0234 3828125 | Tphue@nso.gov.vn

BÁO CÁO TÌNH HÌNH KINH TẾ – XÃ HỘI THÁNG 8 VÀ 8 THÁNG ĐẦU NĂM 2024

05/09/2024 16:06

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

1.1. Nông nghiệp

Vụ Hè thu năm 2024, diện tích gieo trồng cây lúa ước đạt 25.347 ha, tăng 0,5% so với cùng kỳ năm trước. Cây lúa sinh trưởng tốt, sâu bệnh chỉ xuất hiện rải rác ở mật độ thấp. Đến cuối tháng 8, giai đoạn hạt chín và người dân đang tiến hành thu hoạch đại trà, dự kiến năng suất vụ hè thu năm nay đạt 61,4 tạ/ha, tăng 2,1 tạ/ha so với vụ hè thu năm 2023.

Cây hàng năm khác: diện tích nhiều loại cây có xu hướng giảm, nguyên nhân chủ yếu do diện tích manh mún nhỏ lẻ, tình hình thời tiết và sâu bệnh diễn biến ngày càng phức tạp, dẫn đến năng suất thấp, hiệu quả kinh tế không cao. Ngoài ra do chuyển mục đích sử dụng sang đất ở, quá trình đô thị hóa đã góp phần làm cho diện tích trồng cây hàng năm khác ngày càng giảm. Diện tích gieo trồng một số cây hằng năm chủ yếu tính đến cuối tháng 8 năm 2024 như sau: Ngô ước đạt 1.373 ha, giảm 0,9%; Khoai lang ước đạt 589 ha, giảm 4,7%; Lạc ước đạt 2.243 ha, giảm 4,7%; Rau các loại ước đạt 4.144 ha, tăng 1,0%; Đậu các loại ước đạt 875 ha, giảm 3,8% so với cùng kỳ.

Chăn nuôi

Thời tiết khí hậu trong tháng thuận lợi, dịch bệnh trên đàn gia súc kiểm soát, công tác kiểm dịch, kiểm soát giết mổ, kiểm tra vệ sinh thú y được tăng cường nhằm đảm bảo cung cấp thực phẩm an toàn cho người tiêu dùng. Thời điểm 31/8/2024 tổng đàn trâu toàn tỉnh ước đạt 15.258 con, giảm 0,4%; đàn bò 29.036 con, tăng 2,6%; đàn lợn thời điểm 31/8/2024 ước đạt 155.288 con, tăng 0,9% so với cùng kỳ.

Công tác vệ sinh môi trường chăn nuôi tiếp tục cải thiện, việc tổ chức triển khai phòng dịch được chú trọng, đồng thời ý thức phòng bệnh cho đàn gia cầm của các cơ sở chăn nuôi ngày càng được nâng cao. Tổng đàn gia cầm thời điểm 31/8/2024 ước đạt 4.912 nghìn con tăng 1,9% so với cùng kỳ. Trong đó: Đàn gà có 3.602 nghìn con, tăng 1,7% so với cùng kỳ năm 2023.

Trên địa bàn tỉnh tiếp tục triển khai công tác tiêm phòng các loại vắc xin cho gia súc, gia cầm. Toàn tỉnh đã tiêm phòng được 1.480 liều THT trâu bò (15%, tăng 10% so với tuần trước), 9.619 liều tam liên (22%, tăng 9%), 730 liều E.coli (8%, tăng 7%), 97.800 liều CGC (25%, tăng 12%), 92.600 liều DTV (23%, tăng 13%), 17.020 liều vắc xin Newcastle (6%), 1.710 liều THT gia cầm (11%, tăng 6), 4.450 liều Đậu gà (8%, tăng 2%), 7.820 liều Gumboro (5%, tăng 4%); LMLM lợn trang trại: 1.335 liều, 8.561 liều VDNC.

