0234 3828125 | Tphue@nso.gov.vn

Tình hình kinh tế xã hội tháng 3 và 3 tháng đầu năm 2025

02/04/2025 13:46

Năm 2025 là năm cuối cùng thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm, giai đoạn 2021 - 2025, năm có ý nghĩa quan trọng trong việc tập trung mọi nguồn lực để tạo những chuyển biến đột phá mạnh mẽ, góp phần thực hiện thành công Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2020 - 2025, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2021 - 2025. Việc triển khai kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2025 trên địa bàn thành phố diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường; xung đột quân sự giữa Nga và U-crai-na kéo dài; Hoa Kỳ áp thuế mới lên hàng nhập khẩu từ Canada, Mexico và Trung Quốc gây căng thẳng thương mại toàn cầu, làm cho kinh tế và đầu tư tăng trưởng và phục hồi chậm; thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu... làm gia tăng rủi ro đối với an ninh hàng hải, chuỗi cung ứng hàng hóa, an ninh năng lượng và lương thực tại nhiều quốc gia. Trong nước, giá nguyên, nhiên vật liệu đầu vào tăng cao làm tăng chi phí sản xuất, vận tải, tạo áp lực lên kiểm soát lạm phát; các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới đang được triển khai với những cam kết sâu rộng và toàn diện đang tạo ra những cơ hội và thách thức mới,... Với sự lãnh đạo toàn diện, sát sao của Thành ủy, giám sát chặt chẽ của HĐND thành phố, chỉ đạo, điều hành quyết liệt, kịp thời, linh hoạt, sáng tạo của UBND thành phố, cùng sự vào cuộc tích cực của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành; sự cố gắng, nỗ lực, đồng thuận, ủng hộ của Nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp, tình hình kinh tế - xã hội quý I năm 2025 tiếp tục phát triển.

Thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2025; Nghị quyết số 32-NQ/TU của Thành ủy, Nghị quyết số 130/NQ-HĐND của HĐND thành phố về nhiệm vụ và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2025; Quyết định số 01/QĐ-UBND của UBND thành phố về việc triển khai thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2025. Kết quả đạt được trên các ngành, lĩnh vực trong quí I năm 2025 như sau:  

1. Tăng trưởng kinh tế

Tổng sản phẩm trên địa bàn thành phố 3 tháng đầu năm 2025 ước tăng 9,90% so với cùng kỳ. Đây là mức tăng trưởng cao và cao hơn so với quý I các năm gần đây; xét trong khu vực Bắc trung bộ và Duyên hải miền trung, tốc độ tăng trưởng của thành phố thuộc nhóm đầu. Trong đó: Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,68%, đóng góp 0,18 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 13,25%, đóng góp 4,08 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 9,28%, đóng góp 4,88 điểm phần trăm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 7,70%, đóng góp 0,76 điểm phần trăm trong tăng trưởng kinh tế toàn thành phố.

Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản: sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 3 tháng đầu năm tiến hành trong điều kiện thời tiết thuận lợi, cây trồng và vật nuôi phát triển tốt. Nhờ vậy, tốc độ tăng trưởng khu vực này được duy trì, trong đó ngành nông nghiệp tăng 1,92% so với cùng kỳ, đóng góp 0,06 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; ngành lâm nghiệp tăng trưởng khá tăng 4,89%, đóng góp 0,07 điểm phần trăm; ngành thủy sản duy trì phát triển ổn định tăng 2,38%, đóng góp 0,05 điểm phần trăm.

Khu vực công nghiệp - xây dựng: ngành công nghiệp 3 tháng đầu năm 2025 tăng 13,49%, đóng góp 3,18 điểm phần trăm, đạt mức tăng trưởng này là nhờ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng trưởng 10,57% tiếp tục là đầu tàu trong toàn ngành công nghiệp của thành phố. Bên cạnh đó, ngành sản xuất truyền tải và phân phối điện tăng trưởng cao 47,86%, năm nay thời tiết mưa nhiều, lượng nước về các hồ chứa các nhà máy thủy điện trên địa bàn đạt khá; Ngành xây dựng tăng 12,48%, đóng góp 0,89 điểm phần trăm, đạt kết quả này do từ đầu năm đến nay trên địa bàn nhiều công trình trọng điểm được đẩy nhanh tiến độ sớm đưa vào sử dụng để kỷ niệm 50 ngày giải phóng Huế.

Khu vực dịch vụ trong 3 tháng đầu năm 2025 có sự tăng trưởng tích cực, các chương trình du lịch dịch vụ và hoạt động xúc tiến thương mại... được đẩy mạnh đã đem lại nhiều kết quả quan trọng. Một số ngành dịch vụ trong 3 tháng đầu năm có mức tăng trưởng khá: Ngành bán buôn, bán lẻ hàng hoá tăng 8,37% so với cùng kỳ, đóng góp 0,61 điểm phần trăm; dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng 18,46%, đóng góp 1,34 điểm; vận tải kho bãi tăng 11,66%, đóng góp 0,46 điểm; nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 13,20%, đóng góp 0,11 điểm... 

Cơ cấu kinh tế 3 tháng đầu năm 2025, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 6,78%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 29,47%; khu vực dịch vụ chiếm 54,17%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 9,58% (cơ cấu tương ứng của cùng kỳ năm 2024 là: 7,18%; 29,35%; 53,67% và 9,80%).

2. Tài chính

Tổng thu ngân sách trên địa bàn 3 tháng đầu năm 2025 ước đạt 3.520,8 tỷ đồng, bằng 28,5% dự toán năm. Trong đó: Thu nội địa ước đạt 3.231,9 tỷ đồng, bằng 28,6% dự toán; thu thuế từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 287,4 tỷ đồng, bằng 27,4% dự toán. Trong thu nội địa: thu doanh nghiệp Nhà nước ước đạt 122 tỷ đồng, bằng 31,3% dự toán; thu doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 1.005 tỷ đồng, bằng 24,8% dự toán; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 531 tỷ đồng, bằng 30,3% dự toán; thuế thu nhập cá nhân 233 tỷ đồng, bằng 41,6% dự toán; thuế bảo vệ môi trường 87 tỷ đồng, bằng 12,3% dự toán.

Tổng chi ngân sách địa phương 3 tháng đầu năm 2025 ước đạt 2.123,3 tỷ đồng, bằng 13,5% dự toán, trong đó chi đầu tư phát triển 325 tỷ đồng, bằng 7,5% dự toán; chi thường xuyên 1.772,0 tỷ đồng, bằng 16,5% dự toán; bao gồm: chi sự nghiệp kinh tế 40,0 tỷ đồng, bằng 4,1% dự toán; chi sự nghiệp giáo dục đào tạo 900 tỷ đồng, bằng 17,4% dự toán; chi sự nghiệp y tế 100 tỷ đồng, bằng 13,1% dự toán; chi quản lý Nhà nước 420 tỷ đồng, bằng 20,1% dự toán.

3. Giá cả, lạm phát

- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)

Chỉ số giá tiêu dùng trên địa bàn thành phố quý I/2025 tăng 2,79% so với cùng kỳ, chủ yếu nhóm dịch vụ y tế tăng cao do các cơ sở khám chữa bệnh áp dụng mức giá mới theo thông tư 21/2024/TT-BYT ngày 17/10/2024 quy định phương pháp định giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh; lệ phí công chứng, bảo hiểm y tế và dịch vụ khác tăng khi lương cơ sở tăng từ 01/7/2024. Giá vàng và đô la Mỹ biến động theo thị trường thế giới và trong nước, giá vàng quý I/2025 tăng 37,63% và giá đô la Mỹ tăng 3,73% so với cùng kỳ.

