Tình hình kinh tế xã hội tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2025 trên địa bàn Thành phố Huế
1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
Sản xuất nông nghiệp tháng 4 diễn ra trong điều kiện thời tiết thuận lợi, cây trồng sinh trưởng phát triển tốt, công tác phòng trừ bệnh trên đàn vật nuôi thực hiện có hiệu quả, tổng đàn lợn tại thời điểm 30/4/2025 dự ước tăng 2,7%; sản lượng gỗ khai thác rừng trồng trong 4 tháng ước tăng 4,4%; sản lượng thủy sản khai thác biển ước tăng 2,3% so với cùng kỳ.
1.1. Nông nghiệp
Trồng trọt
Gieo cấy lúa vụ Đông Xuân 2025 toàn tỉnh đạt 27.891 ha, giảm 0,1% so với vụ Đông Xuân năm 2024. Hiện nay cây lúa đang sinh trưởng và phát triển tốt, đã trổ khoảng 63% diện tích. Đợt mưa và gió lớn ngày 13/4 làm cho một số cánh đồng ở các địa phương bị đổ ngã, như Phú Vang 475 ha, Phong Điền 265 ha, Quảng Điền 95 ha, Hương Thủy 106 ha và một số diện tích nhỏ ở các huyện khác. Tuy nhiên các địa phương đã xử lý kịp thời và chăm sóc các diện tích đổ ngã theo đúng hướng dẫn của cơ quan chức năng nên không có thiệt hại xảy ra.
Diện tích gieo trồng các loại cây hằng năm khác: ngô ước đạt 902 ha, giảm 1,4%; khoai lang 379 ha, giảm 1,8%; lạc 2.047 ha, giảm 1,8%; rau các loại 2.789 ha, giảm 0,4%; đậu các loại 501 ha, giảm 2,0% so với cùng kỳ.
Chăn nuôi
Chăn nuôi gia súc, gia cầm trên địa bàn TP. Huế trong tháng 4 không xảy ra dịch bệnh, công tác phòng dịch, vệ sinh môi trường chăn nuôi được chú trọng. Công tác quản lý chăn nuôi và giết mổ được tiến hành chặt chẽ. Các trạm thú y tiếp tục đôn đốc, chỉ đạo công tác kiểm soát giết mổ gia súc, gia cầm, duy trì tốt công tác tiêu độc khử trùng, chuồng trại và khu vực giết mổ gia súc.
Số lượng gia súc, gia cầm ước thời điểm 30/4/2025: đàn trâu 15.126 con, giảm 0,3%; đàn bò 29.436 con, tăng 2,0%; đàn lợn (không bao gồm lợn con chưa tách mẹ) 126.394 con, tăng 2,7%; đàn gia cầm 5.042 nghìn con, tăng 1,8%, trong đó đàn gà 3.449 nghìn con, tăng 1,9%.
Tiến độ tiêm phòng đến ngày 20/4/2025 đã tiêm được 25.253 liều THT Trâu bò, 28.320 liều tam liên, 4.890 liều E.coli, 400.410 liều Cúm gia cầm, 260.300 liều Dịch tả vịt, 198.040 liều Newcastle, 8.310 liều THT gia cầm, 44.600 liều Đậu gà, 78.250 liều Gumboro, 46.879 liều Vacxin dại.
1.2. Lâm nghiệp
Ước diện tích trồng rừng mới tập trung tháng 4/2025 đạt 812 ha, tăng 2,8% so với cùng kỳ. Tính chung 4 tháng đầu năm diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 2.940 ha, tăng 2,4%. Nguyên nhân tăng do thời tiết những tháng đầu năm thuận lợi cho trồng mới rừng.
Sản lượng gỗ khai thác từ rừng trồng trong tháng 4/2025 ước đạt 64.269 m3, tăng 4,9%. Tính chung 4 tháng đầu năm sản lượng gỗ khai thác từ rừng trồng ước đạt 231.519 m3, tăng 4,4% so với cùng kỳ. Nguyên nhân sản lượng gỗ khai thác lũy kế tăng do các nhà máy chế biến dăm gỗ tăng thu mua, đồng thời giá bán gỗ nguyên liệu ổn định.
Trong tháng 4 đã xảy ra 1 vụ phá rừng để làm nương rẫy. Cộng dồn 4 tháng năm 2025, số vụ phá rừng là 5 vụ, tăng 1 vụ so với cùng kỳ; diện tích rừng bị phá là 0,4 ha, bằng với cùng kỳ.
