0234 3828125 | Tphue@nso.gov.vn

THÔNG CÁO BÁO CHÍ TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2025

05/01/2026 15:40

Năm 2025 là năm cuối của kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm giai đoạn 2021–2025, mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc tập trung mọi nguồn lực để tạo ra những chuyển biến mạnh mẽ, đột phá, góp phần hoàn thành các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI (nay là thành phố). Đồng thời, đây cũng là năm đánh dấu bước chuyển quan trọng khi thành phố Huế bắt đầu vận hành theo mô hình đô thị trực thuộc Trung ương, đòi hỏi sự huy động và phân bổ hiệu quả các nguồn lực nhằm mở rộng không gian phát triển và nâng cao vai trò, vị thế của thành phố trong khu vực.

Trước yêu cầu bức thiết của thực tiễn, việc triển khai nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội của thành phố diễn ra trong bối cảnh quốc tế biến động phức tạp, cạnh tranh chiến lược gia tăng và tác động từ chính sách thuế quan mới, tiềm ẩn nhiều rủi ro. Dù vậy, sự phục hồi của dịch vụ, du lịch và đầu tư công nghệ đã tạo động lực tăng trưởng. Trong nước, bộ máy quản lý tiếp tục được kiện toàn theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; mô hình chính quyền địa phương hai cấp triển khai từ ngày 01/7/2025 đã góp phần nâng cao chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp. Nhờ vậy, kinh tế duy trì tăng trưởng tích cực, lạm phát được kiểm soát, kinh tế vĩ mô ổn định, song vẫn đối mặt nguy cơ từ các yếu tố bất định bên ngoài.

Trên địa bàn thành phố, dưới sự lãnh đạo, giám sát và điều hành quyết liệt, linh hoạt của Thành ủy, HĐND và UBND, các nhiệm vụ, giải pháp được triển khai đồng bộ. Qua đó, kinh tế thành phố tăng trưởng ổn định, môi trường đầu tư cải thiện, thương mại – dịch vụ sôi động, công nghiệp và xây dựng duy trì phát triển, góp phần hoàn thành các mục tiêu năm.

I. TÌNH HÌNH KINH TẾ

1. Tăng trưởng kinh tế

Tổng sản phẩm trên địa bàn thành phố năm 2025 ước tăng 8,50% so với cùng kỳ. Trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,02%, đóng góp 0,10 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 11,51%, đóng góp 3,69 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 8,17%, đóng góp 4,02 điểm phần trăm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 7,91%, đóng góp 0,69 điểm phần trăm.

Cơ cấu nền kinh tế tiếp tục có sự chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản, tăng tỷ trọng khu vực dịch vụ. Ước tính quy mô tổng sản phẩm theo giá hiện hành năm 2025 đạt 89.591 tỷ đồng; trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 9,74%, khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 30,44%; khu vực dịch vụ chiếm 51,35%, thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm là 8,47%. Cơ cấu tương ứng của năm 2024 lần lượt: 10,50%; 30,31%; 50,65%; 8,54%.

2. Sản xuất nông lâm nghiệp và thủy sản 

2.1. Nông nghiệp

Tổng diện tích gieo trồng cây hằng năm ước đạt 68.623 ha, giảm 0,2% so với cùng kỳ. Trong đó, diện tích gieo cấy lúa toàn thành phố ước đạt 53.347 ha, giảm 0,2%. Bao gồm, diện tích lúa vụ Đông Xuân 27.900 ha, giảm 0,1%; vụ Hè Thu 25.261 ha, giảm 0,3%; vụ Mùa 186 ha, bằng cùng kỳ.

Năng suất lúa cả năm 2025 đạt 61,0 tạ/ha, giảm 5,7%. Sản lượng lúa cả năm 2025 đạt 325.612 tấn, giảm 5,9% so với cùng kỳ. Trong đó, vụ Đông Xuân năng suất 62,3 tạ/ha, giảm 7,6%; sản lượng 173.880 tấn, giảm 7,6%. Vụ Hè Thu năng suất 59,9 tạ/ha, giảm 3,5%; sản lượng 151.389 tấn, giảm 3,8%. Vụ Mùa năng suất 18,5 tạ/ha, tăng 1,7%; sản lượng 343 tấn, tăng 1,7% so với cùng kỳ.

Diện tích gieo trồng cây hằng năm khác trên địa bàn thành phố trong năm đạt 15.276 ha, giảm 0,2% so với cùng kỳ. Diện tích gieo trồng một số cây hàng năm khác: diện tích ngô 1.484 ha, giảm 0,4%; khoai lang 632 ha, tăng 0,3%; lạc 2.160 ha, giảm 5,7%; sắn 3.625 ha giảm 2,6%; rau các loại 4.513 ha tăng 0,7%; đậu các loại 932 ha, tăng 0,3% so với cùng kỳ.