Chỉ số giá tiêu dùng toàn thành phố tháng 3/2025 giảm 0,25% so với tháng trước. Nguyên nhân chủ yếu do tập đoàn Petrolimex điều chỉnh giảm giá xăng và sau dịp tết Nguyên đán nhu cầu tiêu dùng của người dân giảm. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 4 nhóm hàng giảm giá so với tháng trước, trong đó: giao thông giảm 1,58%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,27%; thuốc và dịch vụ y tế giảm 0,22%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,19%. Bên cạnh đó, cũng có 6 nhóm hàng tăng giá so với tháng trước như: văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,01%; giáo dục tăng 0,01%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,02%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,06%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,07%; hàng hoá và dịch vụ khác tăng 0,36%. Nhóm bưu chính viễn thông bình ổn so với tháng trước. 

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 3/2025 tăng 0,98% so với tháng 12 năm trước và tăng 2,46% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân quý I/2025 tăng 2,79% so với bình quân cùng kỳ năm trước. Các nhóm hàng hóa dịch vụ có chỉ số giá bình quân quý I/2025 tăng so cùng kỳ năm trước gồm: thuốc và dịch vụ y tế tăng 14,31%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 5,71%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 5,26%; giáo dục tăng 3,27%. Các nhóm còn lại tăng giảm không đáng kể.

- Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ 

Chỉ số giá vàng tháng 3/2025 tăng 5,47% so với tháng trước, tăng 11,89% so với tháng 12 năm trước và tăng 39,54% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân quý I/2025 tăng 37,63% so với bình quân cùng kỳ năm trước. 

Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 3/2025 tăng 0,63 % so với tháng trước, tăng 0,84% so với tháng 12 năm trước và tăng 3,49% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân quý I/2025 tăng 3,73% so với bình quân cùng kỳ năm trước.

- Chỉ số giá sản xuất

Chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng nông, lâm nghiệp và thủy sản quý I/2025 tăng 2,37% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng nông nghiệp tăng 4,47%; hàng lâm nghiệp tăng 3,19%; hàng thủy sản giảm 0,79%. Chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng công nghiệp quý I/2025 giảm 5,89% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất sản phẩm khai khoáng tăng 1,18%; sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 7,03%; điện và phân phối điện tăng 3,75%; nước sạch, nước thải tăng 1,17%. 

Chỉ số giá cước vận tải kho bãi quý I/2025 tăng 24,40% so với cùng kỳ năm trước. Chia theo ngành đường: giá cước vận tải đường sắt, đường bộ tăng 1,55%; đường thủy tăng 2,50%; dịch vụ kho bãi và các dịch vụ hỗ trợ vận tải tăng 1,49%.

Chỉ số giá dịch vụ quý I/2025 tăng 9,75% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá dịch vụ của một số ngành như sau: ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 4,09%; thông tin và truyền thông tăng 0,45%; kinh doanh bất động sản tăng 6,48%; giáo dục và đào tạo tăng 1,13%; y tế và trợ giúp xã hội tăng 23,32%.

- Chỉ số giá xuất, nhập khẩu hàng hóa

Chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa quý I/2025 tăng 6,61% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, chỉ số giá của một số mặt hàng tăng mạnh so với cùng kỳ như: cà phê tăng 67,48%; hạt tiêu tăng 60,35%; cao su tăng 38,03%; hạt điều tăng 20,13%. Một số mặt hàng có chỉ số giá giảm sâu như: than giảm 20,34%; sắn và sản phẩm từ sắn giảm 18,75%; xăng dầu các loại giảm 9,87%; thức ăn gia súc giảm 7,55%; dầu thô giảm 7,75%.

Chỉ số giá nhập khẩu hàng hoá quý I/2025 giảm 1,07% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, một số mặt hàng có chỉ số giá giảm mạnh so với cùng kỳ như sau: thức ăn gia súc giảm 15,56%; than đá giảm 14,53%; lúa mỳ giảm 9,82%; sắt, thép giảm 8,30%. Một số mặt hàng có chỉ số giá tăng mạnh so với cùng kỳ như: dầu mỡ động thực vật tăng 19,50%; cao su nguyên liệu tăng 17,43%; nguyên phụ liệu dược phẩm tăng 14,56%; thuốc trừ sâu và nguyên liệu tăng 9,72%.

4. Hoạt động xuất nhập khẩu

Trong 3 tháng đầu năm, các doanh nghiệp tận dụng tốt các ưu đãi mà các hiệp định thương mại tự do mang lại để giảm chi phí xuất khẩu, tăng năng lực cạnh tranh của sản phẩm, tìm kiếm được các thị trường xuất khẩu mới, nhờ vậy hoạt động xuất nhập khẩu trên địa bàn vẫn duy trì ổn định và có sự phát triển tốt. Dự ước tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 563,3 triệu USD, tăng 18,7% so với cùng kỳ.

4.1. Hoạt động xuất khẩu

Tổng kim ngạch xuất khẩu trong 3 tháng đầu năm 2025 ước đạt 318,5 triệu USD tăng 23,2% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực doanh nghiệp 100% vốn trong nước 198,8 triệu USD, tăng 27,4%; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 119,7 triệu USD, tăng 16,9%. Các doanh nghiệp xuất khẩu chủ yếu các nhóm hàng sau:

- Nhóm hàng nông, thuỷ sản: KNXK ước đạt 26,3 triệu USD, tăng gấp 2,2 lần so với cùng kỳ và chiếm tỷ trọng 8,2%.

- Nhóm hàng công nghiệp chế biến: KNXK ước đạt 225,2 triệu USD, tăng 6,8% so với cùng kỳ và chiếm tỷ trọng 70,7%, trong đó: xơ, sợi dệt các loại 43,5 triệu USD, giảm 7,9%; hàng may mặc 140,7 triệu USD, tăng 14,0%; gỗ và sản phẩm gỗ 41,0 triệu USD tăng 2,2%.

- Nhóm các hàng hóa khác như hương và bột hương, bia, rượu sa kê, hàng thủ công mỹ nghệ, bao bì xi măng…: KNXK ước đạt 66,07 triệu USD, tăng 88,5% so với cùng kỳ và chiếm tỷ trọng 21,1%.

Trong 3 tháng đầu năm 2025, các doanh nghiệp đã xuất khẩu đến khoảng 45 quốc gia và vùng lãnh thổ như Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, ASEAN, các nước Châu Âu… 

4.2. Hoạt động nhập khẩu

Tổng kim ngạch nhập khẩu trong 3 tháng đầu năm 2025 ước đạt 244,8 triệu USD tăng 13,4% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực doanh nghiệp 100% vốn trong nước ước đạt 165,1 triệu USD, tăng 8,5%; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 79,6 triệu USD, tăng 25,0%. Các mặt hàng nhập khẩu phục vụ cho hoạt động sản xuất, xuất khẩu của các doanh nghiệp, cụ thể:

- Nhóm hàng cần nhập khẩu: KNNK ước đạt 151,7 triệu USD, tăng 9,8% so với cùng kỳ và chiếm tỷ trọng 61,7%, trong đó: nguyên phụ liệu dệt may ước 128,2 triệu USD, tăng 2,9%; máy móc thiết bị dụng cụ phụ tùng ước đạt 23,1 triệu USD tăng 80,2%.

- Nhóm hàng cần kiểm soát nhập khẩu: linh kiện phụ tùng ô tô ước đạt 45,1 triệu USD tăng 86,0% so với cùng kỳ và chiếm tỷ trọng 18,4%.

- Nhóm hàng hóa khác như thạch cao, thép, hóa chất, linh kiện điện tử, nguyên phụ liệu sản xuất bia...: KNNK ước đạt 48,0 triệu USD, giảm 10,1% so với cùng kỳ và chiếm tỷ trọng 19,6%.