1.2. Lâm nghiệp

Sản lượng gỗ khai thác trong tháng 8/2024 ước đạt 55.080 m3 gỗ, tăng 1,6% so với cùng, toàn bộ gỗ được khai thác từ rừng trồng. Sản lượng củi khai thác tháng 8/2024 ước đạt 8.310 ste, giảm 3,8%. Luỹ kế sản lượng gỗ khai thác 8 tháng năm 2024 ước đạt 513.420 m3 gỗ, tăng 11,7% so với cùng kỳ. Sản lượng củi khai thác 8 tháng năm 2024 đạt 68.085 ste, giảm 1,7%.

Trong tháng 8 xảy ra 1 vụ phá rừng để làm nương rẫy, với diện tích 0,05 ha. Tính chung 8 tháng năm 2024, số vụ phá rừng 18 vụ, tăng 8 vụ so với cùng kỳ; diện tích rừng bị phá 1,9 ha, giảm 4,3 ha so với cùng kỳ năm trước.

1.3. Thủy sản

Tình hình nuôi trồng thủy sản: diện tích nuôi trồng thủy sản tháng 8/2024 ước đạt 1.073 ha, tăng 1,3% so với cùng kỳ. Bao gồm, diện tích nuôi nước ngọt 273 ha, giảm 0,7% so với cùng kỳ; diện tích nuôi nước lợ 800 ha, tăng 2,0%, trong đó: nuôi cá 274 ha, tăng 2,2%; nuôi tôm 283 ha, tăng 2,5%; nuôi các loại thủy sản khác 243 ha, tăng 1,3%. Lũy kế tổng diện tích nuôi trồng thủy sản 8 tháng đầu năm 2024 ước đạt 5.609 ha, tăng 1,3% so với cùng kỳ. Bao gồm, diện tích nuôi nước ngọt 1.475 ha, giảm 0,7%; diện tích nuôi nước lợ 4.134 ha, tăng 2,1%, trong đó: nuôi cá 1.449 ha, tăng 1,8%; nuôi tôm 1.788 ha, tăng 2,7%; nuôi các loại thủy sản khác 890 ha, tăng 1,3%, ươm nuôi; nuôi giống thủy sản 7 ha, bằng so với cùng kỳ.

Về sản xuất giống thủy sản, trong tháng 8/2024 sản xuất giống trên địa bàn tỉnh ước đạt 11,1 triệu con, tăng 2,8% so với cùng kỳ, trong đó: tôm sú giống 3,6 triệu con, tăng 2,9%; cá giống 7,5 triệu con, tăng 2,7% so với cùng kỳ, chủ yếu cung cấp giống cho các cơ sở nuôi trên địa bàn tỉnh. Lũy kế số giống sản xuất được 8 tháng đầu năm 2024 ước đạt 173,7 triệu con, tăng 1,6% so với cùng kỳ, trong đó: tôm sú giống 100 triệu con, tăng 1,5%; cá giống các loại 71,7 triệu con, tăng 1,8%; cua, ếch giống 2 triệu con, bằng so với cùng kỳ.

Sản lượng thủy sản nuôi trồng thu hoạch tháng 8/2024 ước đạt 2.635 tấn, tăng 4,4% so với cùng kỳ, trong đó sản lượng cá các loại 1.473 tấn, tăng 4,5%; tôm các loại 905 tấn, tăng 5%; thủy sản khác 257 tấn, tăng 2,4%. Tính chung sản lượng thủy sản nuôi trồng 8 tháng đầu năm 2024 ước đạt 14.620 tấn, tăng 4,9% so với cùng kỳ, trong đó sản lượng cá các loại 8.050 tấn, tăng 5,2%; tôm các loại 5.615 tấn, tăng 4,8%; thủy sản khác 955 tấn, tăng 2,9%. 