1.3. Thủy sản
Tình hình khai thác thủy sản:
Sản lượng thủy sản khai thác biển trong tháng 4/2025 ước đạt 4.655 tấn, tăng 2,5% so với cùng kỳ; trong đó sản lượng cá khai thác biển 4.077 tấn, tăng 2,5%, sản lượng thủy sản khác 475 tấn, tăng 2,6%. Lũy kế sản lượng khai thác thủy sản biển bốn tháng đầu năm 2025 ước đạt 11.985 tấn, tăng 2,3% so cùng kỳ; trong đó cá khai thác biển 10.495 tấn, tăng 2,3%, sản lượng thủy sản khác 1.222 tấn, tăng 2,3% so với cùng kỳ.
Tình hình nuôi trồng thủy sản
Tháng 4/2025 là thời gian chính vụ tập trung thả nuôi các loại thủy sản, các ngành chức năng khuyến cáo các địa phương thả nuôi đúng khung lịch thời vụ, đảm bảo mật độ, áp dụng mô hình nuôi xen ghép tôm sú, cua, cá trên một đơn vị diện tích nhằm hạn chế dịch bệnh và rủi ro trong nuôi trồng. Bên cạnh đó đa dạng các đối tượng nuôi có giá trị kinh tế cao góp phần nâng cao hiệu quả nuôi trồng thủy sản.
Diện tích nuôi trồng thủy sản thâm canh tháng 4/2025 ước đạt 74 ha, tăng 2,8% so cùng kỳ. Lũy kế diện tích nuôi trồng thủy sản thâm canh 4 tháng đầu năm 2025 ước đạt 245 ha, tăng 2,1% so với cùng kỳ.
Sản lượng thủy sản nuôi trồng thu hoạch tháng 4/2025 ước đạt 1.172 tấn, tăng 4,9% so với cùng kỳ; chia ra cá 403 tấn, tăng 5,5%, tôm các loại 712 tấn, tăng 4,7%, thủy sản khác 57 tấn, tăng 3,6% so với cùng kỳ. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2025 sản lượng thủy sản nuôi trồng thu hoạch ước đạt 2.991 tấn, tăng 4,7% so với cùng kỳ; chia ra cá 1.405 tấn, tăng 5,1%, tôm các loại 1.462 tấn, tăng 4,4% thủy sản khác 124 tấn, tăng 3,3% so cùng kỳ.
2. Sản xuất công nghiệp
Trong tháng 4/2025, các năng lực sản xuất mới tăng thêm được bổ sung từ năm trước như dự án ô tô Kim Long Motor và găng tay Kanglongda tiếp tục đóng góp tích cực cho tăng trưởng ngành công nghiệp của thành phố. Ngoài ra, ngành sản xuất điện cũng ghi nhận mức tăng cao nhờ nguồn nước dồi dào tại các hồ chứa, qua đó góp phần duy trì vào tăng trưởng chung của toàn ngành. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 4/2025 ước tăng 13,7% so với cùng kỳ năm trước; tính chung 4 tháng đầu năm 2025 chỉ số IIP tăng 15,8% so với cùng kỳ năm 2024.
Chỉ số IIP tháng 4/2024 tăng 13,7% cùng kỳ năm trước, trong đó: ngành công nghiệp khai khoáng tăng 3,6%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 14,4%; sản xuất và phân phối điện tăng 11,6%; cấp nước và thu gom rác thải tăng 6,5%. Tính chung 4 tháng đầu năm chỉ số IIP tăng 15,8% so với cùng kỳ, trong đó: công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 14,6%; sản xuất và phân phối điện tăng 37,5%; cấp nước và thu gom rác thải tăng 2,7%; riêng ngành công nghiệp khai khoáng giảm 14,3%.