5. Vốn đầu tư và xây dựng

5.1. Vốn đầu tư

Năm 2025 là năm đầu tiên thực hiện nhiệm vụ của thành phố trực thuộc Trung ương, thành phố Huế tập trung các nguồn lực để đầu tư phát triển đồng bộ hạ tầng kinh tế -xã hội, phát triển đô thị, nâng chuẩn các đô thị, thực hiện tốt kế hoạch đầu tư công nguồn ngân sách nhà nước năm 2025, đẩy nhanh các dự án trọng điểm, nâng cao chất lượng công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch phát triển đô thị, tập trung đầu tư hạ tầng thành phố Huế đạt chuẩn đô thị loại I, nâng chuẩn đô thị các quận, thị xã và đô thị Chân Mây.

Vốn đầu tư phát triển trên địa bàn trong quý I/2025 dự ước đạt 6.751 tỷ đồng, đạt 18,25% so với kế hoạch năm, tăng 7,0% so với cùng kỳ. Trong đó: Vốn nhà nước ước đạt 1.104 tỷ đồng, chiếm 16,3% tổng nguồn vốn, giảm 21% so với cùng kỳ; vốn ngoài nhà nước ước đạt 4.665 tỉ đồng, đạt 20,3% kế hoạch năm, chiếm 69,1% tổng nguồn vốn tăng 25,1% so cùng kỳ; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt 982 tỷ đồng chiếm 14,3% tổng nguồn vốn, đạt 21,4% kế hoạch năm, giảm 16,8% so với cùng kỳ.

Vốn ngân sách nhà nước giảm so cùng kỳ chủ yếu do năm 2025 kế hoạch bố trí vốn từ ngân sách nhà nước do địa phương quản lý giảm 26,4% so với cùng kỳ. Vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tiếp tục tập trung vào các dự án chuyển tiếp như: dự án đường Nguyễn Hoàng và cầu vượt sông Hương; tuyến đường bộ ven biển và cầu qua cửa biển Thuận An; văn phòng làm việc một số cơ quan đơn vị thuộc thành phố Huế giai đoạn 2; chương trình xây dựng thành phố Huế văn hóa du lịch thông minh; trụ sở Công an thành phố; quảng trường văn hóa thể thao thành phố Huế; các dự án về bảo tồn di tích và Hệ thống kinh thành Huế; dự án chỉnh trang phát triển đô thị, nâng cấp các tuyến đường nội thị; các dự án về y tế, giáo dục, đảm bảo an sinh xã hội và an ninh quốc gia,… 

Vốn ngoài nhà nước gồm vốn đầu tư của doanh nghiệp ngoài nhà nước và đầu tư trong dân tăng mạnh so với cùng kỳ. Nhiều dự án trọng điểm được nhà đầu tư tập trung triển khai nhanh như: dự án đầu tư xây dựng bến tổng hợp - container số 4 và số 5 cảng Vsico Chân Mây; dự án khu liên hợp sản xuất, lắp ráp Kim Long Motors Huế; dự án Royal Park Huế; chung cư thương mại, dịch vụ B1-A, nhà Shop House An Cựu city; xây dựng lại các dãy nhà A, B, C khu chung cư Đống Đa; dự án tổ hợp khu dịch vụ thương mại và du lịch Phạm Văn Đồng hạng mục nhà liền kề; dự án tổ hợp khu dịch vụ thương mại và du lịch Phạm Văn Đồng hạng mục nhà Biệt thự, khu dịch vụ thương mại tổng hợp Thúy Nga Center; hạng mục Hạ tầng giao thông, kỹ thuật thuộc dự án tổ hợp BRG Golden Sands City; dự án tổ hợp giáo dục FPT Huế; chuỗi dịch vụ lữ hành và các dịch vụ bổ trợ có tầm vóc quốc tế. Trong quý I/2025 có 4 dự án đăng ký mới với tổng số vốn 764 tỷ đồng, đầu tư vào lĩnh vực khí gas hóa lỏng 120 tỷ, vận tải kho bãi 46 tỷ đồng và 2 dự án nhà ở xã hội với số vốn đăng ký 598 tỷ đồng; 01 dự án điều chỉnh tăng vốn là dự án khu liên hợp sản xuất, lắp ráp Kim Long motors Huế điều chỉnh tăng vốn từ 4.477 tỷ đồng lên 25.655 tỷ đồng.

Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài quý I/2025 giảm so với cùng kỳ do nguồn vốn này chỉ đầu tư vào các dự án nhỏ đang trong giai đoạn hoàn thiện: nhà máy sản xuất linh kiện điện tử, nhà máy sản xuất, gia công hàng may sẵn, quần áo người lớn và quần áo trẻ em, nhà máy sản xuất keo, chất kết dính và sản phẩm làm từ nhựa, nhà máy sản xuất thiết bị âm thanh, nhà máy chế biến nông sản. Những dự án đầu tư lớn như dự án trung tâm thương mại Aeon Mall Huế; siêu thị GO, nhà máy xử lý rác thải sinh hoạt Phú Sơn đã hoàn thành đi vào hoạt động. Trong quý I/2025, trên địa bàn thành phố có 05 dự án đăng ký mới với tổng số vốn đăng ký 93,2 triệu USD (tương đương 1.058 tỷ đồng). Trong đó 03 dự án của Nhật Bản với số vốn đăng ký 85,5 triệu USD, đầu tư vào lĩnh vực tư vấn, thiết kế và xây dựng cầu đường; sản xuất cao su chịu lực chất lượng cao; sản xuất Silicon Carbide độ tinh khiết cao; 01 dự án của Trung Quốc với số vốn đăng ký 4,7 triệu USD vào lĩnh vực may mặc; 01 dự án của Tây Ban Nha với số vốn đăng ký 3 triệu USD, đầu tư vào lĩnh vực khách sạn; 01 dự án bổ sung vốn từ 1,4 triệu USD lên 2,5 triệu USD của công ty cổ phần quốc tế Hello Việt Nam.

Nhìn chung, tình hình thực hiện vốn đầu tư quí I năm 2025 trên địa bàn thành phố có nhiều khởi sắc nhưng còn bộc lộ một số hạn chế: quá trình thực hiện đầu tư công cũng như công tác kêu gọi, thu hút các nhà đầu tư từ trong nước và nước ngoài còn gặp nhiều khó khăn và thách thức, một số dự án vẫn đang chậm tiến độ, chậm khởi công do vướng mắc trong công tác đền bù, hỗ trợ tái định cư: Đê chắn sóng cảng Chân Mây - giai đoạn 2, Đường Tố Hữu nối dài đi sân bay Phú Bài; Đường vành đai 3, Đường Tây phá Tam Giang - Cầu Hai nối dài.

5.2. Hoạt động xây dựng

Hoạt động xây dựng trên địa bàn thành phố khá thuận lợi, một số dự án mới khởi công và các dự án đang thi công được đẩy nhanh tiến độ sớm đưa vào hoạt động làm giá trị sản xuất ngành xây dựng tăng cao so với cùng kỳ. 

Quý I/2025 giá trị sản xuất ngành xây dựng theo giá hiện hành ước đạt 4.130 tỷ đồng, theo giá so sánh tăng 10,5% so với cùng kỳ. Trong đó, công trình nhà đạt 2.726 tỷ đồng, tăng 30,4%; công trình kỹ thuật dân dụng 31.251 tỷ đồng, giảm 4,6%; hoạt động xây dựng chuyên dụng 153 tỷ đồng, bằng 44,8% cùng kỳ.

