BÁO CÁO TÌNH HÌNH KINH TẾ – XÃ HỘI THÁNG 10 VÀ 10 THÁNG ĐẦU NĂM 2024
1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
Sản xuất nông nghiệp tháng 10 diễn ra trong điều kiện thời tiết mưa, bão nên hầu hết diện tích các loại cây trồng không được gieo trồng; công tác thú y được chú trọng, đàn vật nuôi phát triển khỏe mạnh, tổng đàn lợn tại thời điểm 31/10/2024 ước tăng 0,6% so cùng kỳ. Sản xuất lâm nghiệp được duy trì, hoạt động trồng rừng và khai thác gỗ được thực hiện theo đúng kế hoạch. Sản xuất thủy sản duy trì ổn định, sản lượng thủy sản tháng 10 ước tăng 3,2% so cùng kỳ.
1.1. Nông nghiệp
Tháng 10/2024, diện tích gieo trồng các loại cây hằng năm khác không phát sinh, sản xuất nông nghiệp chủ yếu chăm sóc, thu hoạch diện tích các loại cây đã gieo trồng; các địa phương hiện đang chuẩn bị giống và làm đất cho vụ Đông.
Diện tích gieo cấy lúa vụ Mùa năm nay đạt 185 ha, giảm 0,5% so vụ Mùa năm 2023 . Lúa Mùa hiện trong giai đoạn sinh trưởng và phát triển tương đối tốt, sâu bệnh gây hại ở mức độ và tỷ lệ thấp không ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển cây lúa.
Để chủ động công tác phòng chống bão lụt, lãnh đạo tỉnh đã trực tiếp kiểm tra, chỉ đạo công tác bảo đảm an toàn hồ đập. Chỉ đạo các địa phương rà soát, xây dựng phương án, chủ động huy động lực lượng, phương tiện để triển khai công tác ứng phó thiên tai, tìm kiếm cứu nạn. Rà soát, cập nhật chi tiết từng phương án ứng phó với bão, lụt, lũ quét và sạt lở đất, nước dâng do bão để chủ động lên phương án sơ tán di dời dân. Các huyện đang tập trung thu hoạch diện tích sắn công nghiệp, trong đó ưu tiên thu hoạch các vùng trũng thấp dễ ngập lụt.
Từ đầu năm đến nay thời tiết tương đối thuận lợi, đối tượng sinh vật gây hại xuất hiện rải rác với mật độ và tỷ lệ thấp, công tác phòng trừ sâu bệnh kịp thời nên năng suất, sản lượng hầu hết các loại cây trồng đều tăng so cùng kỳ: sản lượng sắn 73.205 tấn, tăng 7,3%; ngô 5.661 tấn, tăng 1,2%; lạc 5.010 tấn, tăng 0,8%; rau các loại 45.135 tấn, tăng 1,8% so cùng kỳ…
Chăn nuôi
Để chủ động ứng phó phòng chống thiên tai và dịch bệnh cho đàn gia súc, gia cầm, giảm thiểu thiệt hại, đồng thời bảo đảm phát triển chăn nuôi, hoàn thành kế hoạch năm 2024, ngày 11/9/2024 Sở Nông nghiệp và PTNT ban hành Công văn số 2333/SNNPTNT-CCCNTY về chủ động phòng chống bão lũ, đói, rét và dịch bệnh cho vật nuôi, trong đó đề nghị các địa phương, đơn vị liên quan hướng dẫn người dân thực hiện việc gia cố vững chắc, che chắn cho chuồng trại đề phòng bão, lũ, chủ động dự trữ nguồn thức ăn (rơm khô, rơm cuộn), đảm bảo cung cấp thức ăn tại chuồng không để gia súc bị đói, khát đồng thời bổ sung thêm thức ăn tinh bột, vitamin, khoáng chất cần thiết để tăng cường sức khỏe cho đàn vật nuôi. Nhốt gia súc tại chuồng, không chăn thả trâu, bò khi mưa bão, lũ lụt hoặc đưa trâu bò ở vùng trũng thấp lên nơi cao hơn và che chắn có kiểm soát. Vệ sinh, tiêu độc, khử trùng chuồng trại, xử lý tốt gia súc chết và chất thải vật nuôi. Thường xuyên kiểm tra, giám sát chặt chẽ đàn vật nuôi đề phòng dịch bệnh xảy ra. Khi phát hiện gia súc bị bệnh phải có biện pháp can thiệp kịp thời.
Thời điểm 31/10/2024 ước tính tổng đàn trâu toàn tỉnh 15.176 con, giảm 0,6% so cùng kỳ; đàn bò ước thời điểm 31/10/2024, có 29.120 con, tăng 2,7% so cùng kỳ.
Chăn nuôi lợn tiếp tục phát triển theo hướng công nghiệp, trang trại, chăn nuôi công nghệ cao, VietGAP, hữu cơ, an toàn sinh học, an toàn dịch bệnh. Tổng đàn lợn thời điểm 31/10/2024 ước đạt 155.210 con, tăng 0,6% so cùng kỳ.