Trong 4 tháng đầu năm 2025, các ngành công nghiệp cấp 4 có chỉ số sản xuất tăng so với cùng kỳ: sản xuất ô tô tăng hơn 14,1 lần so với cùng kỳ, nhờ năng lực bổ sung thêm từ nhà máy sản xuất ô tô Kim Long từ năm ngoái. Đây cũng là ngành tạo động lực bức phá cho tăng trưởng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong thời gian tới; sản xuất sản phẩm khác từ cao su tăng hơn 4 lần và sản phẩm sản xuất từ plastic (+21,2%), nguyên nhân là do nhà máy sản xuất găng tay Kanglongda đi vào hoạt động sản xuất có sản lượng đóng góp khá cho chỉ số sản xuất công nghiệp toàn thành phố; sản xuất, truyền tải và phân phối điện (+37,5%), nhờ lượng nước dồi dào về các hồ chứa, các nhà máy thủy điện đã hoạt động tối đa công suất, cùng với sự tham gia của các doanh nghiệp sản xuất điện mặt trời, góp phần làm sản lượng điện tăng cao; cưa, xẻ, bào gỗ và bảo quản gỗ (+41,5%); sản xuất plastic và cao su tổng hợp dạng nguyên sinh (+23,6%); sản xuất vật liệu từ đất sét (+16,8%); hoạt động thu gom rác thải không độc hại (+8,1%)…
Bên cạnh những dấu hiệu tích cực, hiện nay một số ngành sản xuất công nghiệp vẫn đang gặp không ít khó khăn do tách động tử chính sách thuế quan của Mỹ. Cùng với đó, nhu cầu tiêu dùng ở các đối tác thương mại lớn suy giảm làm cho hoạt động xuất khẩu giảm sâu; lượng hàng tồn kho của các doanh nghiệp tăng cao; sự cạnh tranh của các đối thủ trong nước; áp lực từ thị trường và đối tác về yêu cầu phát triển bền vững và chuyển đổi xanh, các doanh nghiệp phải đối mặt với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt. Dự ước các ngành công nghiệp cấp 4 trong 4 tháng đầu năm 2025 có chỉ số sản xuất giảm so với cùng kỳ: khai thác quặng kim loại khác không chứa sắt (-10,1%); khai thác đá, cát, sỏi, đất sét (-14,6%); chế biến, bảo quản thuỷ sản và các sản phẩm từ thuỷ sản (-10,5%); sản xuất bia và mạch nha ủ men bia (-23,9%); dệt (-8,7%); may trang phục (-4,3%); sản xuất sản phẩm từ chất khoáng phi kim loại khác chưa được phân vào đâu (-21,8%); sản xuất máy vi tính và thiết bị ngoại vi của máy vi tính (-19,1%)…
Các sản phẩm công nghiệp ước 4 tháng đầu năm 2025 tăng so với cùng kỳ năm trước: túi xách 1.940,6 nghìn cái (+6,5%); dăm gỗ 304,4 nghìn tấn (+15,7%); cao su tổng hợp và các chất thay thế cao su dẫn xuất từ dầu, ở dạng nguyên sinh hoặc tấm lá hoặc dải 2,3 nghìn tấn (+23,7%); găng tay, găng hở ngón và găng bao tay bằng cao su lưu hoá 4,4 nghìn tấn (+40 lần); hàng may mặc và đồ phụ trợ may mặc bằng plastic 3,1 nghìn tấn (+67,4%); gạch men 4,0 triệu m2 (+16,8%); ô tô 1.410 chiếc (+17,8 lần); điện sản xuất 654,5 triệu KWh (+52,3%); điện thương phẩm 680,4 triệu KWh (+6,8%)...
Các sản phẩm công nghiệp ước 4 tháng đầu năm 2025 giảm so với cùng kỳ: quặng inmenit và tinh quặng inmenit 6,6 nghìn tấn (-10,1%); đá xây dựng khác 461,4 nghìn m3 (-13,9%); tôm đông lạnh 1.059,7 tấn (-10,5%); bia 84,4 triệu lít (-22,2%); sợi 32,6 nghìn tấn (-8,7%); quần áo lót cho người lớn không dệt kim hoặc đan móc 125,3 triệu cái (-4,3%)…
Chỉ số sử dụng lao động tháng 4 năm 2025 tăng 0,8% so với tháng trước và tăng 6,5% so với cùng kỳ. Tính chung chỉ số sử dụng lao động 4 tháng đầu năm tăng 9,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó tập trung vào một số ngành: sản xuất da và các sản phẩm có liên quan (+3,5%); sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic (+132,3%); sản xuất xe có động cơ (+168,2%); công nghiệp chế biến, chế tạo khác (+3,5%); sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí (+5,6%). Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số sử dụng lao động giảm: sản xuất chế biến thực phẩm (-5,2%); dệt (-3,1%); sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy (-9,7%); sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (-6,5%); sản xuất phương tiện vận tải khác (-16,7%)...
3. Vốn đầu tư
Năm 2025 thành phố Huế xác định là năm tăng tốc, bứt phá, về đích; phấn đấu đạt kết quả cao nhất các mục tiêu, chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 – 2025. UBND thành phố Huế đã ban hành Chỉ thị số 32/CT-UBND ngày 27/12/2024 về thực hiện đầu tư công năm 2025 và các văn bản chỉ đạo điều hành công tác thực hiện giải ngân; chỉ đạo các chủ đầu tư đăng ký, xây dựng kế hoạch giải ngân vốn đầu tư công. Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch phát triển đô thị.
Nguồn vốn ngân sách Nhà nước đầu tư trên địa bàn thành phố Huế do địa phương quản lý ước thực hiện tháng 4/2025 đạt 426 tỷ đồng, đạt 9,3% kế hoạch năm, giảm 9,3% so cùng kỳ năm trước. Đưa nguồn vốn NSNN 4 tháng đầu năm 2025 đạt 1.347,3 tỷ đồng, đạt 29,3% KH năm, giảm 11% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn NSNN cấp tỉnh ước đạt 1.043,3 tỷ đồng, giảm 8,7%, vốn nhà nước cấp huyện ước đạt 304 tỷ đồng, giảm 18% so với cùng kỳ năm 2024.
Vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trong 4 tháng đầu năm tiếp tục tập trung vào các dự án chuyển tiếp như: tuyến đường bộ ven biển và cầu qua cửa biển Thuận An; văn phòng làm việc một số cơ quan đơn vị thuộc thành phố Huế giai đoạn 2; chương trình xây dựng thành phố Huế văn hóa du lịch thông minh, trụ sở Công an thành phố; quảng trường Văn hóa thể thao thành phố Huế; các dự án về bảo tồn di tích và Hệ thống kinh thành Huế, dự án chỉnh trang phát triển đô thị, nâng cấp các tuyến đường nội thị, các dự án phát triển về y tế, giáo dục, đảm bảo an sinh xã hội và an ninh quốc gia. Nguồn vốn NSNN 4 tháng đầu năm 2025 giảm so với cùng kỳ do một số nguyên nhân sau:
- Các công trình lớn như cầu vượt sông Hương đã cơ bản hoàn thành, cầu vượt biển Thuận An chuẩn bị hợp long, thông xe kỹ thuật, tiến độ thi công không cao như năm 2024, các dự án lớn khác như đường Tố Hữu nối dài mới khởi công, đường vành đai 3 chưa khởi công, một số dự án trên địa bàn thành phố vẫn đang chậm tiến độ, chậm khởi công do vướng mắc trong công tác đền bù, hỗ trợ tái định cư, thời gian bàn giao mặt bằng chậm, kế hoạch bố trí vốn từ ngân sách nhà nước tháng 4 năm 2025 giảm 27,8% so với cùng kỳ.
- Sau khi có chủ trương của Bộ Chính trị, Ban Bí thư tại Kết luận 126-KL-TW ngày 14/02/2025 và Kết luận 127-KL/TW ngày 28/02/2025 về sáp nhập một số đơn vị hành chính cấp tỉnh, tiếp tục sắp xếp cấp xã và đặc biệt là không tổ chức cấp huyện, thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, nguồn vốn đầu tư cấp huyện, xã giảm mạnh so với cùng kỳ.
- Các dự án vay ưu đãi (vốn ODA) phải tuân theo quy định của các Nghị định liên quan đến vay vốn, sửa đổi Hiệp định vay vốn của Chính phủ. Quy trình sửa đổi Hiệp định vay đối với các dự án cụ thể trải qua nhiều khâu, báo cáo nhiều cơ quan,… làm kéo dài thời gian giải ngân.
- Việc hoàn thiện các thủ tục về quy hoạch, môi trường, phòng cháy chữa cháy cũng ảnh hưởng đến thời gian hoàn thành công tác chuẩn bị đầu tư của nhiều dự án, đặc biệt đối với các dự án hạ tầng kỹ thuật, các dự án dân dụng như y tế và an sinh xã hội.
4. Thương mại, dịch vụ và giá cả
Tháng 4/2025 trên địa bàn thành phố diễn ra nhiều hoạt động văn hóa, sự kiện nổi bật nằm trong chuỗi lễ hội mùa Hạ Festival Huế và năm Du lịch quốc gia Huế 2025, cũng như chào mừng kỷ niệm 50 năm ngày giải phóng đất nước 30/4 và ngày quốc tế lao động 1/5 (Lễ hội điện Huệ Nam, Festival Âm nhạc, Ẩm thực quốc tế Huế, đêm nhạc Huế Mega Booming và những hoạt động văn hóa mang đậm nét dân gian) thu hút khách du lịch trong và ngoài nước đến Huế tham quan, trải nghiệm và mua sắm. Ngoài ra, giải chạy VNExpress Marathon Huế 2025 diễn ra vào ngày 6/4 đã thu hút hơn 12.000 vận động viên tham gia kết hợp du lịch, nghỉ dưỡng. Chuỗi sự kiện này không chỉ thúc đẩy tiêu dùng của người dân mà còn kích thích sức mua từ khách du lịch, đặc biệt là các mặt hàng quà lưu niệm, thực phẩm và may mặc.