Từ đầu năm đến nay, tiến độ các công trình, dự án trọng điểm đang diễn ra nhộn nhịp, là động lực thúc đẩy phát triển nền kinh tế - xã hội của thành phố. Các dự án mới khởi công đang được thi công nhanh như: cải tạo, xây dựng lại các dãy nhà A, B, C Khu chung cư Đống Đa; dự án Trung tâm khởi nghiệp đổi mới sáng tạo thành phố Huế, gói thầu số 9; dự án đường Tố Hữu nối dài đi sân bay Phú Bài… Một số dự án đẩy nhanh tiến độ để sớm đi vào hoạt động như: cầu Nguyễn Hoàng; cầu vượt cửa biển Thuận An; trụ sở công an thành phố; chung cư thương mại dịch vụ B1-A; dự án đầu tư sản xuất kinh doanh và xuất khẩu bia và đồ uống không cồn khác công suất sản xuất 600 triệu lít/năm; nhà máy sản xuất mũ bảo hiểm Eon; tổ hợp Giáo dục FPT Huế; tổ hợp khu dịch vụ thương mại và du lịch Phạm Văn Đồng; nhà máy sản xuất, chế tạo động cơ Kim Long Huế…

6. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp

Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp 3 tháng đầu năm 2025 trên địa bàn có nhiều dấu hiệu tích cực, có 70,5% DN đánh giá tình hình SXKD khả quan hơn và giữ ổn định so với quý trước. Theo nhận định xu hướng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong quý tiếp theo, có 86,9% DN dự báo tình hình SXKD tốt hơn và giữ ổn định so với quý I/2025.

Tính đến 25/3/2025, thành phố Huế có 176 DN thành lập mới với tổng số vốn đăng ký 1.032,8 tỷ đồng, so với cùng kỳ giảm 14,3% về số lượng và giảm 12% về vốn. Số doanh nghiệp hoạt động trở lại 135DN, tăng 6,2% so với cùng kỳ; số doanh nghiệp đã giải thể 28 DN, giảm 26,3% và số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động 465 DN, tăng 18,9%.

Tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong quý I và dự báo xu hướng sản xuất kinh doanh (sxkd) quý II năm 2025:

Đánh giá tổng quan về tình hình sxkd, có 70,5% số DN đánh giá SXKD quý I/2025 của họ khả quan hơn và giữ ổn định so với quý IV/2024 (trong đó 27,9% khẳng định tốt lên và 42,6% khẳng định giữ ổn định); 29,5% số DN đánh giá là khó khăn hơn. Các DN nhận định SXKD của quý II/2025 tốt hơn và giữ ổn định so với quý I/2025 chiếm 86,9% (trong đó 55,7% dự báo tốt lên và 31,2% dự báo giữ ổn định), có 13,1% số DN dự báo khó khăn hơn.

Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong quý I/2025, có 50,8% cho rằng nhu cầu của thị trường trong nước thấp và Nhu cầu thị trường quốc tế thấp (43,3%) đã ảnh hưởng đến hoạt động sxkd của doanh nghiệp, các nhân tố có mức ảnh hưởng tiếp theo đó là: tính cạnh tranh của hàng trong nước cao (47,5%); thiết bị công nghệ lạc hậu (34,4%); thiếu nguyên, nhiên, vật liệu (31,2%); tính cạnh tranh của hàng nhập khẩu cao (29,5%); lãi suất vay vốn cao (26,2%); khó khăn về tài chính (23,0%); chính sách pháp luật của Nhà nước (19,7%); không tuyển dụng được lao động theo yêu cầu (18,0%)...

7. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản quý I/2025 diễn ra trong điều kiện thời tiết thuận lợi cho phát triển cây trồng, vật nuôi, diện tích gieo trồng lúa đạt đông xuân 27.859 ha. Dịch bệnh ở đàn gia súc, gia cầm không xảy ra; tổng đàn lợn đến thời điểm 01/3/2025 tăng 2,4% so với cùng kỳ; sản xuất lâm nghiệp tập trung chủ yếu khai thác gỗ rừng trồng và trồng rừng tập trung, sản lượng gỗ khai thác trong quý I tăng 4,2%; sản lượng thủy sản tăng 2,3% so với cùng kỳ.

7.1. Sản xuất nông nghiệp

Trồng trọt

Trong quý I, điều kiện thời tiết thuận lợi, mưa vừa và nhỏ rải đều các tháng là điều kiện thuận lợi để gieo trồng các loại cây. Diện tích gieo cấy lúa vụ Đông Xuân 2025 toàn thành phố đạt 27.859 ha, giảm 0,3% so với vụ Đông Xuân năm trước. Hiện nay cây lúa đang sinh trưởng và phát triển tốt. Người dân vẫn tiếp tục ra đồng chăm sóc và theo dõi các bệnh trên cây lúa để xử lý kịp thời tránh lây lan trên diện rộng. Một số đối tượng gây hại cho cây lúa: chuột gây hại diện tích nhiễm 434 ha, bệnh đạo ôn lá diện tích nhiễm 357 ha chủ yếu trên các giống lúa J02, bệnh khô vằn diện tích nhiễm 105 ha; các đối tượng sinh vật gây hại khác gây hại với mật độ và tỷ lệ thấp.

Diện tích gieo trồng các loại cây hằng năm khác lũy kế đến tháng 3 như: ngô ước đạt 896 ha, giảm 0,7%; khoai lang 379 ha, giảm 1,0%; lạc 2.030 ha, giảm 2,6%; rau các loại 2.474 ha, tăng 0,2%; đậu các loại 501 ha, giảm 2,0% so với cùng kỳ.

Chăn nuôi

Chăn nuôi gia súc, gia cầm trên địa bàn thành phố trong quý I năm 2025 không xảy ra dịch bệnh, công tác tiêm phòng thú y, vệ sinh môi trường được chú trọng. Công tác quản lý chăn nuôi và giết mổ được tiến hành chặt chẽ. Các trạm thú y tiếp tục đôn đốc, chỉ đạo công tác kiểm soát giết mổ gia súc, gia cầm, duy trì tốt công tác tiêu độc khử trùng, chuồng trại và khu vực giết mổ gia súc.

Số lượng gia súc, gia cầm ước thời điểm 31/3/2025: đàn trâu có 15.127 con, giảm 0,4%; đàn bò 28.833 con, tăng 1,9%; đàn gia cầm có 5.037 nghìn con, tăng 1,5%, trong đó đàn gà có 3. 548 nghìn con, tăng 1,5%; đàn lợn 125.987 con (chưa bao gồm lợn con chưa tách mẹ), tăng 2,4% so với thời điểm 31/3/2024. Giá lợn thịt hơi đang tăng so với tháng trước và cùng kỳ nên thuận lợi cho việc tái đàn.

Sản lượng thịt xuất chuồng 3 tháng đầu năm 2025 ước đạt 9.138 tấn, tăng 3,0% so với cùng kỳ. Trong đó: thịt trâu 238 tấn, giảm 0,4%; thịt bò 333 tấn, tăng 0,3%; thịt lợn 4.736 tấn, tăng 4,7%; thịt gia cầm 3.831 tấn, tăng 1,5% so với cùng kỳ.

Tiến độ tiêm phòng đến ngày 20/3/2025 đã tiêm được 20.450 liều THT Trâu bò, 26.224 liều tam liên, 4.570 liều E.coli, 332.210 liều Cúm gia cầm, 207.100 liều Dịch tả vịt, 183.910 liều Newcastle, 7.230 liều THT gia cầm, 41.900 liều Đậu gà, 75.350 liều Gumboro.

7.2. Lâm nghiệp

Ước diện tích trồng rừng mới tập trung tháng 3/2025 đạt 740 ha, tăng 4,1% so cùng kỳ. Tính chung 3 tháng đầu năm diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 2.128 ha, tăng 2,3%. Nguyên nhân tăng do thời tiết những tháng đầu năm thuận lợi cho trồng mới rừng.