Chăn nuôi gia cầm phát triển ổn định do dịch bệnh không xảy ra, công tác tiêm phòng thú y, vệ sinh môi trường chăn nuôi được chú trọng, ý thức phòng bệnh cho đàn gia cầm của các cơ sở chăn nuôi ngày càng được nâng cao. Tổng đàn gia cầm thời điểm 31/10/2024 ước đạt 5.090 nghìn con, tăng 2,1% so cùng kỳ. Trong đó: đàn gà 3.670 nghìn con, tăng 2,4%.
Tiến độ tiêm phòng toàn tỉnh đến nay đã tiêm được 30.186 liều THT trâu bò (96%, tăng 1%), 42.079 liều tam liên (86%, tăng 2%), 6.480 liều E.coli (72%, tăng 2%), 366.010 liều CGC (89%, tăng 1%), 265.300 liều DTV (67%, tăng 1%), 315.740 liều Newcastle (84%), 10.030 liều THT gia cầm (67%), 107.670 liều Đậu gà (90%), 144.650 liều Gumboro (79%); LMLM lợn trang trại: 9.966 liều, 11.246 liều VDNC (36%, tăng 2%), 8.000 liều LMLM Đợt 2.
1.2. Lâm nghiệp
Trồng rừng mới tập trung tháng 10/2024 ước đạt 510 ha, tăng 3,0% so cùng kỳ. Tính chung 10 tháng đầu năm 2024 diện tích rừng trồng mới được 5.280 ha, tăng 4,0% so cùng kỳ.
Sản lượng gỗ khai thác trong tháng 10/2024 ước đạt 42.000 m3, tăng 0,5% so cùng kỳ, trong đó toàn bộ là khai thác gỗ từ rừng trồng; sản lượng củi khai thác trong tháng ước đạt 4.800 ste, giảm 5,9% so cùng kỳ. Lũy kế sản lượng gỗ khai thác 10 tháng đầu năm 2024 ước đạt 578.740 m3, tăng 10,8% so cùng kỳ; sản lượng củi khai thác 10 tháng đạt 79.180 ste, giảm 2,2% so cùng kỳ.
Số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 8 nghìn cây, lũy kế số cây lâm nghiệp trồng phân tán 10 tháng ước đạt 1.493 nghìn cây, tăng 2,3%.
Trong tháng xảy ra 1 vụ phá rừng làm nương rẫy với tổng diện tích rừng bị phá là 0,1 ha. Lũy kế 10 tháng xảy ra 19 vụ phá rừng làm nương rẫy với tổng diện tích rừng bị phá là 2,0 ha.
1.3. Thủy sản
Tình hình nuôi trồng thủy sản: Diện tích nuôi trồng thủy sản tháng 10/2024 ước đạt 864 ha, tăng 1,4% so cùng kỳ, bao gồm nuôi nước lợ 830 ha, tăng 1,7%; nuôi nước ngọt 34 ha, giảm 5,6% . Trong diện tích nuôi nước lợ chia ra nuôi cá 93 ha, tăng 3,3%; nuôi tôm 699 ha, tăng 1,5%; diện tích nuôi các loại thủy sản khác 38 ha, tăng 2,7% so cùng kỳ. Lũy kế tổng diện tích nuôi trồng thủy sản 10 tháng năm 2024 ước đạt 7.370 ha, tăng 1,3% so cùng kỳ. Diện tích nuôi nước lợ 5.526 ha, tăng 2%; nuôi nước ngọt 1.844 ha, giảm 0,8%. Trong nuôi nước lợ bao gồm nuôi cá 1.782 ha, tăng 2,1%; nuôi tôm 2.712 ha, tăng 2,3%; nuôi các loại thủy sản khác 1.025 ha, tăng 1,3%; ươm, nuôi giống thủy sản 7 ha, bằng cùng kỳ.
Về sản xuất giống thủy sản, trong tháng 10/2024 sản xuất giống trên địa bàn tỉnh ước đạt 7,1 triệu con, tăng 2,9% so cùng kỳ, trong đó tôm sú giống 1,6 triệu con, bằng cùng kỳ, cá giống các loại 5,5 triệu con, tăng 3,8% so cùng kỳ, chủ yếu cung cấp giống cho các cơ sở nuôi trên địa bàn tỉnh. Lũy kế số giống sản xuất được 10 tháng năm 2024 ước đạt 190,4 triệu con, tăng 1,7% so cùng kỳ; trong đó tôm sú giống 102,9 triệu con, tăng 1,5% so cùng kỳ; cá giống các loại 85,5 triệu con, tăng 2%; cua, ếch giống 2 triệu con, bằng so cùng kỳ.
Sản lượng thu hoạch: tháng 10/2024 ước đạt 1.745 tấn, tăng 4,5% so cùng kỳ. Chia ra sản lượng cá 1.205 tấn, tăng 4,5%; tôm các loại 439 tấn, tăng 4,8%; thủy sản khác 101 tấn, tăng 3,1%. Tính chung sản lượng thủy sản nuôi trồng 10 tháng năm 2024 ước đạt 18.485 tấn, tăng 4,8% so cùng kỳ; trong đó sản lượng cá các loại 10.825 tấn, tăng 5,1%; tôm các loại 6.500 tấn, tăng 4,8%; thủy sản khác 1.160 tấn, tăng 2,8%.