4.1. Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Trong tháng 4, thành phố Huế tổ chức nhiều sự kiện văn hóa chào mừng các ngày lễ lớn 30/4,1/5 và cũng là tháng mở đầu cho Lễ hội mùa Hạ với chủ đề “Kinh thành tỏa sáng” diễn ra từ tháng 4 đến tháng 6 nhằm chào đón khách du lịch đến tham quan và mua sắm. Bên cạnh đó, các chính sách khuyến mại tại các siêu thị, cửa hàng cũng tác động tích cực đến sức mua của người dân, qua đó thúc đẩy tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trong tháng tăng cao so với cùng kỳ.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 4/2025 ước đạt 5.397 tỷ đồng, tăng 2,3% so với tháng trước và tăng 16,8% so với cùng kỳ. Chia theo ngành kinh tế: Bán lẻ hàng hóa ước đạt 3.804 tỷ đồng, chiếm 70,5% trong tổng số, tăng 2,1% so với tháng trước và tăng 15,3% so với cùng kỳ. Nguyên nhân tăng so với tháng trước do tháng 4/2025 là tháng diễn ra nhiều lễ hội lớn, do đó nhu cầu mua sắm trong dịp lễ tăng và tháng 4 nhu cầu xây dựng tiếp tục tăng làm cho nhóm hàng này cũng tăng mạnh so với tháng trước. Doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống tháng 4 ước đạt 1.100 tỷ đồng, chiếm 20,4%, tăng 2,1% so với tháng trước và tăng 21,9% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ lữ hành đạt 32 tỷ đồng, chiếm 0,6%, tương ứng tăng 1,2% và tăng 28,7%; doanh thu dịch vụ khác đạt 461 tỷ đồng, chiếm 8,5%, tăng 4,8% và tăng 16,6%.
Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng bốn tháng đầu năm 2025 đạt 21.109 tỷ đồng, tăng 15,8% so với cùng kỳ, trong đó doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 14.890 tỷ đồng, chiếm 70,5% tổng số và tăng 13,8%; dịch vụ lưu trú và ăn uống đạt 4.271 tỷ đồng, chiếm 20,2% và tăng 22,4%; dịch vụ lữ hành đạt 126 tỷ đồng, chiếm 0,6% và tăng 30,6%; dịch vụ khác đạt 1.822 tỷ đồng, chiếm 8,6% và tăng 17,2%.
4.2. Vận tải hành khách và hàng hóa
Hoạt động vận tải tháng 4 trên địa bàn diễn ra nhộn nhịp trong điều kiện thời tiết thuận lợi: vận tải hành khách đưa đón khách du lịch tham quan lễ hội, vận tải hàng hóa phục vụ nhu cầu nguyên vật liệu cho các công trình xây dựng. Dự ước 4 tháng đầu năm 2025, hành khách vận chuyển tăng 15,8%, hàng hóa vận chuyển tăng 9,5% so với cùng kỳ.
Dự ước tháng 4/2025 hành khách vận chuyển đạt 3,5 triệu hành khách, tăng 3,0% so với tháng trước và tăng 15,8% so với cùng kỳ; hành khách luân chuyển đạt 173,1 triệu hành khách.km, tăng 3,0% so với tháng trước và tăng 15,1% so với cùng kỳ. Tính chung 4 tháng đầu năm 2025, vận tải hành khách ước đạt 13,8 triệu hành khách, tăng 15,8% so với cùng kỳ và luân chuyển ước đạt 674,2 triệu hành khách.km, tăng 14,6%.
Dự ước hàng hóa vận chuyển tháng 4/2025 đạt 2,1 triệu tấn, tăng 1,8% so với tháng trước và tăng 10,9% so với cùng kỳ; hàng hóa luân chuyển đạt 170,4 triệu tấn.km, tăng 1,2% so với tháng trước và tăng 11,6% so với cùng kỳ. Tính chung 4 tháng đầu năm 2025, vận tải hàng hóa ước đạt 8,1 triệu tấn tăng 9,5% so với cùng kỳ và luân chuyển ước đạt 673,9 triệu tấn.km, tăng 11,2%.
Dự ước doanh thu vận tải, kho bãi và bưu chính chuyển phát tháng 4/2025 đạt 498,7 tỷ đồng, tăng 2,0% so với tháng trước và tăng 15,0% so với cùng kỳ. Đưa doanh thu vận tải, bốc xếp 4 tháng đầu năm 2025 ước đạt 1.957,1 tỷ đồng, tăng 14,6% so cùng kỳ. Chia theo loại hình dịch vụ: doanh thu vận tải hành khách ước đạt 424 tỷ đồng, tăng 16,7%; vận tải hàng hóa ước đạt 1.371,2 tỷ đồng, tăng 13,0%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 151,4 tỷ đồng, tăng 23,6%; bưu chính chuyển phát ước đạt 10,5 tỷ đồng, tăng 13,3% so với cùng kỳ. Trong đó doanh thu vận tải bao gồm: đường bộ đạt 1.793,4 tỷ đồng, tăng 13,8%; đường sông đạt 1,8 tỷ đồng, tăng 29,4%.