Tình hình khai thác thủy sản: sản lượng thủy sản khai thác tháng 8/2024 ước đạt 4.073 tấn, tăng 2,6% so với cùng kỳ, trong đó khai thác biển 3.725 tấn, tăng 2,9%; khai thác nội địa 348 tấn, giảm 0,6%. Lũy kế sản lượng thủy sản khai thác 8 tháng đầu năm 2024 ước đạt 32.584 tấn, tăng 2,3% so với cùng kỳ, trong đó khai thác biển 30.085 tấn, tăng 2,6%; khai thác nội địa 2.499 tấn, giảm 0,6%.

Tính chung sản lượng thủy sản nuôi trồng và khai thác 8 tháng đầu năm 2024 ước đạt 47.204 tấn, tăng 3,1% so với cùng kỳ.

2. Sản xuất công nghiệp

Tính chung chỉ số IIP 8 tháng đầu năm tăng 3,98% so với cùng kỳ 2023, trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,29%; cấp nước và thu gom rác thải tăng 10,38%; công nghiệp khai khoáng giảm 0,01%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt giảm 7,76%.

 Các ngành công nghiệp cấp 4 trong 8 tháng đầu năm 2024 có chỉ số sản xuất ước tăng so với cùng kỳ như: sản xuất các loại bánh từ bột (+36,9%); sản xuất bia và mạch nha ủ men bia (+3,3%); sản xuất sợi (+1,5%); may trang phục (6,9%); cưa, xẻ, bào gỗ và bảo quản gỗ (+25,4%); sản xuất xe có động cơ có chỉ số tăng 13,5 lần so với cùng kỳ,...

 Bên cạnh, tăng trưởng các ngành sản xuất chủ lực, một số ngành sản xuất công nghiệp vẫn đang gặp nhiều khó khăn. Hiện tượng El Nino xuất hiện vào nửa cuối mùa hè năm 2023 vẫn duy trì đến nay, làm cho các nhà máy thủy điện trên địa bàn tỉnh thiếu nước để hoạt động nên ngành sản xuất điện có chỉ số giảm mạnh (-7,8%). Chính sách thắt chặt tiền tệ ở nhiều quốc gia làm suy giảm nhu cầu tiêu dùng, dẫn đến nhiều đơn hàng sản xuất của doanh nghiệp bị cắt giảm như: chế biến, bảo quản thuỷ sản và các sản phẩm từ thuỷ sản (-8,0%); sản xuất vật liệu xây dựng từ đất sét (-5,6%); sản xuất xi măng, vôi, thạch cao (-8,2%); sản xuất giường tủ, bàn ghế (-23,3%)…

Các sản phẩm công nghiệp 8 tháng đầu năm 2024 ước tăng so với cùng kỳ như sau: đá xây dựng khác 667,3 nghìn m3 (+13,0%); bánh làm từ bột khác bảo quản được 2.180 tấn (+36,9%); bia 231,2 triệu lít (+2,1%); sợi 79,1 nghìn tấn (+1,5%); quần áo lót 254,8 triệu cái (+6,9%); vỏ bào, dăm gỗ 535 nghìn tấn (+25,4%); ô tô 487 chiếc (+9,1 lần)...

 Các sản phẩm công nghiệp ước giảm so với cùng kỳ: đá vôi và các loại đá có chứa canxi khác, dùng để sản xuất vôi hoặc xi măng 1.081 nghìn m3 (-5,9%), tôm đông lạnh 3.430 tấn (-8,0%); sản phẩm in 475 triệu trang (-8,2%), gạch men 8,9 triệu m2 (-5,6%); xi măng 1.052 nghìn tấn (-9,7%); clanhke xi măng 1.077 nghìn tấn (-17,5%); điện sản xuất 893,5 triệu KW (-13,3%)...