Tình hình khai thác thủy sản: sản lượng khai thác thủy sản tháng 10/2024 ước đạt 3.270 tấn, tăng 2,5% so cùng kỳ; trong đó khai thác biển 2.886 tấn, tăng 3%, khai thác nội địa 384 tấn, giảm 0,8%. Lũy kế sản lượng thủy sản khai thác 10 tháng năm 2024 ước đạt 39.625 tấn, tăng 2,4% so cùng kỳ; trong đó khai thác biển 36.361 tấn, tăng 2,6%, khai thác nội địa 3.264 tấn, giảm 0,7%.
Tính chung sản lượng thủy sản nuôi trồng và khai thác 10 tháng năm 2024 ước đạt 58.110 tấn, tăng 3,1% so cùng kỳ.
2. Sản xuất công nghiệp
Tình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn tiếp tục khởi sắc và có xu hướng tăng nhanh trong những tháng cuối năm. Một số ngành công nghiệp chủ lực vẫn phát huy tốt năng lực sản xuất như: Sản xuất đồ uống, may mặc, cưa, xẻ, bào gỗ và bảo quản gỗ. Các dự án mới đi vào hoạt động đã đóng góp lớn cho tăng trưởng chung của ngành công nghiệp như: dự án nhà máy sản xuất ô tô Kim Long Motor, dự án sản xuất găng tay Kanglongda. Chính vì vậy chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 10/2024 tăng 18,4% so cùng kỳ, tính chung 10 tháng năm 2024 tăng 5,4% so cùng kỳ.
Tháng 10 năm 2024, chỉ số sản xuất công nghiệp ước tính tăng 14,1% so tháng trước và tăng 18,4% so cùng kỳ. Chia ra: Khai khoáng giảm 18,9% so tháng trước và giảm 0,5% so cùng kỳ; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,9% so tháng trước và tăng 23,8% so cùng kỳ; sản xuất và phân phối điện, khí đốt tăng 57,1% so tháng trước và tăng 0,2% so cùng kỳ; cung cấp nước và xử lý rác thải giảm 14,0% so tháng trước và tăng 3,2% so cùng kỳ.
Tính chung 10 tháng năm 2024 chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 5,4% so cùng kỳ. Trong đó: Ngành Công nghiệp khai khoáng tăng 3,6%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,7%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt giảm 4,5%; ngành cấp nước và thu gom rác thải tăng 9,2%.
Các ngành công nghiệp cấp 4 trong 10 tháng năm 2024 có chỉ số sản xuất ước tăng khá so cùng kỳ : sản xuất các loại bánh từ bột (+28,2%); sản xuất bia và mạch nha ủ men bia (+2,2%); may trang phục (+6,8%); sản xuất vali, túi sách và các loại tương tự, sản xuất yên đệm (+41,1%); cưa, xẻ, bào gỗ và bảo quản gỗ (+8,5%); sản xuất xe có động cơ có chỉ số tăng hơn 22,2 lần so cùng kỳ...
Bên cạnh những dấu hiệu tích cực của một số ngành sản xuất, hiện nay một số ngành sản xuất công nghiệp vẫn đang gặp nhiều khó khăn. Lượng hàng tồn kho tại nhiều doanh nghiệp tăng cao; áp lực từ yêu cầu của thị trường và đối tác về phát triển bền vững, chuyển đổi xanh ngày càng gia tăng đã phải chịu sự cạnh tranh gay gắt; đơn hàng sản xuất bị cắt giảm như: chế biến, bảo quản thuỷ sản và các sản phẩm từ thuỷ sản (-14,7%); in ấn (-7,7%); sản xuất vật liệu xây dựng từ đất sét (-3,5%); sản xuất giường tủ, bàn ghế (-19,1%); sản xuất xi măng, vôi, thạch cao giảm 4,8%;… Bên cạnh đó, hiện tượng El Nino xuất hiện vào nửa cuối mùa hè năm 2023 vẫn duy trì đến đến hết mùa hè năm nay, làm cho các nhà máy thủy điện trên địa bàn tỉnh thiếu nước để hoạt động, do vậy ngành sản xuất điện có chỉ số giảm mạnh (-4,5%).
Các sản phẩm công nghiệp ước 10 tháng năm 2024 tăng so cùng kỳ như sau: đá xây dựng khác 883 nghìn m3 (+14,3%); bánh làm từ bột khác bảo quản được 3,0 nghìn tấn (+28,2%); bia 290 triệu lít (+0,9%); túi xách 5,4 triệu cái (+49,8%); quần áo lót 312 triệu cái (+6,8%); vỏ bào, dăm gỗ 595,5 nghìn tấn (+8,5%); ô tô 951chiếc (+16,4 lần)...