4.3. Lượt khách các cơ sở lưu trú phục vụ và du lịch lữ hành
Tháng 4, nhiều sự kiện văn hóa chào mừng các ngày lễ lớn cũng như các chương trình lễ hội đặc sắc trên địa bàn thành phố kéo dài đến cuối tháng đã tạo nên không khí lễ hội tưng bừng, rộn rã, mang đến cho du khách những trải nghiệm khác nhau về văn hóa, du lịch của thành phố di sản, thành phố Festival đặc trưng của Việt Nam, qua đó thúc đẩy lượt khách lưu trú tăng lên.
Dự ước lượt khách do cơ sở lưu trú phục vụ tháng 4/2025 đạt 218,9 nghìn lượt khách, tăng 1,2% so với tháng trước và tăng 28,9% so với cùng kỳ. Trong đó, lượt khách ngủ qua đêm tháng 4/2025 ước đạt 183,2 nghìn lượt khách, tăng 1,3% so với tháng trước và tăng 34,5% so với cùng kỳ; lượt khách trong ngày đạt 35,7 nghìn lượt khách, tăng 0,6% so với tháng trước và tăng 6,3% so với cùng kỳ. Đưa lượt khách do các cơ sở lưu trú phục vụ 4 tháng đầu năm 2025 đạt 824,8 nghìn lượt, tăng 26,4% so với cùng kỳ. Trong đó, lượt khách ngủ qua đêm 4 tháng đầu năm đạt 685 nghìn lượt, tăng 30,4% so cùng kỳ; lượt khách trong ngày đạt 139,7 nghìn lượt, tăng 9,7% so với cùng kỳ. Trong lượt khách ngủ qua đêm, khách quốc tế 304,9 nghìn lượt, tăng 19,5%; khách trong nước 380,1 nghìn lượt, tăng 40,8% so với cùng kỳ.
Ngày khách dự ước tháng 4/2025 đạt 304,8 nghìn ngày, tăng 1,5% so với tháng trước và tăng 31,9% so với cùng kỳ. Trong đó: Ngày khách quốc tế đạt 129,2 nghìn ngày, giảm 17,2% so với tháng trước và tăng 16,6% so với cùng kỳ; ngày khách trong nước đạt 175,6 nghìn ngày, tăng 21,9% so với tháng trước và tăng 46,0% so với cùng kỳ. Đưa ngày khách dự ước 4 tháng đầu năm đạt 1.145,6 nghìn ngày, tăng 28,1% so với cùng kỳ. Trong đó: Ngày khách quốc tế đạt 530 nghìn ngày, tăng 17,5%; ngày khách trong nước đạt 615,5 nghìn ngày, tăng 38,7%.
Lượt khách phục vụ của các cơ sở lữ hành thực hiện tháng 4/2025 ước đạt 18,2 nghìn lượt, tăng 1,1% với tháng trước và tăng 18,1% so với cùng kỳ; đưa lượt khách 4 tháng đầu năm ước đạt 71,6 nghìn lượt, tăng 27,4% so với cùng kỳ. Ngày khách theo tour ước thực hiện tháng 4/2025 là 38 nghìn ngày, tăng 1,3% so với tháng trước và tăng 19,9% so với cùng kỳ. Đưa ngày khách theo tour 4 tháng đầu năm ước đạt 148,1 nghìn ngày khách, tăng 26,7% so với cùng kỳ.
4.4. Giá cả
- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
Chỉ số giá tiêu dùng chung toàn thành phố tháng 4/2025 tăng 0,34% so với tháng trước. Nguyên nhân tăng chủ yếu là do nhu cầu tiêu dùng của người dân tháng này tăng. Các nhóm hàng tăng giá so với tháng trước, gồm: nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,65%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,34%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,34%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,31%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,25%; đồ ăn uống và thuốc lá tăng 0,19%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,05%. Có 02 nhóm giảm so với tháng trước là nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,22% và giao thông giảm 1,04%. Có 02 nhóm ổn định so với tháng trước là nhóm thuốc và dịch vụ y tế và giáo dục.
Chỉ số giá tiêu dùng chung toàn thành phố tháng 4/2025 tăng 1,32% so với tháng 12 năm trước và tăng 2,55% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 4 tháng đầu năm 2025 tăng 2,73% so với bình quân cùng kỳ năm trước, nguyên nhân chủ yếu là do một số nhóm hàng hóa và dịch vụ tăng như: thuốc và dịch vụ y tế tăng 14,27%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 5,68%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 5,62%; giáo dục tăng 2,99%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,62%.
- Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ
Chỉ số giá vàng tháng 4/2025 tăng 9,72% so với tháng trước, tăng 22,77% so với tháng 12 năm trước và tăng 42,58% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 4/2025 tăng 1,15% so với tháng trước, tăng 2,00% so với tháng 12 năm trước và tăng 3,53% so với cùng kỳ năm trước.