3. Vốn đầu tư

Tổng vốn đầu tư thực hiện theo giá hiện hành trên địa bàn 8 tháng đầu năm 2024 ước đạt 20.416,6 tỷ đồng, bằng 59,9% KH năm, tăng 9,5% so với cùng kỳ năm trước. Bao gồm, vốn do Trung ương quản lý 2.820 tỷ đồng, bằng 37,7% KH, tăng 13,1% so cùng kỳ, chiếm 13,8% tổng vốn; vốn do Địa phương quản lý 17.596,6 tỷ đồng, bằng 66,1% KH, tăng 9% so với cùng kì, chiếm 86,2% tổng nguồn vốn. Trong đó, vốn thuộc ngân sách Nhà nước ước đạt 4.346,68 tỷ đồng, bằng 44,7% KH, tăng 0,8% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 21,3% tổng vốn. Nguồn vốn tín dụng 5.105,7 tỷ đồng, bằng 48,4% KH, tăng 5,3%, chiếm 25,0%; vốn đầu tư của doanh nghiệp 2.129,3 tỷ đồng, bằng 60% KH, tăng 15,3%, chiếm 10,4%; vốn đầu tư của dân 5.105,6 tỷ đồng, bằng 95,2% KH, tăng 15,5%, chiếm 27,0%; vốn viện trợ 555 tỷ đồng, bằng 56,9% KH, tăng 9,9%, chiếm 2,7%; vốn đầu tư nước ngoài 2.760 tỷ đồng, bằng 78,9% KH, tăng 17,6%, chiếm 13,5%.

Trong tháng 8 năm 2024, trên địa bàn tỉnh, có 1 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký mới với tổng số vốn đăng ký 1,1 triệu USD. Lũy kế từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh có 9 dự án FDI đăng ký mới với tổng số vốn đăng ký 34,3 triệu USD.

4. Thương mại, dịch vụ và giá cả

4.1. Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 8/2024 ước đạt 5.073,5 tỷ đồng, tăng 2,8% so với tháng trước và tăng 12,3% so với cùng kỳ. Chia theo ngành kinh tế: Bán lẻ hàng hóa ước đạt 3.453,5 tỷ đồng, chiếm 68,1% trong tổng số, tăng 0,6% so với tháng trước và tăng 11,9% so với cùng kỳ. Doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống tháng 8 ước đạt 1.112,6 tỷ đồng, chiếm 21,9%, tăng 4,1% so với tháng trước và tăng 31,0% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ lữ hành đạt 37,9 tỷ đồng, chiếm 0,7%, tăng 7,5% so với tháng trước và tăng 9,4% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ khác đạt 469,5 tỷ đồng, chiếm 9,3%, tăng 18,4% so tháng trước và tăng 36,1% so với cùng kỳ.

Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 8 tháng đầu năm 2024 đạt 37.352,6 tỷ đồng, tăng 15,7% so với cùng kỳ, trong đó doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 26.717,6 tỷ đồng, chiếm 71,5% tổng số và tăng 12,1%; dịch vụ lưu trú và ăn uống đạt 7.426,7 tỷ đồng, chiếm 19,9% và tăng 18,2%; dịch vụ lữ hành đạt 223,3 tỷ đồng, chiếm 0,6% và tăng 27,8%; dịch vụ khác đạt 2.985,1 tỷ đồng, chiếm 8,0% và tăng 23,7%.

4.2. Vận tải hành khách và hàng hóa     

Dự ước hành khách vận chuyển tháng 8 năm 2024 đạt 3,1 triệu hành khách, giảm 0,4% so với tháng trước và tăng 15,3% so với cùng kỳ; hành khách luân chuyển đạt 151,0 triệu hành khách.km, giảm 0,5% so với tháng trước và tăng 11,9% so với cùng kỳ. Tính chung 8 tháng đầu năm 2024, vận tải hành khách ước đạt 24,0 triệu hành khách, tăng 16,9% so với cùng kỳ và luân chuyển ước đạt 1.183,3 triệu hành khách.km, tăng 12,1% so với cùng kỳ.

Dự ước hàng hóa vận chuyển tháng 8 năm 2024 ước đạt 2,0 triệu tấn, tăng 1,5% so với tháng trước và tăng 14,5% so với cùng kỳ; hàng hóa luân chuyển đạt 162,3 triệu tấn.km, tăng 1,5% và tăng 12,8%. Tính chung 8 tháng đầu năm 2024, vận tải hàng hóa ước đạt 15,0 triệu tấn, tăng 14,6% so với cùng kỳ và luân chuyển ước đạt 1.240,4 triệu tấn.km, tăng 11,4%.