Các sản phẩm công nghiệp ước giảm so cùng kỳ: tôm đông lạnh 4.407 tấn (-14,7%); dịch vụ sản xuất va ly, túi xách và các loại tương tự; yên đệm 2.524 triệu đồng (-16,3%); sản phẩm in 624 triệu trang (-7,7%); gạch men 11,8 triệu m2 (-3,5%); xi măng 1.341 nghìn tấn (-4,3%); clanhke xi măng 1.418 nghìn tấn (-8,0%); ghế có khung bằng kim loại 98 nghìn chiếc (-6,2%); điện sản xuất 1.370,0 triệu KW (-8,5%)...
Chỉ số sử dụng lao động ước 10 tháng đầu năm 2024 ước tăng 7,9% so cùng kỳ. Trong đó một số ngành có chỉ số sử dụng lao động tăng như: sản xuất đồ uống (+38,7%); sản xuất da và các sản phẩm có liên quan (+11,6%); sản xuất xe có động cơ (+11,9 lần); sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic (+3,9 lần); công nghiệp chế biến, chế tạo khác (+3,8%). Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số sử dụng lao động giảm: sản xuất chế biến thực phẩm (-5,0%); sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất (-42,0%); sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học (-8,8%)...
3. Vốn đầu tư
Đẩy nhanh tiến trình xây dựng và phát triển tỉnh Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc Trung ương theo Nghị quyết 54 của Bộ Chính trị; Với mục tiêu thực hiện thành công Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI và Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2021-2025. Trong 10 tháng đầu năm, tỉnh Thừa Thiên Huế đang khẩn trương hoàn thành các công trình, dự án trọng điểm của tỉnh, bảo đảm tiến độ các quy hoạch, đề án đã được đề ra, phát triển hệ thống giao thông, tăng cường liên kết vùng, thúc đẩy phát triển kinh tế, giải quyết việc làm và đảm bảo an sinh xã hội.
Tổng vốn đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tháng 10 ước đạt 882,9 tỷ đồng, tăng 19,4% so cùng kỳ. Lũy kế tổng vốn đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý 10 tháng ước đạt 5.773,2 tỷ đồng, đạt 68,5% kế hoạch năm, tăng 3,51% so cùng kỳ. Trong đó, vốn NSNN cấp tỉnh ước đạt 4.762 tỷ đồng tăng 2,5%; vốn NSNN cấp huyện, xã ước đạt 1.011,2 tỷ đồng, tăng 10,9% so cùng kỳ. Nguồn vốn tập trung chủ yếu vào các công trình chuyển tiếp năm 2023 như: đê chắn sóng Cảng Chân Mây giai đoạn 2; hạ tầng khu tái định cư và Quảng trường Văn hóa Thể thao tỉnh Thừa Thiên Huế ; cầu vượt biển Thuận An; cầu đường bộ Nguyễn Hoàng vượt sông Hương; chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình phát triển các đô thị loại II (các đô thị xanh) tỉnh Thừa Thiên Huế; dự án cải thiện môi trường nước, dự án phòng chống thiên tai, dự án phát triển hạ tầng tại các địa phương.
Bên cạnh các dự án đang đẩy nhanh tiến độ thi công, một số dự án chậm tiến độ : dự án Trung tâm Khởi nghiệp Đổi mới sáng tạo tỉnh Thừa Thiên Huế, đường Tố Hữu nối dài đi sân bay Phú Bài; chỉnh trang, mở rộng nút giao Trần Phú - Đặng Huy Trứ - Đoàn Hữu Trưng; đường Lâm Hoằng nối dài; đường dẫn hai đầu cầu đối với các dự án Đường Nguyễn Hoàng và cầu vượt qua sông Hương; tuyến đường bộ ven biển đoạn qua tỉnh Thừa Thiên Huế; bảo quản, tu bổ, phục hồi và tôn tạo tổng thể di tích Thái Miếu giai đoạn 1 - đợt 1; bảo tồn tu bổ và phát huy giá trị tổng thể di tích lăng vua Thiệu Trị giai đoạn 3; dự án Bảo tồn, tu bổ và tôn tạo hệ thống kinh thành Huế; dự án Nâng cấp, mở rộng đường Nguyễn Gia Thiều và khu tái định cư B5 thuộc Hạ tầng khu đô thị mới Thuận An, phường Thuận An; cầu đường bộ và kè sông Như Ý...
4. Thương mại, dịch vụ và giá cả
Tháng 10 bước vào mùa mưa, do ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đới và bão, tại tỉnh Thừa Thiên Huế có mưa vừa, mưa to đã ảnh hưởng tới tình hình kinh doanh thương mại dịch vụ trên địa bàn tỉnh. Bên cạnh chủ động ứng phó với diễn biến phức tạp của thời tiết, các chương trình, lễ hội trong tháng vẫn được tổ chức nhộn nhịp nhằm kích cầu, phát triển hoạt động thương mại dịch vụ như: Lễ hội mùa Đông, trong khuôn khổ Festival Huế 2024 sẽ diễn ra từ tháng 10-12/2024; ngày Phụ nữ Việt Nam 20-10; ngày hội doanh nhân Việt Nam; hội thao - hội thi Công an nhân dân cụm IV tại tỉnh Thừa Thiên Huế.