5. Tài chính
Tổng thu ngân sách trên địa bàn 4 tháng năm 2025 ước đạt 4.591,4 tỷ đồng, bằng 37,1% dự toán năm. Trong đó: Thu nội địa ước đạt 4.197,4 tỷ đồng, bằng 37,1% dự toán; thu thuế từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 390 tỷ đồng, bằng 37,1% dự toán. Trong thu nội địa: Thu doanh nghiệp Nhà nước ước đạt 160,5 tỷ đồng, bằng 41,2% dự toán; thu doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 1.309 tỷ đồng, bằng 32,3% dự toán; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 686 tỷ đồng, bằng 39,2% dự toán; thuế thu nhập cá nhân 275 tỷ đồng, bằng 49,1% dự toán; thuế bảo vệ môi trường 128 tỷ đồng, bằng 18,0% dự toán.
Tổng chi ngân sách địa phương 4 tháng năm 2025 ước đạt 3.513,0 tỷ đồng, bằng 22,3% dự toán, trong đó chi đầu tư phát triển 572 tỷ đồng, bằng 13,3% dự toán; chi thường xuyên 2.913,5 tỷ đồng, bằng 27,1% dự toán; bao gồm: chi sự nghiệp kinh tế 98 tỷ đồng, bằng 10,0% dự toán; chi sự nghiệp giáo dục đào tạo 1.420 tỷ đồng, bằng 27,5% dự toán; chi sự nghiệp y tế 223 tỷ đồng, bằng 29,3% dự toán; chi quản lý Nhà nước 685 tỷ đồng, bằng 32,8% dự toán.
6. Các vấn đề xã hội
6.1. Giáo dục - Đào tạo
Từ ngày 9-11/4, Tổ chức Zhi Shan Foundation phối hợp với Trung tâm Công tác xã hội và Quỹ Bảo trợ trẻ em TP. Huế trao học bổng đợt 1 năm 2025 cho học sinh. Đã trao 617 suất học bổng với tổng kinh phí hơn 500 triệu đồng cho các em học sinh có hoàn cảnh khó khăn, vượt khó trong học tập.
Từ ngày 16-19/4, đội Ocean-Record đến từ Trung tâm Eureka Huế đại diện cho Việt Nam tham gia vòng chung kết thế giới cuộc thi FIRRT LEGO League 2025 tại Mỹ. Cuộc thi là sự kiện quốc tế lớn nhất trong mùa giải FIRST, quy tụ hơn 200 đội thi đến từ hơn 110 quốc gia trên toàn thế giới.
Tham gia vòng chung kết cuộc thi học sinh, sinh viên với ý tưởng khởi nghiệp lần thứ VII năm 2025 diễn ra tại TP. Hồ Chí Minh từ ngày 18-20/4, Huế tham gia với 2 dự án đều đoạt giải Ba cuộc thi.
6.2. Tình hình y tế
Tháng 4/2025, trên địa bàn có 23 ca sốt xuất huyết, giảm 65 ca so cùng kỳ; có 31 ca mắc tay chân miệng, tăng 12 ca so với cùng kỳ; có 601 ca sốt phát ban, tăng 600 ca so cùng kỳ; có 112 ca sởi, tăng 112 ca so cùng kỳ. Bốn tháng đầu năm, trên địa bàn có 99 ca sốt xuất huyết, giảm 124 ca so cùng kỳ; có 72 ca mắc tay chân miệng, tăng 38 ca so với cùng kỳ; có 1263 ca sốt phát ban, tăng 1260 ca và có 169 ca sởi, tăng 169 ca so với cùng kỳ.
Tháng 3/2025, trên địa bàn đã phát hiện 8 ca nhiễm mới HIV, bằng cùng kỳ; có 1 ca chuyển qua AIDS, giảm 2 ca so cùng kỳ; có 1 ca tử vong, bằng cùng kỳ. Ba tháng đầu năm, trên địa bàn có 28 ca nhiễm mới HIV, tăng 5 ca so cùng kỳ; 7 ca chuyển qua AIDS, bằng cùng kỳ; 2 ca tử vong, tăng 1 ca so cùng kỳ. Hiện tại, trên địa bàn có 576 bệnh nhân đang được quản lý và điều trị tại các cơ sở y tế, trong đó có 569 bệnh nhân điều trị ARV.
Tháng 4/2025, trên địa bàn không xảy ra ngộ độc thực phẩm, bằng so cùng kỳ. Bốn tháng đầu năm, trên địa bàn không xảy ra ngộ độc thực phẩm, giảm 1 ca so cùng kỳ.