Năng suất một số cây hằng năm khác: ngô 43,2 tạ/ha, tăng 5,3%; khoai lang đạt 60,9 tạ/ha, tăng 4,1%; lạc 24,9 tạ/ha, tăng 11,9%; rau các loại ước đạt 122,6 tạ/ha, tăng 13,1% so với cùng kỳ... Sản lượng cây hàng năm khác: ngô 6.413 tấn, tăng 4,9%; khoai lang 3.846 tấn, tăng 4,4%; lạc 5.378 tấn, tăng 5,5%; rau các loại 56.110 tấn, tăng 15,5% so với cùng kỳ...

- Cây lâu năm: 

Tổng diện tích cây lâu năm năm 2025 ước đạt 9.409 ha, tăng 1,0% so với cùng kỳ. Trong đó, cây cao su là cây lâu năm chiếm tỷ trọng cao nhất của thành phố với diện tích hiện có ước đạt 4.913 ha, chiếm 52,2%, giảm 1,0%. Diện tích cây ăn quả 3.754 ha, tăng 3,3% so với cùng kỳ, diện tích các loại cây ăn quả chủ yếu: chuối 831 ha, tăng 1,0%; ổi 183 ha, tăng 6,6%; cam 370 ha, bằng cùng kỳ; xoài 87 ha, tăng 2,9%; mít 86 ha, tăng 1,2%; dứa 212 ha, tăng 3,2%; bưởi bòng thanh trà 1.493 ha, tăng 3,9% so với cùng kỳ.

Sản lượng một số cây trồng cây lâu năm: mủ cao su ước đạt 6.310 tấn, giảm 1,1%; chuối 14.750 tấn, tăng 3,3%; mít 797 tấn, tăng 1,3%; ổi 1.082 tấn, tăng 7,3%; cam 2.085 tấn, tăng 3,7%; bưởi, thanh trà 13.480 tấn, tăng 8,9% so với cùng kỳ.

- Chăn nuôi

Năm 2025, tình hình chăn nuôi trên địa bàn nhìn chung duy trì ở mức tích cực. Mặc dù đàn lợn chịu tác động của dịch tả lợn châu Phi, song chăn nuôi trâu, bò, gia cầm và các vật nuôi khác tiếp tục phát triển thuận lợi, góp phần bảo đảm quy mô và hiệu quả chung của ngành chăn nuôi. Ước đến thời điểm ngày 31/12/2025, tổng đàn trâu đạt 14.326 con, tăng 0,7%; đàn bò đạt 30.508 con, tăng 1,4%; đàn lợn đạt 150.593 con, tăng 3,7%; đàn gia cầm đạt 4.205 nghìn con, tăng 5,2%. Trong đó, đàn gà đạt 3.624 nghìn con, tăng 6,0% so với cùng thời điểm năm 2024.

Chăn nuôi ứng dụng công nghệ cao tiếp tục phát triển, nhiều cơ sở liên doanh, liên kết chuỗi cùng các doanh nghiệp triển khai các mô hình chăn nuôi an toàn sinh học và chăn nuôi hữu cơ, góp phần giúp đàn vật nuôi trên địa bàn phát triển ổn định, nâng cao hiệu quả sản xuất, kiểm soát tốt dịch bệnh và đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu tiêu dùng. Nhờ đó, năm 2025, sản lượng thịt hơi xuất chuồng tiếp tục tăng, đặc biệt ở trâu, bò và gia cầm; trong khi sản lượng thịt lợn giảm nhẹ so với cùng kỳ. Cụ thể, sản lượng thịt trâu hơi đạt 635 tấn, tăng 1,1%; thịt bò đạt 1.253 tấn, tăng 3,2%; thịt gia cầm đạt 15.894 tấn, tăng 6,4%, trong đó thịt gà đạt 10.532 tấn, tăng 5,7%; sản lượng thịt lợn hơi đạt 15.121 tấn, giảm 0,4% so với cùng kỳ.

2.2. Lâm nghiệp

Diện tích rừng trồng tập trung năm 2025 ước đạt 7.510 ha, tăng 2,7%. Trong đó; rừng sản xuất trồng mới 7.368 ha, chiếm 98,1%, tăng 2,7% so với cùng kỳ. Diện tích rừng trồng mới chủ yếu được trồng trên diện tích rừng đã khai thác.