Dự ước doanh thu vận tải, kho bãi và bưu chính chuyển phát tháng 8/2024 đạt 454,8 tỷ đồng, tăng 0,8% so với tháng trước và tăng 14,4% so với cùng kỳ. Đưa doanh thu vận tải, bốc xếp 8 tháng đầu năm 2024 ước đạt 3.498,3 tỷ đồng, tăng 15,6% so với cùng kỳ. Chia theo loại hình dịch vụ: doanh thu vận tải hành khách ước đạt 735,3 tỷ đồng, tăng 15,4%; vận tải hàng hóa ước đạt 2.480,9 tỷ đồng, tăng 14,2%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 261,8 tỷ đồng, tăng 31,6%; bưu chính chuyển phát ước đạt 20,4 tỷ đồng, tăng 4,3% so với cùng kỳ. Phân theo ngành, doanh thu vận tải bao gồm: doanh thu vận tải bao gồm: đường bộ đạt 3.213,1 tỷ đồng, tăng 14,5%; đường sông đạt 3,1 tỷ đồng, tăng 17,8%.

4.3. Lượt khách các cơ sở lưu trú phục vụ và du lịch lữ hành

Dự ước lượt khách do cơ sở lưu trú phục vụ tháng 8/2024 đạt 212,2 nghìn lượt khách, tăng 4,2% so với tháng trước và tăng 24,1% so với cùng kỳ. Trong đó, lượt khách ngủ qua đêm tháng 8/2024 ước đạt 172,5 nghìn lượt khách, tăng 5,2% so với tháng trước và tăng 25,6% so với cùng kỳ; lượt khách trong ngày đạt 39,7 nghìn lượt khách, tăng 0,3% so với tháng trước và tăng 17,8% so với cùng kỳ. Đưa lượt khách do các cơ sở lưu trú phục vụ 8 tháng đầu năm 2024 đạt 1.397 nghìn lượt, tăng 21,0% so với cùng kỳ. Trong đó, lượt khách ngủ qua đêm 8 tháng đầu năm đạt 1.120,6 nghìn lượt, tăng 25,6% so với cùng kỳ. Trong lượt khách ngủ qua đêm, khách quốc tế 440,3 nghìn lượt, tăng 25,7%; khách trong nước 680,4 nghìn lượt, tăng 20,3% so với cùng kỳ. Lượt khách trong ngày 8 tháng đầu năm 2024 đạt 276,4 nghìn lượt, tăng 15,9% so với cùng kỳ.

Ngày khách dự ước cả tháng 8/2024 đạt 289,8 nghìn ngày, tăng 4,1% so với tháng trước và tăng 22,7% so với cùng kỳ. Trong đó: Ngày khách quốc tế đạt 86,5 nghìn ngày, tăng 6,7% so với tháng trước và tăng 6,7% so với cùng kỳ; ngày khách trong nước đạt 203,3 nghìn ngày, tăng 3,0% so với tháng trước và tăng 31,1% so với cùng kỳ. Đưa ngày khách dự ước 8 tháng đầu năm đạt 1.904,1 nghìn ngày, tăng 20,5% so với cùng kỳ. Trong đó: Ngày khách quốc tế đạt 781,4 nghìn ngày, tăng 26,3%; ngày khách trong nước đạt 1.122,7 nghìn ngày, tăng 14,4% so với cùng kỳ.

Lượt khách phục vụ của các cơ sở lữ hành thực hiện tháng 8/2024 ước đạt 26,5 nghìn lượt, tăng 5,2% với tháng trước và tăng 13,9% so với cùng kỳ; đưa lượt khách tám tháng đầu năm ước đạt 143,9 nghìn lượt, tăng 25,0% so với cùng kỳ. Ngày khách theo tour ước thực hiện tháng 8/2024 là 48,6 nghìn ngày, tăng 3,3% so với tháng trước và tăng 16,2% so với cùng kỳ. Đưa ngày khách theo tour 8 tháng đầu năm ước đạt 284,5 nghìn ngày khách, tăng 18,8% so với cùng kỳ.