6.3. Hoạt động văn hóa, thể thao
VnExpress Marathon Huế 2025 đã khép lại từ ngày 4-6/4, với 12.000 VĐV tham dự. Sự kiện này không chỉ thu hút đông đảo các VĐV trên cả nước mà còn trở thành một điểm nhấn quan trọng trong chương trình đăng cai Năm Du lịch Quốc gia 2025, góp phần quảng bá hình ảnh Huế đến với du khách trong nước và quốc tế.
Sáng 12/4, tại công viên Tứ Tượng, đã tổ chức chặng 9 Trường Tiền - Phú Xuân trong khuôn khổ cuộc đua xe đạp tranh cúp Truyền hình TP. Hồ Chí Minh lần thứ 37 năm 2025. Đây được coi là giải đua xe đạp có quy mô, tầm ảnh hưởng lớn và sâu rộng nhất Việt Nam.
Trong chuỗi sự kiện diễn ra trong bốn mùa của Năm Du lịch quốc gia và Festival Huế 2025, chương trình “Huế - Kinh đô ẩm thực” sẽ diễn ra tại Công viên Thương Bạc. Sự kiện nhằm trình diễn, giới thiệu và quảng bá các loại hình ẩm thực đến với du khách và nhân dân trên địa bàn; qua đó góp phần gìn giữ, bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống của ẩm thực Việt Nam.
6.4. Tai nạn giao thông
Theo báo cáo của Ban ATGT thành phố, từ 15/3/2025 đến 14/4/2025, trên địa bàn đã xảy ra 21 vụ tai nạn giao thông, giảm 8 vụ so với cùng kỳ; làm 5 người chết, giảm 12 người; làm bị thương 15 người, giảm 3 người so cùng kỳ. Bốn tháng đầu năm, trên địa bàn xảy ra 83 vụ tai nạn giao thông, giảm 34 vụ so với cùng kỳ; làm chết 33 người, giảm 22 người và làm bị thương 61 người, giảm 27 người so với cùng kỳ.
6.5. Tình hình cháy nổ và bảo vệ môi trường
Trong tháng 4/2025 trên địa bàn xảy ra 1 vụ cháy, bằng cùng kỳ, tăng 1 vụ so với tháng trước. Cụ thể vụ cháy xảy ra tại chợ An Lỗ thuộc phường Phong Hiền, diện tích cháy khoảng 250 m2, không có thiệt hại về người, tổng giá trị thiệt hại ước tính 2.507 triệu đồng. Hiện nay các cơ quan chức năng đang tiến hành điều tra làm rõ nguyên nhân vụ cháy, các sai phạm trong quản lý nhà nước về phòng cháy chữa cháy. Bốn tháng đầu năm, trên địa bàn xảy ra 3 vụ cháy, giảm 1 vụ so với cùng kỳ, không có thiệt hại về người, giá trị thiệt hại 2.517 triệu đồng.
Trong tháng 4/2025 trên địa bàn phát hiện 11 vụ vi phạm môi trường, giảm 6 vụ so với cùng kỳ, tăng 7 vụ so với tháng trước. Các hình thức vi phạm môi trường trong tháng gồm: 1 vụ không lập báo cáo công tác bảo vệ môi trường theo quy định, 1 vụ khai thác cát trái phép, 1 vụ xả nước thải vượt quy chuẩn, 1 vụ gây tiếng ồn vượt mức cho phép, 5 vụ vi phạm vệ sinh an toàn thực thẩm, 1 vụ đổ chất thải không đúng quy định, 1 vụ không vận hành thử nghiệm các công trình xử lý chất thải. Các ngành chức năng đã tiến hành xử lý 4 vụ với số tiền xử phạt 186 triệu đồng. Bốn tháng đầu năm, trên địa bàn xảy ra 53 vụ vi phạm môi trường, giảm 43 vụ so với cùng kỳ; tiến hành xử lý 45 vụ với tổng số tiền 467,7 triệu đồng.
6.6. Thiệt hại do thiên tai
Tháng 4/2025 xảy ra 2 vụ thiên tai, bằng cùng kỳ, tăng 2 vụ so với tháng trước. Cụ thể 1 vụ dông lốc xảy ra trên địa bàn huyện A Lưới và 1 vụ mưa lớn xảy ra trên địa bàn thành phố, không có thiệt hại về người, làm 27 nhà bị tốc mái, 15 ha lúa bị thiệt hại, tổng giá trị thiệt hại khoảng 531 triệu đồng, chính quyền địa phương đã hỗ trợ 15 triệu đồng. Bốn tháng đầu năm, trên địa bàn xảy ra 2 vụ thiên tai, bằng với cùng kỳ./.
Nguồn Chi cục Thống kê Thành phố Huế
Tin khác