Trong năm, các địa phương tiếp tục thực hiện chương trình giao rừng cho người dân bảo vệ, đồng thời tạo động lực khuyến khích nhân dân tích cực tham gia bảo vệ và phát triển rừng, bảo đảm nguồn thu nhập từ rừng trở thành nguồn thu chính của người lao động. Năm 2025 diện tích rừng trồng được chăm sóc ước đạt 26.964 ha, tăng 1,8% so với cùng kỳ. Diện tích rừng được khoanh nuôi xúc tiến tái sinh 535 ha, tăng 1,9%. Diện tích rừng được giao khoán bảo vệ 149.430 ha, tăng 3,2%.

Sản lượng gỗ khai thác từ rừng trồng năm 2025 ước đạt 722,6 nghìn m3 gỗ, tăng 9,2% so với cùng kỳ, trong đó chủ yếu là khai thác gỗ từ rừng trồng phục vụ sản xuất dăm gỗ.

2.3. Thủy sản

Tình hình nuôi trồng thủy sản: diện tích nuôi trồng thủy sản năm 2025 ước đạt 8.083 ha, tăng 0,6% so với cùng kỳ, trong đó nuôi nước lợ 6.193 ha, tăng 1,5%; nuôi nước ngọt 1.890 ha, giảm 2%. Trong nuôi nước lợ bao gồm nuôi cá 1.488 ha, tăng 1,3%; nuôi tôm 3.670 ha, tăng 1,6%; nuôi các loại thủy sản khác 1.028 ha, tăng 1,3%; ươm, nuôi giống thủy sản 7 ha, bằng với cùng kỳ.

Sản lượng nuôi trồng thu hoạch năm 2025 ước đạt 21.837 tấn, tăng 4% so với cùng kỳ. Bao gồm sản lượng cá các loại 12.396 tấn, tăng 4,4%; tôm các loại 8.178 tấn, tăng 3,6%; thủy sản khác nuôi nội địa 1.263 tấn, tăng 3,3%.

Tình hình khai thác thủy sản: sản lượng thủy sản khai thác năm 2025 ước đạt 44.266 tấn, tăng 2,9% so với cùng kỳ. Trong đó khai thác biển 40.380 tấn, chiếm tỷ trọng 91,2%, tăng 3,1%. Khai thác nội địa 3.886 tấn, chiếm tỷ trọng 8,8%, tăng 1,1% so với cùng kỳ.

Tính chung tổng sản lượng thủy sản năm 2025 ước đạt 66.103 tấn, tăng 3,3% so với cùng kỳ.

3. Sản xuất công nghiệp

Hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn thành phố Huế năm 2025 đạt mức tăng trưởng cao. Kết quả tích cực này chủ yếu nhờ việc bổ sung thêm năng lực sản xuất mới từ năm trước, nổi bật là các dự án như Nhà máy ô tô Kim Long Motor và Nhà máy sản xuất găng tay Kanglongda. Chỉ số IIP năm 2025 tăng 12,9% so với cùng kỳ, trong đó: công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,9%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 25,5%; cấp nước và thu gom rác thải tăng 0,4%; riêng ngành công nghiệp khai khoáng giảm 4,9%.

Các ngành công nghiệp cấp 4 trong năm 2025 có chỉ số sản xuất tăng so với cùng kỳ: sản xuất các loại bánh từ bột (+8,2%); cưa, xẻ, bào gỗ và bảo quản gỗ (+7,1%); sản xuất plastic và cao su tổng hợp dạng nguyên sinh (+7,1%); sản xuất sản phẩm khác từ cao su (+11,1 lần); sản xuất sản phẩm từ plastic (+50,7%); sản xuất xe có động cơ (+184,1%); sản xuất, truyền tải và phân phối điện (+25,5%)...

Bên cạnh những dấu hiệu tích cực, một số ngành sản xuất công nghiệp vẫn đang gặp không ít khó khăn, dự ước các ngành công nghiệp cấp 4 trong năm 2025 có chỉ số sản xuất giảm so với cùng kỳ: chế biến, bảo quản thuỷ sản và các sản phẩm từ thuỷ sản (-12,1%); sản xuất bia và mạch nha ủ men bia (-7,5%); sợi (-1,3%); may trang phục (-2,8%); sản xuất vật liệu từ đất sét (-5,2%); sản xuất sản phẩm từ chất khoáng phi kim loại khác chưa được phân vào đâu (-15,2%); sản xuất máy vi tính và thiết bị ngoại vi (-15,9%)...

Các sản phẩm công nghiệp ước năm 2025 tăng so với cùng kỳ năm trước: Bánh làm từ bột khác bảo quản được 4,1 nghìn tấn (+8,2%); bia đóng chai 102,5 triệu lít (+0,3%); dăm gỗ 784,9 nghìn tấn (+7,1%); thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng viên 83,6 triệu viên (+4,0%); găng tay, găng hở ngón và găng bao tay bằng cao su lưu hoá 14,6 nghìn tấn (+11,1 lần); xe ô tô chở người 3.668 chiếc (+184,1%); điện sản xuất 2.602,0 triệu KWh (+27,4%); điện thương phẩm 2.289,9 triệu KWh (+5,3%)...