4.4. Giá cả 

- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)

Chỉ số giá tiêu dùng chung toàn tỉnh tháng 8/2024 giảm 0,16% so với tháng trước. Nguyên nhân giảm chủ yếu là do tập đoàn Petrolimex điều chỉnh tăng giá xăng dầu trong tháng 8, làm cho giá nhiên liệu giảm. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính, có 3 nhóm hàng hóa có chỉ số giảm so với tháng trước: hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,11%; đồ uống và thuốc lá giảm 0,01%; giao thông giảm 2,20%. 05 nhóm có chỉ số giá tăng: may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,16%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,48%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,07%; giáo dục tăng 0,01%; hàng hoá và dịch vụ khác tăng 0,03%. Các nhóm thuốc và dịch vụ y tế; bưu chính viễn thông; văn hoá, giải trí và du lịch bình ổn so với tháng trước.

Chỉ số giá tiêu dùng chung toàn tỉnh tháng 8/2024 tăng 1,80% so với tháng 12 năm trước và tăng 3,19% so với cùng kỳ. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 8 tháng đầu năm 2024 tăng 4,11% so với bình quân cùng kỳ, nguyên nhân là do một số nhóm hàng hóa và dịch vụ tăng khá như: hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 5,15%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 8,27%; giao thông tăng 6,22%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 5,35%.

- Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ

Chỉ số giá vàng tháng 8/2024 tăng 1,50% so với tháng trước, tăng 25,28% so với tháng 12 năm trước và tăng 35,98% so với cùng kỳ. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 8/2024 giảm 0,74% so với tháng trước, tăng 3,46% so với tháng 12 năm trước và tăng 5,69% so với cùng kỳ.

5. Tài chính, ngân hàng

5.1. Tài chính

Tổng thu ngân sách trên địa bàn 8 tháng năm 2024 ước đạt 7.753,4 tỷ đồng, bằng 65,8% dự toán năm. Trong đó: Thu nội địa ước đạt 7.009,5 tỷ đồng, bằng 62,8% dự toán; thu thuế từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 734,4 tỷ đồng, bằng 118,5% dự toán. Trong thu nội địa: Thu doanh nghiệp Nhà nước ước đạt 277 tỷ đồng, bằng 60,2% dự toán; thu doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 2.800 tỷ đồng, bằng 73,0% dự toán; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 1.200 tỷ đồng, bằng 74,6% dự toán; thuế thu nhập cá nhân 453 tỷ đồng, bằng 90,6% dự toán; thuế bảo vệ môi trường 260 tỷ đồng, bằng 70,3% dự toán.

Tổng chi ngân sách địa phương 8 tháng ước đạt 8.652,8 tỷ đồng, bằng 54,1% dự toán, trong đó chi đầu tư phát triển 2.904,3 tỷ đồng, bằng 49,1% dự toán; chi thường xuyên 5.468 tỷ đồng, bằng 63,2% dự toán; bao gồm: chi sự nghiệp kinh tế 500,4 tỷ đồng, bằng 46,7% dự toán; chi sự nghiệp giáo dục đào tạo 2.451,6 tỷ đồng, bằng 63,4% dự toán; chi sự nghiệp y tế 399,1 tỷ đồng, bằng 62,1% dự toán; chi quản lý Nhà nước 1.162,8 tỷ đồng, bằng 72,2% dự toán.

5.2. Ngân hàng

Tổng nguồn vốn huy động đến cuối tháng 8 năm 2024 ước đạt 73,5 nghìn tỷ đồng, tăng 5,6% so với so với đầu năm; tổng dư nợ tín dụng ước đạt 79,6 nghìn tỷ đồng, tăng 2,4% so với đầu năm.