Sản lượng gỗ khai thác từ rừng trồng trong tháng 3/2025 ước đạt 65.396 m3, tăng 9,9%. Tính chung 3 tháng đầu năm sản lượng gỗ khai thác từ rừng trồng ước đạt 167.250 m3, tăng 4,2% so với cùng kỳ. Nguyên nhân sản lượng gỗ khai thác lũy kế tăng do các nhà máy chế biến dăm gỗ tăng thu mua, đồng thời giá bán gỗ nguyên liệu ổn định.

Trong tháng 3 năm 2025 xảy ra 1 vụ phá rừng trái pháp luật với diện tích rừng bị phá là 0,4 ha. Tính chung 3 tháng đầu năm trên địa thành phố xảy ra 1 vụ phá rừng trái pháp luật.

7.3. Thủy sản

Tình hình nuôi trồng thủy sản: tháng 3/2025 là thời gian người dân tập trung thả nuôi các loại thủy sản. Ngành chức năng khuyến cáo các địa phương thả nuôi đúng khung lịch thời vụ, đảm bảo mật độ, áp dụng mô hình nuôi xen ghép cá, tôm, cua trên một đơn vị diện tích nhằm hạn chế dịch bệnh và rủi ro trong nuôi trồng, bên cạnh đó đa dạng các đối tượng nuôi có giá trị kinh tế cao góp phần nâng cao hiệu quả nuôi trồng thủy sản.

Diện tích nuôi trồng thủy sản tháng 3/2025 ước đạt 193 ha, tăng 1,6% so với cùng kỳ. Chia ra diện tích nuôi nước ngọt 66 ha, giảm 1,5%; diện tích nuôi nước lợ 127 ha, tăng 3,3%. Trong diện tích nuôi nước lợ bao gồm nuôi cá 16 ha, tăng 6,7%; nuôi tôm 54 ha, tăng 3,8%;diện tích nuôi các loại thủy sản khác 57 ha, tăng 1,8%. Tính chung 3 tháng đầu năm diện tích nuôi trồng thủy sản ước đạt 513 ha, tăng 1,2% so với cùng kỳ. Chia ra diện tích nuôi nước ngọt 192 ha, giảm 1,0%; diện tích nuôi nước lợ 321 ha, tăng 2,6%. Trong nuôi nước lợ bao gồm nuôi cá 78 ha, tăng 4%; nuôi tôm 181 ha, tăng 2,3%; nuôi các loại thủy sản khác 57 ha, tăng 1,8%; ươm, nuôi giống thủy sản 5 ha, bằng với cùng kỳ. 

Về sản xuất giống thủy sản, trong tháng 3/2025 sản xuất giống trên địa bàn ước đạt 36,6 triệu con, tăng 1,4% so với cùng kỳ. Trong đó tôm sú giống 21,7 triệu con, tăng 1,4%; cá giống 13,9 triệu con, tăng 1,5%; giống thủy sản khác 1 triệu con, bằng với cùng kỳ. Tính chung 3 tháng đầu năm số giống sản xuất ước đạt 79 triệu con, tăng 1,2%. Trong đó tôm sú giống 52,7 triệu con, tăng 1,0%, cá giống 25,3 triệu con, tăng 1,6%, giống thủy sản khác 1 triệu con, bằng với cùng kỳ. 

Sản lượng thủy sản nuôi trồng thu hoạch tháng 3/2025 ước đạt 589 tấn, tăng 3,9% so với cùng kỳ. Chia ra sản lượng cá các loại 293 tấn, tăng 3,9%, tôm các loại 229 tấn, tăng 4,1%; thủy sản khác 67 tấn, tăng 3,1%. Tính chung 3 tháng đầu năm sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 1.819 tấn, tăng 4,5% so với cùng kỳ. Chia ra cá các loại 1.002 tấn, tăng 4,9%, tôm các loại 750 tấn, tăng 4,2%; thủy sản khác 67 tấn, tăng 3,1% so với cùng kỳ.

Tình hình khai thác thủy sản: Tháng 3/2025 thời tiết thuận lợi cho việc khai thác thủy sản, để chuẩn bị cho vụ đánh bắt cá Nam năm 2025, các tàu đánh bắt xa bờ mua sắm đầy đủ các loại ngư lưới cụ phục vụ đánh bắt dài ngày. Sản lượng thủy sản khai thác tháng 3/2025 ước đạt 4.025 tấn, tăng 1,5% so với cùng kỳ; trong đó khai thác biển 3.744 tấn, tăng 1,6%; khai thác nội địa 281 tấn, giảm 0,4%. Tính chung 3 tháng đầu năm sản lượng khai thác ước đạt 8.042 tấn, tăng 1,8% so với cùng kỳ; trong đó khai thác biển 7.330 tấn, tăng 2,2%; khai thác nội địa 712 tấn, giảm 1,2% so với cùng kỳ.

Tính chung ba tháng đầu năm 2025 sản lượng thủy sản nuôi trồng và khai thác ước đạt 9.861 tấn, tăng 2,3% so với cùng kỳ.

8. Sản xuất Công nghiệp

Trong 3 tháng đầu năm 2025, công nghiệp của thành phố Huế dự ước đạt mức tăng trưởng cao nhờ năng lực mới tăng được bổ sung từ năm trước, như các dự án sản xuất ô tô Kim Long motor và găng tay Kanglongda. Ngoài ra, ngành sản xuất điện tăng trưởng mạnh nhờ lượng nước dồi dào về các hồ chứa, qua đó góp phần duy trì tăng trưởng chung của toàn ngành. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 3 năm 2025 ước tăng 18,2% so với cùng kỳ. Tính chung 3 tháng đầu năm 2025 chỉ số IIP tăng 16,1% so với cùng kỳ.

 Chỉ số IIP tháng 3/2025 tăng 18,2% so với cùng kỳ, trong đó: công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 16,1%; sản xuất và phân phối điện tăng 65,1%; ngành công nghiệp khai khoáng giảm 20,5%; cấp nước và thu gom rác thải giảm 0,03%. Tính chung 3 tháng đầu năm chỉ số IIP tăng 16,1% so với cùng kỳ, trong đó: công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 14,0%; sản xuất và phân phối điện tăng 47,5%; cấp nước và thu gom rác thải tăng 0,4%; riêng ngành công nghiệp khai khoáng giảm 21,5%;

Trong 3 tháng đầu năm 2025, các ngành công nghiệp cấp 4 có chỉ số sản xuất tăng so với cùng kỳ: sản xuất ô tô tăng hơn 10,8 lần; sản xuất sản phẩm khác từ cao su tăng (+1,6 lần); sản phẩm sản xuất từ plastic (+35,6%), sản xuất, truyền tải và phân phối điện (+47,5%); cưa, xẻ, bào gỗ và bảo quản gỗ (+15,7%); sản xuất plastic và cao su tổng hợp dạng nguyên sinh (+27,8%); sản xuất vật liệu từ đất sét (+22,6%); hoạt động thu gom rác thải không độc hại (+7,8%)…

Bên cạnh những dấu hiệu tích cực thì hiện nay một số ngành sản xuất công nghiệp vẫn đang gặp nhiều không ít những khó khăn: nhu cầu tiêu dùng ở các đối tác thương mại lớn suy giảm làm cho hoạt động xuất khẩu giảm sâu; lượng hàng tồn kho của các doanh nghiệp tăng cao; sự cạnh tranh của các đối thủ trong nước; áp lực từ thị trường và đối tác về yêu cầu phát triển bền vững và chuyển đổi xanh, các doanh nghiệp phải đối mặt với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt. Dự ước các ngành công nghiệp cấp 4 trong 3 tháng đầu năm 2025 có chỉ số sản xuất giảm so với cùng kỳ: khai thác quặng kim loại khác không chứa sắt (-10,9%); khai thác đá, cát, sỏi, đất sét (-22,2%); chế biến, bảo quản thuỷ sản và các sản phẩm từ thuỷ sản (-5,0%); sản xuất bia và mạch nha ủ men bia (-31,2%); dệt (-11,0%); sản xuất sản phẩm từ chất khoáng phi kim loại khác chưa được phân vào đâu (-33,3%); sản xuất máy vi tính và thiết bị ngoại vi của máy vi tính (-20,0%)…