Kết quả hoạt động thương mại, dịch vụ và vận tải trên địa bàn tỉnh tháng 10 năm 2024 ước đạt như sau:
4.1. Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Tình hình sản xuất kinh doanh nhiều cơ sở trên địa bàn tỉnh bị ảnh hưởng bởi mưa lớn diện rộng, do vậy doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng tháng 10 giảm ở hầu hết các ngành hàng. Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 10 giảm 0,7% so tháng trước.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 10/2024 ước đạt 4.971,8 tỷ đồng, giảm 0,7% so tháng trước và tăng 18,5% so cùng kỳ. Chia theo nhóm ngành hàng: Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 10 ước đạt 3.449,6 tỷ đồng, chiếm 69,4%, giảm 0,8% so tháng trước và tăng 13,7% so cùng kỳ; doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống ước đạt 993,5 tỷ đồng, chiếm 20,0%, giảm 1,4% so tháng trước và tăng 30,1% so cùng kỳ; hoạt động du lịch lữ hành đạt 31,0 tỷ đồng, chiếm 0,6%, giảm 4,3% và tăng 12,2%; doanh thu dịch vụ khác đạt 497,7 tỷ đồng, chiếm 10,0%, tăng 1,5% và tăng 35,4%.
Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 10 tháng năm 2024 đạt 47.293,2 tỷ đồng, tăng 14,8% so cùng kỳ, chia ra tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 33.649,5 tỷ đồng, chiếm 71,2% tổng số và tăng 12,3%; dịch vụ lưu trú và ăn uống đạt 9.404,2 tỷ đồng, chiếm 19,9% và tăng 19,4%; hoạt động du lịch lữ hành đạt 283,8 tỷ đồng, chiếm 0,6% và tăng 12,2%; dịch vụ khác đạt 3.955,7 tỷ đồng, chiếm 8,4% và tăng 35,4%.
4.2. Vận tải hành khách và hàng hóa
Bước vào tháng 10, thời tiết chuyển sang mùa mưa, nhu cầu đi lại cũng như vận chuyển hàng hóa của người dân giảm; các công trình xây dựng thi công gián đoạn do trời mưa,… do đó dự ước doanh thu vận tải giảm so tháng trước.
Dự ước hành khách vận chuyển tháng 10 năm 2024 đạt 3.172,3 nghìn hành khách, giảm 1,6% so tháng trước và tăng 16,2% so cùng kỳ; hành khách luân chuyển đạt 155,0 triệu hành khách.km, giảm 1,6% so tháng trước và tăng 13,3% so cùng kỳ. Tính chung 10 tháng đầu năm 2024, vận tải hành khách ước đạt 30.456,5 nghìn hành khách, tăng 17,0% so cùng kỳ và luân chuyển ước đạt 1.496,1 triệu hành khách.km, tăng 12,6% so cùng kỳ.
Dự ước hàng hóa vận chuyển tháng 10 năm 2024 ước đạt 1.952,9 nghìn tấn, giảm 3,1% so tháng trước và tăng 11,2% so cùng kỳ; hàng hóa luân chuyển đạt 165,0 triệu tấn.km, giảm 1,3% so tháng trước và tăng 13,4% so cùng kỳ. Tính chung 10 tháng năm 2024, vận tải hàng hóa ước đạt 19.025,6 nghìn hành khách, tăng 14,3% so cùng kỳ và luân chuyển ước đạt 1.573,3 triệu tấn.km, tăng 12,0% so cùng kỳ.
Dự ước doanh thu vận tải và bốc xếp tháng 10 năm 2024 đạt 466,1 tỷ đồng, giảm 0,6% so tháng trước và tăng 15,5% so cùng kỳ. Tính chung 10 tháng năm 2024, doanh thu vận tải và bốc xếp ước đạt 4.434,2 tỷ đồng, tăng 15,6% so cùng kỳ. Trong đó: đường bộ đạt 4.074,0 tỷ đồng, tăng 14,4%; đường sông đạt 4,1 tỷ đồng, tăng 20,0%. Chia theo loại hình dịch vụ: vận tải hành khách ước đạt 930,3 tỷ đồng, tăng 15,5%; vận tải hàng hóa ước đạt 3.147,8 tỷ đồng, tăng 14,1%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 329,9 tỷ đồng, tăng 33,4%; bưu chính chuyển phát đạt 26,2 tỷ đồng, tăng 8,5% so cùng kỳ.
4.3. Lượt khách các cơ sở lưu trú phục vụ và du lịch lữ hành
Tháng 10/2024, là tháng đầu tiên trong Lễ hội mùa Đông, với một số hoạt động sự kiện hướng về tính cộng đồng đem đến không khí mùa đông xứ Huế sôi động, ấm áp hơn, đồng thời tạo ra các loại hình vui chơi, giải trí cho du khách. Ngoài ra, tháng 10 cũng là tháng bắt đầu mùa khách quốc tế, dự kiến lượt khách quốc tế đến Huế tăng khá, tuy nhiên thời tiết trong tháng chuyển sang mùa mưa, và cũng là mùa khách nội địa lại có xu hướng giảm.