NHNN tỉnh tiếp tục giám sát chặt chẽ việc tuân thủ các quy định của NHNN VN về lãi suất, trong đó đã chỉ đạo các TCTD trên địa bàn thực hiện tiết giảm chi phí để giảm lãi suất cho vay, hỗ trợ nền kinh tế địa phương.

Lãi suất huy động bằng VND tại các TCTD trên địa bàn: đang áp dụng ở mức tối đa 0,5%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn hoặc có kỳ hạn dưới 1 tháng, kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng ở mức tối đa 4%/năm theo quy định của NHNN Việt Nam. Đối với kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng, dao động trong mức 4%-5,5%/năm. Đối với kỳ hạn từ 12 tháng trở lên dao động trong khoảng 5%/năm đến 6%/năm (bao gồm lãi suất online).

Lãi suất cho vay bằng VND: Lãi suất cho vay bằng VNĐ đối với các lĩnh vực ưu tiên tối đa 4,0%/năm đối với ngắn hạn. Lãi suất cho vay các lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường dao động trong khoảng 5-7%/năm đối với ngắn hạn; 6%-9%/năm đối với trung và dài hạn. Lãi suất huy động USD phổ biến bằng mức trần do NHNN quy định là 0,0%/năm đối với tiền gửi của tổ chức và cá nhân. Lãi suất cho vay USD bình quân ở mức 3-6%/năm.         

6. Các vấn đề xã hội

6.1. Giáo dục - Đào tạo

Những ngày cuối tháng 8/2024, toàn ngành giáo dục chuẩn bị mọi điều kiện, phương tiện sẵn sàng cho năm học mới 2024-2025, tiếp tục thực hiện hiệu quả chương trình giáo dục mới, các trường trong tỉnh đã hoàn thành biên chế lớp học các lớp đầu cấp; thực hiện tốt công tác vận động học sinh đến lớp. Tập trung triển khai hiệu quả chương trình giáo dục phổ thông đối với các lớp, đặc biệt với các lớp cuối cấp lớp 5, 9, 12; tăng cường đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá tích cực theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh. Đồng thời, phát huy tính chủ động, linh hoạt trong thực hiện chương trình giáo dục của nhà trường và năng lực tự chủ, sáng tạo của tổ chuyên môn, giáo viên; chủ động rà soát và phát triển chương trình giáo dục phổ thông bảo đảm đáp ứng yêu cầu đổi mới và phù hợp với thực tế triển khai tại các cơ sở giáo dục.

6.2. Tình hình y tế

Tháng 7/2024, trên địa bàn tỉnh có 262 ca sốt xuất huyết, tăng 226 ca so với cùng kỳ; có 9 ca mắc tay chân miệng, tăng 5 ca; 1 ca liên cầu lợn, tăng 1 ca; không có ca mắc sốt rét, viêm gan siêu trùng, viêm não vi rút, thương hàn bằng cùng kỳ. Bảy tháng đầu năm, trên địa bàn có 804 ca sốt xuất huyết, tăng 650 ca so với cùng kỳ, có 1 ca tử vong, tăng 1 ca; có 72 ca mắc tay chân miệng, tăng 50 ca; 1 ca liên cầu lợn, tăng 1 ca; không có ca mắc sốt rét, viêm gan siêu trùng, viêm não vi rút, thương hàn bằng cùng kỳ.

Tháng 7/2024, toàn tỉnh đã phát hiện 9 ca nhiễm mới HIV, bằng cùng kỳ; có 3 ca chuyển qua AIDS, tăng 3 ca so với cùng kỳ; không có ca tử vong, bằng cùng kỳ. Bảy tháng đầu năm, toàn tỉnh có 53 ca nhiễm mới HIV, giảm 13 ca so với cùng kỳ; có 16 ca chuyển qua AIDS, tăng 10 ca; có 3 ca tử vong, tăng 1 ca. Hiện tại, trên địa bàn tỉnh có 554 bệnh nhân đang được quản lý và điều trị tại các cơ sở y tế, trong đó có 545 bệnh nhân điều trị ARV.