Các sản phẩm công nghiệp ước 3 tháng đầu năm 2025 tăng so với cùng kỳ năm trước: túi xách 1.558,2 nghìn cái (+14,6%); dăm gỗ 171,6 nghìn tấn (+15,7%); cao su tổng hợp và các chất thay thế cao su dẫn xuất từ dầu, ở dạng nguyên sinh hoặc tấm lá hoặc dải 1,7 nghìn tấn (+27,9%); găng tay, găng hở ngón và găng bao tay bằng cao su lưu hoá 236,8 tấn (+160,2%); hàng may mặc và đồ phụ trợ may mặc bằng plastic 5,3 nghìn tấn (+289,6%); gạch men 3,0 triệu m2 (+26,0%); ô tô 934 chiếc (+4.145,5%); điện sản xuất 535,2 triệu KWh (+65,2%); điện thương phẩm 478,0 triệu KWh (+7,2%)...

Các sản phẩm công nghiệp ước 3 tháng đầu năm 2025 giảm so với cùng kỳ: quặng inmenit và tinh quặng inmenit 4,9 nghìn tấn (-10,9%); đá xây dựng khác 183,8 nghìn m3 (-25,6%); tôm đông lạnh 709,6 tấn (-5,0%); bia 54,5 triệu lít (-31,7%); sợi 23,9 nghìn tấn (-11,0%)…

Chỉ số sử dụng lao động tháng 3 năm 2025 tăng 0,3% so với tháng trước và tăng 10,8% so với cùng kỳ. Tính chung chỉ số sử dụng lao động 3 tháng đầu năm tăng 10,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó tập trung vào một số ngành: sản xuất da và các sản phẩm có liên quan (+6,1%); sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic (+147%); sản xuất xe có động cơ (+183,0%); công nghiệp chế biến, chế tạo khác (+3,5%); sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí (+4,0%). Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số sử dụng lao động giảm đó là: sản xuất chế biến thực phẩm (-3,5%); dệt (-3,4%); sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy (-13,5%); sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (-5,4%); sản xuất phương tiện vận tải khác (-13,9%) ...

9. Thương mại, dịch vụ

Trong 3 tháng đầu năm, nhiều sự kiện văn hóa nghệ thuật diễn ra trên địa bàn thành phố, trong đó nổi bật nhất là sự kiện văn hóa chào mừng khai mạc Năm du lịch quốc gia - Huế 2025 diễn ra vào ngày 25/3/2025 lấy chủ đề "Lời tự tình dòng sông" với chương trình nghệ thuật đặc sắc và màn pháo hoa rực rỡ tại sân khấu nổi trên sông Hương và các sự kiện kỷ niệm 50 năm ngày giải phóng Huế 26/3. Để tổ chức “Năm Du lịch quốc gia - Huế 2025” thành phố Huế đã đăng cai tổ chức chuỗi 75 hoạt động chính gắn với Festival Huế bốn mùa, nhiều hoạt động văn hóa cổ truyền mang đậm nét dân gian, thu hút đông đảo khách du lịch trong và ngoài nước đến Huế, góp phần đẩy mạnh hoạt động thương mại, dịch vụ và vận tải trên địa bàn thành phố.

Kết quả hoạt động thương mại, dịch vụ và vận tải trên địa bàn thành phố quý I năm 2025 ước đạt như sau:

9.1. Bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Tình hình thương mại dịch vụ quý I năm 2025 có sự tăng trưởng tích cực. Việc khai trương trung tâm thương mại Aeon Mall Huế và Mini Go Hương Trà từ cuối năm 2024 đã tạo ra điểm mua sắm hấp dẫn thu hút đông đảo người dân và du khách. Ngoài ra, trong tháng 3 với sự kiện Huế đăng cai tổ chức năm du lịch quốc gia, các chương trình du lịch dịch vụ và hoạt động xúc tiến thương mại được đẩy mạnh kéo theo doanh thu tiêu dùng tăng. Dự ước quý 1 năm 2025, tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 15,6% so với cùng kỳ.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 3/2025 ước đạt 5.282 tỷ đồng, tăng 2,2% so với tháng trước và tăng 16,1% so với cùng kỳ. Chia theo ngành kinh tế: Bán lẻ hàng hóa ước đạt 3.705 tỷ đồng, chiếm 70,1% trong tổng số, tăng 1,6% so với tháng trước và tăng 13,7% so với cùng kỳ; nguyên nhân tăng so với tháng 2 là do trong tháng 3, nhu cầu một số mặt hàng tăng dịp lễ Quốc tế phụ nữ và phong tục cúng đất tháng 2 âm lịch hàng năm của người Huế, các lễ hội chào mừng khai mạc Năm du lịch quốc gia và kỷ niệm ngày giải phóng thành phố Huế. Doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống đạt 1.082 tỷ đồng, chiếm 20,5%, tương ứng tăng 3,3% và tăng 22,7%; dịch vụ du lịch lữ hành đạt 31 tỷ đồng, chiếm 0,6%, tăng 0,3% và tăng 32,6%; doanh thu dịch vụ khác 464 tỷ đồng, chiếm 8,8%, tăng 3,7% và tăng 19,8%.

Dự ước tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng quý I/2025 đạt 15.722 tỷ đồng, tăng 15,6% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 11.067 tỷ đồng, tăng 13,1%; dịch vụ lưu trú và ăn uống đạt 3.176 tỷ đồng, tăng 22,7%; du lịch lữ hành đạt 93 tỷ đồng, tăng 30,7%; dịch vụ khác đạt 1.386 tỷ đồng, tăng 19,6%. 

9.2. Vận tải hành khách và hàng hóa

Hoạt động vận tải hành khách và hàng hoá trên địa bàn thành phố quý I năm 2025 diễn ra sôi động, 2 tháng đầu năm trùng với dịp Tết Nguyên đán, vận tải hành khách tăng mạnh do nhu cầu người dân đi làm ăn xa về quê ăn tết và quay trở lại nơi làm việc sau tết. Bước sang tháng 3, Huế tưng bừng, rộn ràng tổ chức nhiều sự kiện, hoạt động văn hóa, triển lãm chào mừng Lễ Khai mạc năm du lịch quốc gia và kỉ niệm 50 năm ngày giải phóng, người dân trong và ngoài thành phố đi lại vui chơi khá nhộn nhịp. Bên cạnh đó, sau thời gian nghỉ ngơi vui xuân, các cơ sở vận tải hàng hóa đã hoạt động trở lại, thúc đẩy nhu cầu vận chuyển hàng hoá tiêu dùng, nguyên nhiên liệu sản xuất, thi công công trình tăng. Do đó dự ước doanh thu hoạt động của vận tải hành khách và hàng hóa quý này tăng khá so với cùng kỳ.

Vận tải hành khách tháng 3/2025 ước đạt 3.443,2 nghìn lượt khách, giảm 0,4% so với tháng trước và tăng 18,1% so với cùng kỳ; luân chuyển là 168,2 triệu lượt khách.km, giảm 0,5% và tăng 16,9%. Dự ước vận tải hành khách quý I/2025 đạt 10.252,5 nghìn hành khách, tăng 15,9% và 501,2 triệu hành khách.km, tăng 14,4% so với cùng kỳ.

Dự ước hàng hóa vận chuyển tháng 3/2025 ước đạt 2.019 nghìn tấn, tăng 2,1% so với tháng trước và tăng 10,8% so với cùng kỳ; hàng hóa luân chuyển đạt 168,6 triệu tấn.km, tăng 2,1% và tăng 12,5%. Đưa hàng hóa vận chuyển quý I/2025 ước đạt 6.028,1 nghìn tấn, tăng 9,1% và luân chuyển đạt 503,7 triệu tấn.km, tăng 11,1% so với cùng kỳ.