Các sản phẩm công nghiệp ước năm 2025 giảm so với cùng kỳ: tôm đông lạnh 4,2 nghìn tấn (-12,1%); bia đóng lon 206,3 triệu lít (-9,3%); sợi 117,8 nghìn tấn (-1,3%); quần áo lót cho người lớn không dệt kim hoặc đan móc 353,7 triệu cái (-2,8%); gạch men 10,6 triệu m2 (-5,2%); men frit 245,7 nghìn tấn (-3,0%).

4. Thương mại, dịch vụ

4.1. Bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Năm 2025, hoạt động thương mại dịch vụ trên địa bàn thành phố Huế diễn ra trong bối cảnh kinh tế - xã hội ổn định; nhiều sự kiện văn hóa, chính trị và du lịch được tổ chức, góp phần thu hút du khách, thúc đẩy tiêu dùng và lưu thông hàng hóa. Các chương trình kích cầu tiêu dùng, lễ hội và hoạt động du lịch được triển khai xuyên suốt trong năm đã tạo động lực cho tăng trưởng thương mại dịch vụ. Cùng với đó, chuỗi sự kiện kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước, các hoạt động trong khuôn khổ Festival Bốn mùa, cùng với các chương trình khuyến mãi và việc mở rộng hệ thống bán lẻ của các doanh nghiệp đã tác động tích cực đến tâm lý người tiêu dùng, góp phần duy trì sức mua và thúc đẩy tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tăng so với cùng kỳ.

Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2025 ước đạt 65.746 tỷ đồng, tăng 14,8% so với cùng kỳ. Chia ra: bán lẻ hàng hóa đạt 46.201 tỷ đồng, chiếm 70,3% tổng số, tăng 14,0%; dịch vụ lưu trú và ăn uống 13.580 tỷ đồng, chiếm 20,7%, tăng 18,2%; du lịch lữ hành 416 tỷ đồng, chiếm 0,6%, tăng 18,9%; dịch vụ khác 5.549 tỷ đồng, chiếm 8,4%, tăng 12,3%.

4.2. Vận tải hành khách và hàng hóa

Năm 2025 là năm đầu tiên Huế trở thành thành phố trực thuộc trung ương và được chọn đăng cai Năm Du lịch Quốc gia. Nhu cầu đi lại vui chơi, du lịch, nghỉ ngơi của người dân và khách du lịch tăng khá, đặc biệt là những ngày cuối tuần, dịp lễ, tết; vận tải hàng hóa cũng đạt kết quả tích cực do nhiều dự án đầu tư xây dựng trên địa bàn thành phố của nhà nước và dân cư đồng loạt triển khai, nhu cầu vận tải nguyên, vật liệu, thiết bị phục vụ cho các dự án, công trình tăng mạnh. 

Dự ước vận tải hành khách năm 2025 đạt 44,0 triệu khách, tăng 19,7% và 2.151,4 triệu hành khách.km, tăng 19,4% so với cùng kỳ, bao gồm: vận tải hành khách đường bộ ước đạt 43,0 triệu hành khách, tăng 19,8% và 2.147,1 triệu hành khách.km, tăng 19,4%; đường sông đạt 1,0 triệu hành khách, tăng 15,8% và 4,3 triệu hành khách.km, tăng 16,7%. Vận tải hàng hóa năm 2025 ước đạt 25,6 triệu tấn, tăng 11,5% và 2.132,7 triệu tấn.km, tăng 12,2% so với cùng kỳ.

Doanh thu vận tải, bốc xếp năm 2025 ước đạt 6.231,4 tỷ đồng, tăng 16,3% so với cùng kỳ. Chia theo loại hình dịch vụ vận tải: Vận tải hành khách đạt 1.348,3 tỷ đồng, tăng 20,0%; vận tải hàng hóa đạt 4.372,0 tỷ đồng, tăng 15,0%; dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 511,1 tỷ đồng, tăng 18,3%. Trong đó doanh thu vận tải gồm: đường bộ đạt 5.714,5 tỷ đồng, tăng 16,1%; đường sông đạt 5,8 tỷ đồng, tăng 16,1%.