Tháng 7/2024, trên địa bàn không xảy ra ngộ độc thực phẩm, giảm 1 vụ so với cùng kỳ. Bảy tháng đầu năm, toàn tỉnh xảy ra 4 vụ ngộ độc thực phẩm, tăng 2 vụ so với cùng kỳ, làm 39 người ngộ độc, tăng 6 người so với cùng kỳ; không có người tử vong.

6.3. Hoạt động văn hóa, thể thao

Trong tháng 8/2024 nhiều địa phương trong tỉnh gồm cấp xã, cấp huyện tổ chức giải bóng đá phong trào, tổ chức giải chạy các cự ly, thu hút đông đảo mọi người hưởng ứng tích cực tham gia. Góp phần quảng bá hình ảnh, con người, các giá trị lịch sử, văn hóa, tiềm năng du lịch địa phương, đẩy mạnh cuộc vận động toàn dân “Rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”, thúc đẩy phong trào rèn luyện thể dục, thể thao phát triển.

6.4. Tai nạn giao thông

Theo báo cáo của Ban ATGT tỉnh, từ 15/7/2024 đến 14/8/2024, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 20 vụ tai nạn giao thông đường bộ, giảm 13 vụ so với cùng kỳ năm 2023; làm 6 người chết, giảm 14 người; làm bị thương 18 người, giảm 9 người. Đường sắt xảy ra không xảy ra tai nạn và va chạm giao thông, giảm 1 vụ; không có người chết, giảm 1 người; không có người bị thương, bằng cùng kỳ. Đường thủy không xảy ra tai nạn và va chạm giao thông, không tăng, không giảm so với cùng kỳ.

Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn xảy ra 199 vụ tai nạn giao thông đường bộ, tăng 77 vụ so với cùng kỳ; làm chết 85 người, tăng 8 người; làm bị thương 146 người, tăng 58 người so với cùng kỳ. Tai nạn đường sắt 2 vụ, giảm 1 vụ, làm chết 2 người, giảm 1 người; không có người bị thương, bằng cùng kỳ. Tai nạn đường thủy không xảy ra, không tăng giảm so với cùng kỳ.

6.5. Tình hình cháy nổ, bảo vệ môi trường và thiên tai

Tình hình hỏa hoạn, trong tháng 8 trên địa bàn tỉnh không xảy ra vụ cháy, giảm 14 vụ so với cùng kỳ, giảm 4 vụ so tháng trước. Tám tháng đầu năm, trên địa bàn tỉnh xảy ra 14 vụ cháy, giảm 8 vụ so với cùng kỳ; không có thiệt hại về người, thiệt hại về tài sản hơn 1 tỷ đồng.

Tình hình vi phạm môi trường: tháng 8/2024 trên địa bàn tỉnh xảy ra 6 vụ vi phạm môi trường, các ngành chức năng đã tiến hành xử lý 5 vụ, số tiền xử phạt 79,6 triệu đồng. Lũy kế 8 tháng đầu năm, trên địa bàn tỉnh xảy ra 156 vụ vi phạm môi trường, tăng 21 vụ so với cùng kỳ; tiến hành xử lý 141 vụ với tổng số tiền phạt hơn 1 tỷ đồng.

Từ 19/7/2024 đến 18/8/2024, trên địa bàn tỉnh không xảy ra thiên tai, bằng tháng trước và bằng cùng kỳ. Tám tháng đầu năm trên địa bàn tỉnh xảy ra 5 vụ thiên tai, tăng 1 vụ so với cùng kỳ; giá trị thiệt hại ước khoảng 3,1 tỷ đồng, chính quyền các cấp đã hỗ trợ 18 triệu đồng khắc phục hậu quả./.

CỤC THỐNG KÊ THỪA THIÊN HUẾ