Dự ước doanh thu vận tải, kho bãi và bưu chính chuyển phát tháng 3/2025 đạt 490 tỷ đồng, tăng 1,7% so với tháng trước và tăng 14,5% so với cùng kỳ. Tính chung quý I năm 2025, doanh thu vận tải, bốc xếp ước đạt 1.459 tỷ đồng, tăng 14,5% so cùng kỳ. Chia theo loại hình dịch vụ: doanh thu vận tải hành khách ước đạt 316 tỷ đồng, tăng 17,1%; vận tải hàng hóa ước đạt 1.020 tỷ đồng, tăng 12,2%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 115 tỷ đồng, tăng 30,7%; bưu chính chuyển phát ước đạt 8 tỷ đồng, tăng 17,3% so với cùng kỳ. Trong đó doanh thu vận tải bao gồm: đường bộ đạt 1.336 tỷ đồng, tăng 13,3%; đường sông đạt 1 tỷ đồng, tăng 29,6%.

9.3. Lượt khách các cơ sở lưu trú phục vụ và du lịch lữ hành

Trong những tháng đầu năm, trên địa bàn thành phố diễn ra nhiều lễ hội, hoạt động chào đón tết cổ truyền Ất Tỵ 2025 với nhiều chương trình đón tết nằm trong Lễ hội mùa Xuân "Xuân Cố đô", đã thu hút nhiều lượt khách đến Huế du lịch và trải nghiệm. Đáng chú ý trong tháng 3, hàng loạt sự kiện văn hóa chào mừng khai mạc Năm du lịch quốc gia và kỷ niệm 50 năm giải phóng Huế 26/3 với các hoạt động văn hóa kết hợp tuyên truyền, quảng bá hình ảnh thành phố du lịch Huế đến với du khách trong và ngoài nước. Dự ước lượt khách lưu trú quý I tăng cao so với cùng kỳ.

Lượt khách do cơ sở lưu trú phục vụ tháng 3/2025 ước đạt 209,9 nghìn lượt khách, tăng 4,4% so với tháng trước và tăng 17,6% so với cùng kỳ. Trong đó, lượt khách ngủ qua đêm tháng 3/2025 174,4 nghìn lượt khách, tăng 4,6% so với tháng trước và tăng 18% so với cùng kỳ; lượt khách trong ngày 35,5 nghìn lượt khách, tăng 3,5% so với tháng trước và tăng 15,5% so với cùng kỳ. Đưa lượt khách do các cơ sở lưu trú phục vụ 3 tháng đầu năm 2025 đạt 599,2 nghìn lượt, tăng 24,1% so với cùng kỳ. Trong đó, lượt khách ngủ qua đêm 3 tháng đầu năm đạt 495,4 nghìn lượt, tăng 27,4% so cùng kỳ; lượt khách trong ngày 103,8 nghìn lượt, tăng 10,7% so với cùng kỳ. Trong lượt khách ngủ qua đêm, khách quốc tế 222,6 nghìn lượt, tăng 17,1%; khách trong nước 272,9 nghìn lượt, tăng 37,2% so với cùng kỳ. 

Ngày khách tháng 3/2025 ước đạt 289,8 nghìn ngày, tăng 4,6% so với tháng trước và tăng 14,7% so với cùng kỳ. Trong đó: ngày khách quốc tế 141,7 nghìn ngày, tăng 3,5% so với tháng trước và tăng 4,1% so với cùng kỳ; ngày khách trong nước 148,1 nghìn ngày, tăng 5,6% so với tháng trước và tăng 32,8% so với cùng kỳ. Đưa ngày khách 3 tháng đầu năm ước đạt 830,5 nghìn ngày, tăng 25,2% so với cùng kỳ. Trong đó: Ngày khách quốc tế 386,4 nghìn ngày, tăng 13,6%; ngày khách trong nước 444 nghìn ngày, tăng 37,3%.

Lượt khách phục vụ của các cơ sở lữ hành thực hiện tháng 3/2025 ước đạt 17,9 nghìn lượt, tăng 1,1% so với tháng trước và tăng 28,6% so với cùng kỳ; đưa lượt khách 3 tháng đầu năm ước đạt 53,3 nghìn lượt, tăng 30,8% so với cùng kỳ. Ngày khách theo tour tháng 3/2025 ước đạt 36,9 nghìn ngày, tăng 3,1% so với tháng trước và tăng 26,8% so với cùng kỳ. Đưa ngày khách theo tour 3 tháng đầu năm ước đạt 109,5 nghìn ngày khách, tăng 28,4% so với cùng kỳ.

10. Các vấn đề xã hội

10.1. Giải quyết việc làm

Trong quý I/2025, chính quyền thành phố chỉ đạo ngành chức năng tiếp tục thực hiện các giải pháp phát triển thị trường lao động; nâng cao chất lượng công tác dự báo và thông tin thị trường lao động nhằm đẩy mạnh công tác kết nối cung cầu lao động trên địa bàn; mở rộng thị trường đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Triển khai đồng bộ các cơ chế, chính sách tạo việc làm, giải quyết việc làm và đào tạo nghề để người lao động có đủ điều kiện vào việc tại các doanh nghiệp và đi làm việc nước ngoài. Sản xuất kinh doanh của các ngành, lĩnh vực kinh tế quý I/2025 tiếp tục phát triển, thu hút số lượng người lao động tham gia làm việc nên tỷ lệ lao động thất nghiệp, thiếu việc làm quý I/2025 giảm so cùng kỳ. Ước tính tỷ lệ thất nghiệp quý I/2025 là 2,04%, giảm 0,02 phần trăm so quý I/2024; bao gồm thành thị 2,08%, giảm 0,01%; nông thôn 2,0%, giảm 0,03%.

10.2. Đời sống dân cư

Trong quý I/2025, sản xuất kinh doanh của các ngành kinh tế tiếp tục phát triển, nhờ vậy đời sống của các tầng lớp nhân dân và người lao động tiếp tục ổn định và từng bước phát triển. Tình hình chi thưởng cho người lao động trong dịp Tết Dương lịch 2025 và Tết Nguyên đán Ất Tỵ được các cộng đồng doanh nghiệp quan tâm. Khu vực nông nghiệp nông thôn tiếp tục thực hiện thành công một số mô hình, chương trình, đề tài phục vụ sản xuất cho lao động nông thôn, nhờ vậy đời sống của người dân ở khu vực nông nghiệp nông thôn tiếp tục giữ được ổn định và có bước phát triển. 

10.3. Chính sách - xã hội

Chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng được thực hiện kịp thời và đầy đủ; các hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa”, “Uống nước nhớ nguồn” được quan tâm. Nhân dịp Tết Nguyên đán Ất Tỵ năm 2025, các ngành chức năng phối hợp với chính quyền các cấp đã thăm hỏi, chúc Tết và tặng quà cho các đối tượng từ ngân sách nhà nước và các nguồn xã hội hóa trên địa bàn toàn thành phố với 179.533 suất quà, tổng kinh phí gần 60,9 tỷ đồng.

Công tác giảm nghèo: UBND thành phố đã chỉ đạo các ngành, địa phương tập trung thực hiện các giải pháp đồng bộ, có hiệu quả chương trình, dự án giảm nghèo; lồng ghép chính sách và nguồn lực có hiệu quả để phát triển kinh tế, thoát nghèo. 