Doanh thu của cơ sở lưu trú ước thực hiện tháng 10/2024 ước đạt 162,4 tỷ đồng, giảm 0,9% so tháng trước và tăng 38,1% so cùng kỳ. Đưa doanh thu lưu trú 10 tháng năm 2024 đạt 1.634,3 tỷ đồng, tăng 25,1% so cùng kỳ.
Dự ước lượt khách do cơ sở lưu trú phục vụ tháng 10/2024 đạt 154,5 nghìn lượt khách, giảm 0,8% so tháng trước và tăng 16,3% so cùng kỳ. Trong đó, lượt khách ngủ qua đêm tháng 10/2024 ước đạt 122,9 nghìn lượt khách, tăng 0,1% so tháng trước và tăng 18,2% so cùng kỳ; lượt khách trong ngày đạt 31,6 nghìn lượt khách, giảm 4,0% so tháng trước và tăng 9,8% so cùng kỳ. Đưa lượt khách do các cơ sở lưu trú phục vụ 10 tháng năm 2024 đạt 1.695,1 nghìn lượt, tăng 17,0% so cùng kỳ. Trong đó, lượt khách ngủ qua đêm 10 tháng năm đạt 1.354,2 nghìn lượt, tăng 18,0% so cùng kỳ; lượt khách trong ngày đạt 340,9 nghìn lượt, tăng 12,9% so cùng kỳ. Trong lượt khách ngủ qua đêm, khách quốc tế 530,5 nghìn lượt, tăng 22,0%; khách trong nước 823,7 nghìn lượt, tăng 15,6% so cùng kỳ.
Ngày khách dự ước tháng 10/2024 đạt 209,8 nghìn ngày, giảm 0,1% so tháng trước và tăng 15,7% so cùng kỳ. Trong đó: Ngày khách quốc tế đạt 87,6 nghìn ngày, tăng 21,8% so tháng trước và tăng 1,4% so cùng kỳ; ngày khách trong nước đạt 122,2 nghìn ngày, giảm 11,5% so tháng trước và tăng 28,8% so cùng kỳ. Đưa ngày khách dự ước 10 tháng đạt 2.304,8 nghìn ngày, tăng 17,1% so cùng kỳ. Trong đó: Ngày khách quốc tế đạt 944,8 nghìn ngày, tăng 22,6%; ngày khách trong nước đạt 1.360 nghìn ngày, tăng 13,5%.
Lượt khách phục vụ của các cơ sở lữ hành thực hiện tháng 10/2024 ước đạt 14,8 nghìn lượt, giảm 5,8% so tháng trước và tăng 16,4% so cùng kỳ; đưa lượt khách 10 tháng ước đạt 169,7 nghìn lượt, tăng 15,8% so cùng kỳ. Ngày khách theo tour ước thực hiện tháng 10/2024 là 36,8 nghìn ngày, giảm 4,9% so tháng trước và tăng 12,7% so cùng kỳ. Đưa ngày khách theo tour mười tháng ước đạt 357,7 nghìn ngày khách, tăng 14,7% so cùng kỳ.
4.4. Giá cả
- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
Chỉ số giá tiêu dùng chung toàn tỉnh tháng 10/2024 tăng 0,41% so tháng trước. Nguyên nhân tăng chủ yếu là do Tập đoàn Petrolimex điều chỉnh giá xăng dầu trong tháng 10 làm giá nhiên liệu tăng.
Có 7/11 nhóm hàng tăng giá so tháng trước, cụ thể: giao thông tăng 1,09%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,70%; hàng hoá và dịch vụ khác tăng 0,27%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,10%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,09%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,06%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,02% so tháng trước. Trong khi đó, nhóm văn hoá, giải trí và du lịch giảm 0,04% so tháng trước. Các nhóm thuốc và dịch vụ y tế, bưu chính viễn thông, giáo dục bình ổn so tháng trước.
Chỉ số giá tiêu dùng chung toàn tỉnh tháng 10/2024 tăng 2,39% so tháng 12 năm trước và tăng 3,23% so cùng kỳ. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 10 tháng năm 2024 tăng 3,89% so bình quân cùng kỳ.
- Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ
Chỉ số giá vàng tháng 10/2024 tăng 6,39% so với tháng trước. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 10/2024 tăng 1,04% so với tháng trước.
5. Tài chính, ngân hàng
5.1. Tài chính:
Tổng thu ngân sách trên địa bàn 10 tháng năm 2024 ước đạt 9.516 tỷ đồng, bằng 80,7% dự toán năm. Nguồn thu thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng hàng nhập khẩu năm này tăng mạnh chủ yếu là do khoản thu thuế xuất khẩu dăm gỗ tăng và phát sinh khoản thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng hàng linh kiện lắp ráp ô tô của Công ty cổ phần Kim Long Motor Huế.
Trong đó: Thu nội địa ước đạt 8.527,7 tỷ đồng, bằng 76,4% dự toán; thu thuế từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 973 tỷ đồng, bằng 156,9% dự toán. Trong thu nội địa: Thu doanh nghiệp Nhà nước ước đạt 351 tỷ đồng, bằng 76,3% dự toán; thu doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 3.510 tỷ đồng, bằng 91,5% dự toán; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 1.380 tỷ đồng, bằng 85,8% dự toán; thuế thu nhập cá nhân 538 tỷ đồng, bằng 107,6% dự toán; thuế bảo vệ môi trường 326 tỷ đồng, bằng 88,1% dự toán.
