098 người (đạt 24,1 % so với chỉ tiêu kế hoạch năm), trong đó chủ yếu là trình độ sơ cấp và các chương trình đào tạo nghề khác. Số học sinh đã tốt nghiệp 3.660 người (cao đẳng, trung cấp: 850 người, sơ cấp và các chương trình đào tạo nghề khác 2.810 người).
10.5. Tình hình y tế, dịch bệnh
Tháng 05/2024, trên địa bàn có 126 ca sốt xuất huyết, tăng 114 ca so cùng kỳ năm 2023; có 25 ca mắc tay chân miệng, tăng 25 ca so với cùng kỳ năm 2023; không có ca mắc sốt rét, viêm gan siêu trùng, viêm não vi rút, thương hàn, liên cầu lợn bằng cùng kỳ năm 2023. Năm tháng đầu năm, trên địa bàn có 349 ca sốt xuất huyết, tăng 265 ca so cùng kỳ năm 2023, có 1 ca tử vong tăng 1 ca so với cùng kỳ; có 59 ca mắc tay chân miệng, tăng 56 ca so với cùng kỳ năm 2023; không có ca mắc sốt rét, viêm gan siêu trùng, viêm não vi rút, thương hàn, liên cầu lợn bằng cùng kỳ năm 2023. Tình hình nhiễm HIV/AIDS: Tháng 5/2024, qua kiểm tra sàng lọc trên địa bàn tỉnh đã phát hiện 8 ca nhiễm mới HIV, giảm 7 ca so cùng kỳ năm 2023; có 4 ca chuyển qua AIDS, tăng 4 ca so cùng kỳ năm 2023; không có ca tử vong, bằng cùng kỳ năm 2023. Năm tháng đầu năm, toàn tỉnh có 35 ca nhiễm mới HIV, giảm 11 ca so cùng kỳ năm 2023; có 11 ca chuyển qua AIDS, tăng 7 ca so cùng kỳ năm 2023; có 2 ca tử vong, bằng cùng kỳ năm 2023. Hiện tại, trên địa bàn tỉnh có 546 bệnh nhân đang được quản lý và điều trị tại các cơ sở y tế, trong đó có 540 bệnh nhân điều trị ARV. Tình hình ngộ độc thực phẩm: Tháng 5/2024 trên địa bàn xảy ra 2 vụ ngộ độc, tăng 2 vụ so cùng kỳ năm 2023, làm 10 người bị ngộ độc, không có người tử vong. Năm tháng đầu năm 2024, trên địa bàn xảy ra 3 vụ ngộ độc thực phẩm, tăng 2 vụ so cùng kỳ năm 2023, làm 30 người bị ngộ độc, không có người tử vong.
10.6. Hoạt động văn hóa, thể thao
Tối 31/5, khai mạc Hội thao truyền thống lần thứ XVI năm 2024. Diễn ra từ ngày 31/5 đến 2/6 quy tụ gần 260 VĐV đến từ 41 công đoàn cơ sở trực thuộc CĐVC tỉnh. Đây là hoạt động ý nghĩa nhằm hưởng ứng “Tháng công nhân” năm 2024, góp phần tạo không khí thi đua sôi nổi, tăng cường tinh thần giao lưu học hỏi, duy trì phong trào thể dục, thể thao. Chiều 6/6, tổ chức hội nghị tổng kết Hội khỏe Phù Đổng cấp tỉnh năm 2024. Tổng số VĐV tham gia gồm 2.315 VĐV chia làm 2 khối: Khối phòng GD&ĐT và trường THCS trực thuộc, khối trường THPT. Các VĐV tham gia thi đấu 8 môn thi: Bóng bàn, bóng đá, bóng rổ, cầu lông, đá cầu, cờ vua, điền kinh và bơi. Ban tổ chức khen thưởng 87 tập thể và 841 học sinh đã đạt giải cao. Tuần lễ Festival nghệ thuật Quốc tế Huế 2024 với chủ đề “Di sản văn hóa với hội nhập và phát triển” diễn ra từ 7/6 đến 12/6/2024. Quy tụ hơn 20 đoàn nghệ thuật với 565 các nghệ sĩ, nhạc sĩ, ca sĩ, diễn viên trong nước và quốc tế; đem đến cho người xem những trải nghiệm mới lạ, độc đáo về văn hóa, lịch sử và nghệ thuật, là nơi hội tụ những chương trình biểu diễn hấp dẫn. Với 12 chương trình chính, 24 buổi biểu diễn nghệ thuật và gần 10 hoạt động hưởng ứng, đồng hành, trưng bày, triển lãm diễn ra thu hú rất đông khán giả trong nước và quốc tế tham gia.