10.4. Giáo dục 

Triển khai công tác học kỳ II năm học 2024-2025 theo hướng đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Trung tuần tháng 3, tổ chức kỳ thi chọn học sinh giỏi thành phố cấp THCS năm học 2024-2025 tại Trường THCS Nguyễn Tri Phương diễn ra nghiêm túc. Tham gia gồm 1.185 học sinh lớp 8 và lớp 9 các trường THCS với 8 môn thi.

 Tổ chức Ngày hội Open Day 2025 với chủ đề “Kiến tạo tương lai” đã thu hút hơn 2.300 học sinh từ các trường THCS trên địa bàn và nhiều đơn vị, doanh nghiệp tham gia. Đây là cơ hội để học sinh và phụ huynh tìm hiểu về môi trường học tập, chương trình đào tạo, các ngành nghề triển vọng cũng như cơ hội việc làm. Ngày hội hướng đến việc truyền cảm hứng, cung cấp thông tin hữu ích và hỗ trợ học sinh trong việc định hướng nghề nghiệp phù hợp với xu thế phát triển của xã hội.

Kỳ thi “Olympic Tin học miền Trung - Tây Nguyên” lần thứ VI năm 2025 diễn ra từ ngày 20-22/3/2025. Đây là kỳ thi lập trình thường niên dành cho học sinh THCS, THPT yêu thích công nghệ và là sân chơi bổ ích, đam mê, học hỏi, thực hành và sáng tạo. Huế tham dự với 10 học sinh xuất sắc đạt được 7 giải gồm 1 HCV, 1 HCB và 5 HCĐ.

10.5. Hoạt động văn hóa, thể thao 

Tổ chức các hoạt động văn hóa mừng Đảng mừng Xuân Ất Tỵ 2025 với chương trình biểu diễn nghệ thuật “Mừng Đảng, mừng Xuân, mừng đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam” phục vụ nhân dân và du khách; Hội Báo Xuân Ất Tỵ với chủ đề “Báo Chí Huế: Đổi mới - Sáng tạo - Nhân văn - Hiện đại”; Lễ hội Đền Huyền Trân với chủ đề “Ngưỡng vọng tiền nhân”...

Triển khai tổ chức Lễ phát động Cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”; Hưởng ứng Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân năm 2025 và Giải Việt dã truyền thống thành phố Huế lần thứ 33; Tổ chức giải vô địch các CLB vật cổ điển tự do Quốc gia 2025, đội tuyển vật Huế tham dự với 17 VĐV nam và nữ tranh tài nội dung vật tự do; giải bơi lặn vô địch Quốc gia bể 25m năm 2025 khởi tranh tại bể bơi Trung tâm thể thao thành phố Huế, thu hút gần 250 VĐV đến từ 24 tỉnh, thành, ngành tham dự. Đội tuyển Huế góp mặt 14 VĐV với mục tiêu học hỏi kinh nghiệm; giải đua ghe truyền thống quận Phú Xuân và Thuận Hóa lần thứ I năm 2025 được tại Công viên Trịnh Công Sơn. Quy tụ gần 500 VĐV nam, nữ đến từ 12 đơn vị tham gia. Giải là dịp để các VĐV giao lưu, tăng cường mối đoàn kết, đồng thời tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”.

10.6. Y tế

Tháng 3/2025, trên địa bàn có 15 ca sốt xuất huyết, giảm 10 ca so với cùng kỳ; có 22 ca mắc tay chân miệng, tăng 18 ca; có 400 ca sốt phát ban, tăng 400 ca; có 11 ca sởi, tăng 11 ca. Ba tháng đầu năm, trên địa bàn có 76 ca sốt xuất huyết, giảm 59 ca so cùng kỳ; có 41 ca mắc tay chân miệng, tăng 26 ca; có 662 ca sốt phát ban, tăng 660 ca và sởi 57 ca, tăng 57 ca.

Tháng 2/2025, trên địa bàn đã phát hiện 12 ca nhiễm mới HIV, tăng 4 ca so cùng kỳ; có 6 ca chuyển qua AIDS, tăng 3 ca; không có ca tử vong, bằng cùng kỳ. Hiện tại, trên địa bàn có 572 bệnh nhân đang được quản lý và điều trị tại các cơ sở y tế, trong đó có 565 bệnh nhân điều trị ARV.

Tháng 3/2025, trên địa bàn không xảy ra ngộ độc thực phẩm, giảm 1 ca so với cùng kỳ. Ba tháng đầu năm, trên địa bàn không xảy ra ngộ độc thực phẩm, giảm 1 ca so với cùng kỳ.

10.7. Tình hình trật tự, an toàn xã hội 

Theo báo cáo của Ban ATGT thành phố, từ 15/02/2025 đến 14/3/2025, trên địa bàn đã xảy ra 17 vụ tai nạn giao thông, giảm 6 vụ so với cùng kỳ; làm 8 người chết, giảm 5 người; làm bị thương 11 người, giảm 12 người. Ba tháng đầu năm, trên địa bàn xảy ra 62 vụ tai nạn giao thông, giảm 26 vụ so với cùng kỳ; làm chết 28 người, giảm 10 người và làm bị thương 46 người, giảm 24 người.

10.8. Tình hình cháy nổ và bảo vệ môi trường

Trong tháng 3/2025 trên địa bàn không có vụ cháy, giảm 2 vụ so cùng kỳ, giảm 2 vụ so với tháng trước. Ba tháng đầu năm, trên địa bàn xảy ra 2 vụ cháy, giảm 1 vụ so với cùng kỳ, không có thiệt hại về người, giá trị tài sản thiệt hại 10 triệu đồng.

Trong tháng 3/2025 trên địa bàn phát hiện 4 vụ vi phạm môi trường, giảm 25 vụ so với cùng kỳ, giảm 10 vụ so với tháng trước. Các hình thức vi phạm môi trường trong tháng gồm: 1 vụ phá rừng trái phép, 3 vụ vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm. Các ngành chức năng đã tiến hành xử lý 3 vụ với số tiền xử phạt 42,5 triệu đồng. Ba tháng đầu năm, trên địa bàn xảy ra 42 vụ vi phạm môi trường, giảm 37 vụ so với cùng kỳ; tiến hành xử lý 41 vụ với tổng số tiền 281,7 triệu đồng.

10.9. Thiệt hại do thiên tai

Tháng 3/2025 không xảy ra thiên tai, bằng cùng kỳ, bằng tháng trước. Ba tháng đầu năm, trên địa bàn không xảy ra thiên tai, bằng cùng kỳ.

Khái quát lại: trong quý I năm 2025, dưới sự chỉ đạo của Thành ủy, HĐND, UBND đã triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và đầu tư, tình hình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn thành phố có những chuyển biến tích cực hơn so với cùng kỳ. Tốc độ tăng trưởng GRDP đạt khá cao; sản xuất nông nghiệp duy trì ổn định, các địa phương đã chủ động các biện pháp phòng chống dịch bệnh trên cây trồng vật nuôi và có ứng phó kịp thời trong công tác thủy lợi phục vụ cho sản xuất nông nghiệp; sản xuất công nghiệp tiếp tục phát triển ổn định, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng cao; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng, khách du lịch tăng khá; chuỗi cung ứng toàn cầu được nối lại, kim ngạch xuất nhập khẩu tăng trưởng mạnh; thu ngân sách được tập trung chỉ đạo ngay từ đầu năm đã đạt kết quả tích cực; hoạt động xúc tiến, thu hút đầu tư diễn ra sôi nổi, tổ chức thành công nhiều hội nghị xúc tiến, kêu gọi nhà đầu tư đến khảo sát, tìm hiểu môi trường để đầu tư; tết Nguyên đán được tổ chức vui tươi, tiết kiệm, an toàn; các chính sách an sinh xã hội được triển khai kịp thời; trật tự an toàn trên địa bàn được đảm bảo.

CHI CỤC THỐNG KÊ THÀNH PHỐ HUẾ