Tổng chi ngân sách địa phương 9 tháng ước đạt 10.733 tỷ đồng, bằng 67,1% dự toán, trong đó chi đầu tư phát triển 3.539,2 tỷ đồng, bằng 59,9% dự toán; chi sự nghiệp kinh tế 695 tỷ đồng, bằng 64,8% dự toán; chi sự nghiệp giáo dục đào tạo 3.100,0 tỷ đồng, bằng 80,2% dự toán; chi sự nghiệp y tế 450 tỷ đồng, bằng 70,0% dự toán; chi quản lý Nhà nước 1.396,5 tỷ đồng, bằng 86,7% dự toán.
5.2. Ngân hàng:
Đẩy mạnh triển khai chương trình kết nối Ngân hàng - Doanh nghiệp theo Công văn số 4315/NHNN-TD ngày 21/5/2024 của NHNNVN, NHNN tỉnh đã có văn bản chỉ đạo các NHTM trên địa bàn tích cực chủ động đẩy mạnh chương trình kết nối Ngân hàng - Doanh nghiệp. Thực hiện Thông tư 02/2023/TT-NHNN và Chỉ thị số 02/CT-NHNN ngày 23/5/2023 của NHNN VN về việc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng gặp khó khăn. Chương trình tín dụng đối với lĩnh vực lâm sản, thủy sản với quy mô hiện nay khoảng 30.000 tỷ đồng và mức lãi suất thấp hơn tối thiểu từ 1% - 2%/năm so mức lãi suất cho vay bình quân (theo Công văn 5631/NHNN-TD ngày 14/7/2023 của NHNN Việt Nam).
Tổng nguồn vốn huy động đến cuối tháng 10 năm 2024 ước đạt 75,3 nghìn tỷ đồng, tăng 8,14% so thời điểm đầu năm; tổng dư nợ tín dụng ước đạt 81,1 nghìn tỷ đồng, tăng 4,3% so thời điểm đầu năm.
Các TCTD trên địa bàn tiếp tục chú trọng cho vay các lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ. Đến cuối tháng 9/2024, tín dụng đối với nông nghiệp nông thôn đạt 16.198 tỷ đồng, tăng 9,78% so đầu năm; Tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa đạt 12.358 tỷ đồng, giảm 14,71%; Tín dụng đối với xuất khẩu đạt 4.764 tỷ đồng, giảm 7,25% so đầu năm; Cho vay công nghiệp hỗ trợ đạt 1.425 tỷ đồng, tăng 20,93% so đầu năm. Trên địa bàn chưa phát sinh có dư nợ cho vay doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao.
6. Các vấn đề xã hội
6.1. Giáo dục - Đào tạo
Sự kiện nổi bật tháng 10/2024, học sinh Võ Quang Phú Đức, đại diện của Trường THPT chuyên Quốc Học Huế xuất sắc giành vòng nguyệt quế tại cuộc thi Đường lên đỉnh Olympia năm thứ 24. Tại điểm cầu truyền hình diễn ra tại Quảng trường Ngọ Môn, Huế đã giới thiệu, quảng bá những hình ảnh về lịch sử, văn hóa, con người và danh lam thắng cảnh Huế, tạo ấn tượng tốt đẹp với mọi người.
Ngày 23/10/2024 Sở Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Ban Khoa giáo, Đài Truyền hình Việt Nam tổ chức lễ phát động chương trình “Chinh phục tương lai 2024”. Đây là cuộc thi dành cho học sinh trung học cơ sở trên cả nước, năm 2024 chương trình “Chinh phục tương lai” được tổ chức tại 9 tỉnh, thành, trong đó có Thừa Thiên Huế.
6.2. Tình hình y tế, dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm
Tháng 10/2024, trên địa bàn tỉnh có 247 ca sốt xuất huyết, tăng 105 ca so cùng kỳ; có 15 ca mắc tay chân miệng, giảm 75 ca so cùng kỳ; 1 ca liên cầu lợn, tăng 1 ca so cùng kỳ; không có ca mắc sốt rét, viêm gan siêu trùng, viêm não vi rút, thương hàn, bằng cùng kỳ. Mười tháng năm 2024, trên địa bàn có 1.602 ca sốt xuất huyết, tăng 1.204 ca so cùng kỳ, có 1 ca tử vong, tăng 1 ca so cùng kỳ; có 114 ca mắc tay chân miệng, giảm 223 ca so cùng kỳ; 2 ca liên cầu lợn, tăng 2 ca so cùng kỳ; không có ca mắc sốt rét, viêm gan siêu trùng, viêm não vi rút, thương hàn bằng cùng kỳ .