4.3. Lượt khách các cơ sở lưu trú phục vụ và du lịch lữ hành

Năm 2025 là năm có ý nghĩa quan trọng đối với ngành du lịch thành phố Huế trong việc tiếp tục triển khai thực hiện các Nghị quyết của Trung ương và Thành ủy về phát triển du lịch. Các chương trình nằm trong chuỗi sự kiện Năm Du lịch quốc gia – Huế 2025 và Festival Huế 2025; các hoạt động nhằm kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước; các lễ hội văn hóa, nghệ thuật, ẩm thực đặc sắc,… được tổ chức với nhiều hình thức đa dạng và phong phú, thu hút đông đảo khách quốc tế, trong nước và người dân địa phương tham gia. 

Lượt khách do các cơ sở lưu trú phục vụ năm ước đạt 2.411,4 nghìn lượt, tăng 16,1% so với cùng kỳ. Trong đó, lượt khách ngủ qua đêm năm 2025 ước đạt 1.976,6 nghìn lượt, tăng 18,2% so với cùng kỳ. Trong lượt khách ngủ qua đêm, khách quốc tế 715,7 nghìn lượt, tăng 8,7%; khách trong nước 1.260,9 nghìn lượt, tăng 24,5% so với cùng kỳ. Lượt khách trong ngày đạt 434,8 nghìn lượt, tăng 7,2% so với cùng kỳ. 

Ngày khách lưu trú năm 2025 ước đạt 3.409,4 nghìn ngày, tăng 20,2% so với cùng kỳ. Trong đó: Ngày khách quốc tế đạt 1.285,3 nghìn ngày, tăng 10,2%; ngày khách trong nước đạt 2.124,1 nghìn ngày, tăng 27,1%. 

Lượt khách phục vụ của các cơ sở lữ hành năm 2025 ước đạt 209,9 nghìn lượt, tăng 3,6% so với cùng kỳ; ngày khách theo tour cả năm 2025 ước đạt 471 nghìn ngày khách, tăng 14,1%.

5. Hoạt động xuất nhập khẩu( )

Năm 2025, cộng đồng doanh nghiệp trên địa bàn thành phố đã khai thác hiệu quả ưu đãi từ các hiệp định thương mại tự do (FTA), đồng thời cải thiện nội lực, mở rộng thị trường xuất khẩu. Bên cạnh việc duy trì các thị trường truyền thống, doanh nghiệp đã tích cực tiếp cận các thị trường mới, nhờ đó hoạt động xuất khẩu tiếp tục giữ được đà ổn định và tăng trưởng tích cực. Ở chiều ngược lại, kim ngạch nhập khẩu tăng phù hợp với nhu cầu sản xuất, đặc biệt là các mặt hàng nguyên liệu và linh kiện máy móc phục vụ các ngành công nghiệp. 

Kim ngạch xuất khẩu (KNXK) năm 2025 ước đạt 1.430 triệu USD tăng 15,3% so với cùng kỳ, đạt kế hoạch đề ra. Trong đó, các nhóm hàng xuất khẩu chủ lực của thành phố trong năm 2025 như sau: Nhóm hàng xuất khẩu chủ lực như nhóm hàng sợi, may mặc ước đạt 879 triệu USD, tăng 15,2%; nhóm hàng gỗ và sản phẩm gỗ 219 triệu USD, tăng 15,4%; nhóm hàng thủy sản 42 triệu USD, tăng 15,2% so với cùng kỳ.

Kim ngạch nhập khẩu (KNNK) hàng hóa trong năm 2025 ước đạt 1.100 triệu USD tăng 6,9% so với cùng kỳ, đạt 110% kế hoạch. Các mặt hàng nhập khẩu tiếp tục phục vụ cho hoạt động sản xuất, xuất khẩu của các doanh nghiệp, như sau: nhóm hàng cần nhập khẩu ước đạt 570,0 triệu USD, giảm 12,5%; nhóm hàng cần kiểm soát nhập khẩu: linh kiện phụ tùng ô tô 280,0 triệu USD tăng 89,6%; nhóm hàng hóa khác như thạch cao, thép, hóa chất, linh kiện điện tử, nguyên phụ liệu sản xuất bia,... 250 triệu USD, tăng 8,5% so với cùng kỳ.

6. Vốn đầu tư thực hiện

Năm 2025 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là năm cuối thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm giai đoạn 2021–2025, đồng thời đánh dấu bước chuyển quan trọng của Huế khi chính thức trở thành thành phố trực thuộc Trung ương. Ngay từ đầu năm, Hội đồng nhân dân thành phố đã ban hành Nghị quyết số 121/NQ-HĐND ngày 10/12/2024 về việc giao kế hoạch, trên cơ sở đó Ủy ban nhân dân thành phố đã phân bổ nguồn lực cho các chương trình, nhiệm vụ, dự án theo Quyết định số 3355/QĐ-UBND ngày 26/12/2024. Trên nền tảng này, UBND thành phố tập trung chỉ đạo, điều hành và triển khai hiệu quả các chương trình, nhiệm vụ trọng điểm trong năm 2025. 