10.7. Tai nạn giao thông
Từ 15/5/2024 đến 14/6/2024, trên địa bàn tỉnh xảy ra 20 vụ tai nạn và va chạm giao thông đường bộ, tăng 10 vụ so với cùng kỳ năm trước; làm chết 11 người, tăng 6 người; bị thương 12 người, bằng cùng kỳ. Tai nạn đường sắt không xảy ra, giảm 1 vụ so với cùng kỳ năm trước. Tai nạn đường thủy không xảy ra, không tăng giảm so cùng kỳ. Tính từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 155 vụ tai nạn và va chạm giao thông đường bộ, tăng 81 vụ so với cùng kỳ năm trước; làm chết 67 người, tăng 23 người; bị thương 117 người, tăng 63 người. Tai nạn đường sắt xảy ra 2 vụ, bằng cùng kỳ; làm chết 2 người, bằng cùng kỳ; không có người bị thương, bằng cùng kỳ. Tai nạn đường thủy không xảy ra, không tăng giảm so cùng kỳ.
10.8. Tình hình cháy nổ và bảo vệ môi trường
Từ ngày 15/5/2024 đến ngày 14/6/2024 trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế xảy ra 4 vụ cháy, tăng 3 vụ so cùng kỳ năm 2023, tăng 2 vụ so với tháng trước. Cụ thể 2 vụ cháy rừng, thiệt hại không đáng kể; 2 vụ cháy nhà dân nguyên nhân do chập điện, giá trị thiệt hại ước khoảng 240 triệu. Sáu tháng đầu năm, trên địa bàn tỉnh xảy ra 10 vụ cháy, tăng 4 vụ so cùng kỳ năm 2023; không có thiệt hại về người, giá trị thiệt hại 1,785 tỷ đồng. Từ ngày 15/5/2024 đến ngày 14/6/2024 trên địa bàn tỉnh đã phát hiện 15 vụ vi phạm môi trường, tăng 4 vụ so với cùng kỳ năm 2023, giảm 4 vụ so với tháng trước. Trong đó thành phố Huế 3 vụ, thị xã Hương Trà 1 vụ, huyện Phú Lộc 4 vụ, huyện Quảng Điền 3 vụ, huyện A Lưới 4 vụ. Các hình thức vi phạm bao gồm: 1 vụ hủy hoại nguồn lợi thủy sản, 2 vụ vận chuyển khoáng sản không rõ nguồn gốc, 2 vụ phá rừng, 2 vụ chậm ký quỹ cải tạo phục hồi môi trường, 1 vụ vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm, 2 vụ vận chuyển lâm sản trái phép, 1 vụ kinh doanh thực phẩm không rõ nguồn gốc, 1 vụ đổ nước thải không đúng quy định, 3 vụ sử dụng kích điện khai thác thủy sản; các ngành chức năng đã tiến hành xử lý 10 vụ với số tiền xử phạt 34,9 triệu đồng. Sáu tháng đầu năm, trên địa bàn tỉnh xảy ra 130 vụ vi phạm môi trường, tăng 37 vụ so với cùng kỳ năm 2023; tiến hành xử lý 119 vụ với tổng số tiền 702,1 triệu đồng.
10.9. Thiệt hại do thiên tai
Từ 19/5/2024 đến 18/6/2024, trên địa bàn tỉnh xảy ra 1 vụ thiên tai, giảm 1 vụ so cùng kỳ năm 2023, giảm 1 vụ so với tháng trước. Cụ thể 1 vụ mưa vừa, mưa to trên diện rộng; làm 1.038ha lúa và 5ha nuôi tôm bị thiệt hại; giá trị thiệt hại ước khoảng 1,771 tỷ đồng. Sáu tháng đầu năm trên địa bàn tỉnh xảy ra 5 vụ thiên tai, tăng 1 vụ so với cùng kỳ năm 2023; giá trị thiệt hại ước khoảng 3,1 tỷ đồng, chính quyền các cấp đã hỗ trợ 18 triệu đồng.
CỤC THỐNG KÊ THỪA THIÊN HUẾ
Tin khác