Tháng 9/2024, toàn tỉnh đã phát hiện 9 ca nhiễm mới HIV , tăng 4 ca so cùng kỳ; có 3 ca chuyển qua AIDS, tăng 3 ca so cùng kỳ; không có ca tử vong, bằng cùng kỳ. Chín tháng đầu năm, toàn tỉnh có 72 ca nhiễm mới HIV, giảm 9 ca so cùng kỳ; có 22 ca chuyển qua AIDS, tăng 14 ca so cùng kỳ; có 3 ca tử vong, tăng 1 ca so cùng kỳ. Hiện tại, trên địa bàn tỉnh có 561 bệnh nhân đang được quản lý và điều trị tại các cơ sở y tế, trong đó có 552 bệnh nhân điều trị ARV.
Tháng 10/2024, trên địa bàn không xảy ra ngộ độc thực phẩm, bằng so cùng kỳ. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn xảy ra 4 vụ ngộ độc thực phẩm, tăng 2 vụ so cùng kỳ; làm 39 người bị ngộ độc, tăng 6 người so cùng kỳ, không có người tử vong.
6.3. Hoạt động văn hóa, thể thao
Trong tháng 10/2024, trên địa bàn tỉnh diễn ra nhiều hoạt động văn hóa, thể thao nổi bật, đáng chú ý ngày 10/10/2024 tại Trung tâm thể thao tỉnh tổ chức Giải bơi truyền thống trung, cao tuổi toàn quốc lần thứ 26 năm 2024. Thu hút hơn 200 HLV, VĐV nam, nữ của 22 đơn vị, địa phương trên cả nước tham gia, các VĐV tranh tài 4 nội dung bơi ở 9 nhóm tuổi.
Tối ngày 19/10/2924, Nhà hát Sông Hương tổ chức thành công đêm nhạc mang tên “Huế Symphony - Bản giao hưởng Cố đô”, thu hút gần nghìn người tham dự. Đây là hoạt động văn hóa nghệ thuật đặc sắc, hướng tới sản phẩm du lịch mới, độc đáo của Cố đô Huế.
Ngày 25/10/2024, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng UBND thành phố Hà Nội, UBND tỉnh Thừa Thiên Huế tổ chức Cuộc thi và Triển lãm ảnh nghệ thuật Việt Nam năm 2024 tại thành phố Huế. Ban tổ chức đã nhận hơn 900 bộ ảnh dự thi; trong đó, có 73 bộ ảnh được chọn triển lãm, 19 bộ trong số đó được trao giải thưởng.
6.4. Tai nạn giao thông
Theo báo cáo của Ban ATGT tỉnh, từ 15/9/2024 đến 14/10/2024, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 16 vụ tai nạn giao thông, giảm 11 vụ so cùng kỳ; làm 9 người chết, tăng 3 người; làm bị thương 10 người, giảm 10 người so cùng kỳ. Mười tháng đầu năm, trên địa bàn xảy ra 233 vụ tai nạn giao thông, tăng 35 vụ so cùng kỳ; làm chết 102 người, tăng 7 người; làm bị thương 170 người, tăng 25 người so cùng kỳ.
6.5. Tình hình cháy nổ và bảo vệ môi trường
Trong tháng 10/2024 trên địa bàn tỉnh xảy ra 1 vụ cháy , thiệt hại ước tính khoảng 30,5 triệu đồng, không có thiệt hại về người; bằng so cùng kỳ, tăng 1 vụ so tháng trước. Mười tháng năm 2024, trên địa bàn tỉnh xảy ra 15 vụ cháy, giảm 10 vụ so cùng kỳ; không có thiệt hại về người, thiệt hại khoảng 1,045 tỷ đồng.
Trong tháng 10/2024 trên địa bàn tỉnh phát hiện 12 vụ vi phạm môi trường, giảm 6 vụ so cùng kỳ, tăng 6 vụ so tháng trước. Các ngành chức năng đã tiến hành xử lý 9 vụ với số tiền xử phạt 56,2 triệu đồng. Mười tháng năm 2024, trên địa bàn tỉnh xảy ra 183 vụ vi phạm môi trường, tăng 14 vụ so cùng kỳ; tiến hành xử lý 163 vụ với tổng số tiền phạt 1.144,3 triệu đồng.
6.6. Thiệt hại do thiên tai
Tháng 10/2024 xảy ra 1 vụ thiên tai, tăng 1 vụ so tháng trước và giảm 1 vụ so cùng kỳ. Sáng ngày 27/10/2024 bão số 6 đi vào địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế với sức gió cấp 7-8, giật cấp 9-10, vùng gần tâm bão đi qua cấp 8-9, giật cấp 10-11; gây ra mưa to đến rất to, làm ngập một số vùng thấp trũng. Hiện tại chưa thu thập thông tin để ước tính thiệt hại do bão số 6 gây ra. Mười tháng năm 2024 trên địa bàn tỉnh xảy ra 6 vụ thiên tai, bằng cùng kỳ; giá trị thiệt hại ước khoảng 3,1 tỷ đồng (chưa tính bão số 6). Cục Thống kê tiếp tục cập nhật và báo cáo khi có số liệu thu thập đầy đủ về thiệt hại do bão số 6 gây ra./.
CỤC THỐNG KÊ TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Tin khác