Vốn đầu tư phát triển trên địa bàn năm 2025 ước đạt 35.153 tỷ đồng, bằng 89% so với kế hoạch, tăng 9,6% so với cùng kỳ. Trong đó: Vốn nhà nước năm 2025 ước đạt 8.467 tỷ đồng, chiếm 24,1% tổng nguồn vốn đầu tư trên địa bàn, giảm 19,8% so với cùng kỳ ; vốn ngoài nhà nước năm 2025 ước đạt 22.984 tỉ đồng, chiếm 65,4% tổng nguồn vốn, tăng 32,5% so với cùng kỳ ; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 2025 ước đạt 3.702 tỷ đồng, chiếm 10,5% tổng nguồn vốn, giảm 10,4% so với năm 2024.

Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn thành phố có 10 dự án FDI đăng ký mới với tổng số vốn đăng ký 36,4 triệu USD và 01 dự án điều chỉnh tăng vốn từ 1,4 triệu USD lên 2,5 triệu USD. 

7. Giá cả

Chỉ số giá tiêu dùng chung toàn thành phố bình quân năm 2025 tăng 3,03% so với năm 2024. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá bình quân năm 2025 tăng so bình quân năm trước gồm: nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 13,96% do áp dụng mức giá mới theo Nghị định 02/2025/NĐ-CP và Thông tư số 21/2024/TT-BYT; nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 7,21%, chủ yếu do chi phí thuê nhà và giá điện tăng so với bình quân năm 2024; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,34% chủ yếu do nhóm thực phẩm tăng 4,14%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 3,91% chủ yếu do giá dịch vụ cá nhân và các loại lệ phí tăng, cùng với sự tăng giá của đồ trang sức do ảnh hưởng từ giá vàng thế giới. Các nhóm còn lại không có biến động lớn. 

Chỉ số giá vàng bình quân năm 2025 tăng 48,55% so với bình quân năm trước; Chỉ số giá đô la Mỹ bình quân năm 2025 tăng 3,94% so với bình quân năm trước. 

8. Tài chính( )

Tổng thu ngân sách trên địa bàn năm 2025 ước đạt 14.960 tỷ đồng, bằng 117,3% dự toán năm, tăng 14,5% so với cùng kỳ. Trong đó: Thu nội địa ước đạt 13.289 tỷ đồng, bằng 113,6% dự toán; tăng 14,5%; thu thuế từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 1.530 tỷ đồng, bằng 145,7% dự toán, tăng 20,7%. Trong thu nội địa: Thu doanh nghiệp Nhà nước địa phương quản lý đạt 220 tỷ đồng, bằng 112,8% dự toán; tăng 1,0%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 1.900 tỷ đồng, bằng 108,6% dự toán; tăng 5,6%; thuế thu nhập cá nhân 730 tỷ đồng, bằng 130,4% dự toán; tăng 8%; thuế bảo vệ môi trường 409 tỷ đồng, bằng 27,6% dự toán, tăng 7,7%.

Tổng chi ngân sách địa phương năm 2025 ước đạt 16.091 tỷ đồng, bằng 98,7% dự toán, trong đó chi đầu tư phát triển 4.660 tỷ đồng, bằng 70,8% dự toán; chi thường xuyên 11.105 tỷ đồng, bằng 104,4% dự toán.

II. TÌNH HÌNH XÃ HỘI

1. Giải quyết việc làm 

Dự kiến năm 2025, toàn thành phố giải quyết việc làm khoảng 18.200 lao động, đạt 103,4% so với chỉ tiêu kế hoạch năm 2025, trong đó đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài 2.516 người, đạt 119,8% so với kế hoạch năm. Thành phố đã thực hiện chính sách hỗ trợ cho 561 người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, với tổng số tiền là 1,7 tỷ đồng đồng. 

Từ đầu năm 2025 đến nay, việc thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp đạt nhiều kết quả quan trọng. Toàn thành phố có 7.179 người nộp hồ sơ đề nghị hưởng bảo hiểm thất nghiệp, trong đó 6.914 trường hợp đã được ban hành quyết định hưởng trợ cấp. Công tác tư vấn, hỗ trợ người lao động được chú trọng, với 7.273 lượt người được tư vấn, giới thiệu việc làm và học nghề; cụ thể có 107 người được giới thiệu việc làm và 673 người được hỗ trợ tham gia học nghề để tìm kiếm việc làm mới hoặc chuyển đổi nghề nghiệp. Tổng số tiền chi trả trợ cấp thất nghiệp là 136 tỷ đồng, đồng thời chi 3,3 tỷ đồng để hỗ trợ học nghề cho người lao động.

2. Đời sống dân cư 

Năm 2025, nhiều sự kiện hoạt động lễ hội, văn hóa và du lịch lớn như Liên hoan Ẩm thực Quốc tế, Chương trình nghệ thuật bế mạc Năm Du lịch Quốc gia kết hợp Đại nhạc hội “Mega Booming - Huế 2025” được tổ chức quy mô, đặc sắc, thu hút đông đảo người dân và du khách tham dự, góp phần quảng bá hình ảnh Huế, kích cầu du lịch và thúc đẩy hoạt động thương mại dịch vụ trên địa bàn.

Hoạt động tín dụng chính sách xã hội tiếp tục phát huy hiệu quả, góp phần giảm nghèo, bảo đảm an sinh và phát triển bền vững; nguồn vốn ưu đãi hỗ trợ sản xuất, tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân. Công tác giải quyết việc làm được tăng cường, giáo dục nghề nghiệp được sắp xếp theo hướng hiện đại, gắn với doanh nghiệp và thị trường lao động. Năm 2025, thu nhập bình quân đầu người của thành phố ước tăng 10,6% so với cùng kỳ.

Bên cạnh kết quả đạt được, đời sống người dân vẫn gặp khó khăn do thời tiết bất lợi, mưa lũ gây ngập lụt, ảnh hưởng đến sinh hoạt và sản xuất. Trước tình hình đó, Chính phủ và các tổ chức đã kịp thời hỗ trợ, đồng thời triển khai “Chiến dịch Quang Trung” xây dựng, sửa chữa nhà ở cho các hộ bị thiệt hại, giúp người dân sớm ổn định cuộc sống.

3. Chính sách - xã hội 

Chính sách người có công: công tác người có công được quan tâm thực hiện đầy đủ, kịp thời; các hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa”, “Uống nước nhớ nguồn” tiếp tục được chú trọng. Hỗ trợ cho người có công và thân nhân của người có công với cách mạng năm 2025 là 487,7 tỷ đồng, tăng 27,1% so với cùng kỳ.

Bảo trợ xã hội: hỗ trợ cho các đối tượng bảo trợ xã hội theo Nghị định 20/2021/NĐ-CP năm 2025 là 600,4 tỷ đồng, tăng 31,6% so với cùng kỳ. Hỗ trợ cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn, hộ chính sách xã hội là 27,9 tỷ đồng, giảm 25,9% so với cùng kỳ. Cấp phát miễn phí thẻ bảo hiểm y tế tại địa phương quý IV/2025 là 330.266 thẻ. 

Công tác giảm nghèo: Thực hiện Kế hoạch số 474/KH-UBND ngày 27/12/2024 của UBND tỉnh (nay là thành phố) về công tác giảm nghèo bền vững năm 2025, dự kiến đến cuối năm, tỷ lệ hộ nghèo toàn thành phố sẽ giảm xuống dưới 1,12%, thấp hơn nhiều so với mục tiêu 2,0%-2,2% được nêu trong Nghị quyết số 11-NQ-TU ngày 03/11/2021 của Tỉnh ủy (nay là Thành ủy) giai đoạn 2021-2025. Các chính sách giảm nghèo và an sinh xã hội đã bao phủ hầu hết các lĩnh vực đời sống của người nghèo, đạt được kết quả tích cực trong việc thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững, cải thiện các chỉ số về tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản, đồng thời góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo qua các năm.

 4. Giáo dục và đào tạo( )

Năm học 2025-2026, Đại học Huế có 14.879 sinh viên nhập học theo nguyện vọng, tăng 1.527 sinh viên, tăng 11,4% so với năm học trước. 

Năm học 2025–2026, hơn 12.400 học sinh dự thi vào lớp 10 tại 38 điểm thi với 534 phòng thi, công tác tổ chức bảo đảm nghiêm túc, an toàn, đúng quy chế. Đồng thời, Trường THCS Nguyễn Tri Phương tuyển sinh lớp 6 với 360 chỉ tiêu, hơn 1.400 thí sinh tham gia theo hình thức xét tuyển kết hợp đánh giá năng lực. 

Kỳ thi học sinh giỏi THPT thành phố năm học 2025–2026 diễn ra từ ngày 3–5/10 với 3.383 thí sinh tham gia; có 1.539 học sinh đạt giải các loại. Kỳ thi nhằm phát hiện, bồi dưỡng học sinh xuất sắc, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục mũi nhọn của thành phố.

Giáo dục nghề nghiệp: Trong năm, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn thành phố đã tuyển sinh 14.187 người, đạt 83,45% kế hoạch. Trong đó, trình độ cao đẳng, trung cấp 3.553 người, sơ cấp và các chương trình đào tạo nghề khác 10.634 người.

5. Tình hình y tế, dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm 

Năm 2025, trên địa bàn có 425 ca sốt xuất huyết, giảm 1.612 ca so với cùng kỳ; có 181 ca mắc tay chân miệng, tăng 53 ca so với cùng kỳ; 48 ca liên cầu lợn, tăng 44 ca so với cùng kỳ, làm 4 người chết, tăng 4 người so với cùng kỳ; 1.577 ca sốt phát ban, tăng 1466 ca và có 349 ca sởi, tăng 327 ca so với cùng kỳ. 

Tính đến cuối năm, trên địa bàn có 96 ca nhiễm mới HIV, tăng 10 ca so với cùng kỳ; 24 ca chuyển qua AIDS, giảm 1 ca so với cùng kỳ; 4 ca tử vong, giảm 1 ca so với cùng kỳ. Hiện tại, trên địa bàn có 596 bệnh nhân đang được quản lý và điều trị tại các cơ sở y tế, trong đó có 590 bệnh nhân điều trị ARV . 

Tính đến cuối năm, trên địa bàn không xảy ra ngộ độc thực phẩm, bằng cùng kỳ. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn xảy ra 4 vụ ngộ độc thực phẩm, bằng cùng kỳ; làm 57 người bị ngộ độc, tăng 18 người so với cùng kỳ; không có người chết, bằng cùng kỳ.

6. Hoạt động văn hóa, thể thao

Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, năm 2025 trên địa bàn thành phố có 1.053 khu dân cư được công nhận đạt chuẩn văn hóa, đạt tỷ lệ 95,3%. Có 300.457/312.943 gia đình được công nhận đạt chuẩn, đạt tỷ lệ 94,4% (so với tổng số gia đình đăng ký xây dựng gia đình văn hoá). Xây dựng cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp văn hóa, có 1.018 cơ quan, đơn vị được công nhận đạt chuẩn văn hóa, đạt tỷ lệ 92%.

Trong năm, các vận động viên trên địa bàn tham gia nhiều giải thể thao trong khu vực, quốc gia và quốc tế đã đạt được 709 huy chương các loại (209 HCV, 179 HCB, 321 HCĐ), trong đó có 57 huy chương quốc tế (22 HCV, 15 HCB, 20 HCĐ). Đặc biệt, tại giải vô địch và vô địch trẻ Châu Á môn Jujitsu: VĐV Nguyễn Hoài Thương đã xuất sắc đạt được 02 HCV, 01 HCB, 01 HCĐ; tại giải Vô địch Đông Nam Á Vật tự do 3 vận động viên: Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, Nguyễn Thị Mỹ Trang, Nguyễn Thị Mỹ Linh đạt 3HCV. Có 22 VĐV, HLV được triệu tập vào các đội tuyển quốc gia, tuyển trẻ quốc gia.

7. Tình hình trật tự an toàn xã hội

Tính đến cuối năm, trên địa bàn xảy ra 218 vụ tai nạn giao thông, giảm 63 vụ so với cùng kỳ; làm chết 114 người, giảm 12 người và làm bị thương 142 người, giảm 63 người so với cùng kỳ.

Khái quát lại: Năm 2025, thành phố Huế triển khai thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh còn nhiều khó khăn, thách thức. Lãnh đạo thành phố sớm dự báo tình hình, nghiêm túc thực hiện các chỉ đạo của Trung ương và tập trung chỉ đạo quyết liệt đề ra nhiều giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trên tất cả các lĩnh vực, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, đẩy nhanh hoạt động sản xuất kinh doanh… qua đó tình hình kinh tế - xã hội trong năm 2025 đạt được những kết quả tích cực: Kinh tế thành phố tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng ổn định, trong đó Công nghiệp giữ vai trò chủ lực trong tăng trưởng có chỉ số sản xuất công nghiệp tăng cao; môi trường đầu tư được cải thiện, các dự án hạ tầng đô thị, giao thông và chỉnh trang thành phố được đẩy nhanh tiến độ; hoạt động thương mại, dịch vụ và du lịch có nhiều khởi sắc, đặc biệt trong bối cảnh Huế đăng cai các sự kiện văn hóa lớn; lĩnh vực nông nghiệp duy trì ổn định; hoạt động đầu tư công được tập trung cho các công trình trọng điểm về giao thông, đô thị, giáo dục, y tế, góp phần cải thiện diện mạo thành phố; lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa - xã hội được quan tâm đầu tư, chất lượng phục vụ người dân được nâng lên. Công tác cải cách hành chính, chuyển đổi số được triển khai đồng bộ, thúc đẩy xây dựng đô thị thông minh. An sinh xã hội được bảo đảm.

Nguồn: Thống kê thành phố Huế