BÁO CÁO TÌNH HÌNH KINH TẾ – XÃ HỘI 9 THÁNG ĐẦU NĂM 2024
Kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh 9 tháng đầu năm diễn ra trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới có những chuyển biến tích cực hơn so với kỳ vọng, lạm phát toàn cầu tiếp tục giảm về mức mục tiêu, thương mại hàng hóa toàn cầu cải thiện dần trong nửa cuối năm 2024, tài chính tiếp tục nới lỏng, áp lực thị trường lao động đã giảm một phần, do đó các tổ chức quốc tế đưa ra những dự báo lạc quan hơn về kinh tế thế giới so với các dự báo đưa ra trước đó. Tuy nhiên tình hình thế giới còn diễn biến phức tạp, bất ổn chính trị, xung đột quân sự leo thang tại một số quốc gia, tiềm ẩn nhiều rủi ro, đe dọa sự ổn định, phát triển toàn cầu. Trong nước, với tình hình khả quan trong sản xuất công nghiệp, xuất khẩu và thu hút nguồn vốn FDI đang là lực đẩy chính cho tăng trưởng kinh tế. Nhưng trước triển vọng tăng trưởng toàn cầu không chắc chắn có thể làm giảm xuất khẩu, động lực chính của nền kinh tế; những rủi ro do thiên tai, hiện tượng thời tiết cực đoan đã và đang ảnh hưởng đến mục tiêu tăng trưởng. Với quyết tâm hoàn thành đạt và vượt các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2024, ngay từ đầu năm Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã tập trung chỉ đạo triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển sản xuất, kinh doanh. Nhờ vậy, kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh trong 9 tháng đầu năm tiếp tục duy trì ổn định và phát triển. Kết quả đạt được trên các ngành, lĩnh vực trong 9 tháng đầu năm 2024 như sau:
1. Tăng trưởng kinh tế
Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh 9 tháng đầu năm 2024 ước tăng 7,34% so với cùng kỳ. Đây là mức tăng trưởng khá và tăng cao qua các quý, cao hơn cùng kỳ (+6,84%); xét trong khu vực Bắc trung bộ và Duyên hải miền trung, tốc độ tăng trưởng của tỉnh nhà đạt khá cao. Trong đó: Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,93%, đóng góp 0,35 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,62%, đóng góp 2,72 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 7,40%, đóng góp 3,58 điểm phần trăm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 8,43% so với cùng kỳ, đóng góp 0,69 điểm phần trăm trong tăng trưởng kinh tế toàn tỉnh.
Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản: sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 9 tháng đầu năm 2024 gặp nhiều thuận lợi, giá vật tư phân bón ổn định, thời tiết ôn hòa, cây trồng phát triển tốt, năng suất hầu hết các loại cây trồng đều tăng, đàn vật nuôi duy trì tốc độ tái đàn, dịch bệnh không xảy ra, công tác tiêm phòng thú y, vệ sinh môi trường chăn nuôi được chú trọng. Trong đóng góp tăng trưởng của khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản 9 tháng đầu năm 2024, ngành nông nghiệp tăng 1,93% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 0,13 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; ngành thủy sản duy trì phát triển ổn định tăng 3,21%, đóng góp 0,12 điểm phần trăm; riêng ngành lâm nghiệp tăng trưởng khá cao tăng 7,49%, đóng góp 0,10 điểm phần trăm, đảm bảo nguyên liệu cung cấp cho các doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu trên địa bàn.
Khu vực công nghiệp - xây dựng: Ngành công nghiệp 9 tháng đầu năm 2024 tăng 5,98% đóng góp 1,44 điểm phần trăm. Riêng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng trưởng 6,90% (cao hơn mức tăng trưởng 4,74% của năm 2023) tiếp tục là đầu tàu trong toàn ngành công nghiệp của tỉnh, đạt mức tăng trưởng này là nhờ năng lực tăng thêm của các ngành và một số sản phẩm chủ lực duy trì mức sản xuất khá như bia, dệt may, dăm gỗ, sản xuất túi xách... Ngành công nghiệp cấp nước và thu gom rác thải tăng trưởng khá, do những dự án mang tính chất công ích, thân thiện môi trường và sử dụng công nghệ hiện đại đi vào hoạt động, góp phần quan trọng trong giải bài toán đầu ra việc xử lý rác thải hiệu quả và đảm bảo môi trường tại địa phương khi các bãi chôn lấp đã đầy và ô nhiễm; Ngành xây dựng tăng 17,09%, đóng góp 1,27 điểm phần trăm, hiện nay nhiều công trình lớn đang được thi công và đẩy nhanh tiến độ, đóng góp lớn vào mức tăng trưởng của khu vực công nghiệp - xây dựng cũng như toàn nền kinh tế của tỉnh.
Khu vực dịch vụ trong 9 tháng đầu năm 2024 tiếp tục ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực, hoạt động xúc tiến du lịch được đẩy mạnh, nhiều sự kiện liên tục được tổ chức tạo không khí sôi động, tươi mới thu hút đông đảo du khách; thị trường hàng hóa trong tỉnh phong phú, lưu thông thông suốt, sức mua tăng đã đem lại nhiều kết quả quan trọng. Một số ngành dịch vụ trong 9 tháng đầu năm có mức tăng trưởng khá: Ngành bán buôn, bán lẻ hàng hoá tăng 8,98% cùng kỳ, đóng góp 0,56 điểm phần trăm; dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng 10,56%, đóng góp 0,65 điểm phần trăm; vận tải kho bãi tăng 8,10%, đóng góp 0,27 điểm phần trăm; nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 10,85%, đóng góp 0,08 điểm phần trăm...
Cơ cấu kinh tế 9 tháng đầu năm 2024, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 11,83%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 30,50%; khu vực dịch vụ chiếm 49,50%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 8,17% (cơ cấu tương ứng của cùng kỳ năm 2023 là: 12,13%; 30,87%; 48,79% và 8,20%).
2. Tài chính, ngân hàng
2.1. Tài chính:
Tổng thu ngân sách trên địa bàn 9 tháng năm 2024 ước đạt 8.720,2 tỷ đồng, bằng 74,0% dự toán năm. Nguồn thu thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng hàng nhập khẩu năm này tăng mạnh chủ yếu là do khoản thu thuế xuất khẩu dăm gỗ tăng và phát sinh khoản thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng hàng linh kiện lắp ráp ô tô của Công ty cổ phần Kim Long Motor Huế.
Trong đó: Thu nội địa ước đạt 7.829,3 tỷ đồng, bằng 70,2% dự toán; thu thuế từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 877,4 tỷ đồng, bằng 141,5% dự toán. Trong thu nội địa: Thu doanh nghiệp Nhà nước ước đạt 314 tỷ đồng, bằng 68,3% dự toán; thu doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 3.175 tỷ đồng, bằng 82,7% dự toán; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 1.298 tỷ đồng, bằng 80,7% dự toán; thuế thu nhập cá nhân 500 tỷ đồng, bằng 100,0% dự toán; thuế bảo vệ môi trường 294 tỷ đồng, bằng 79,5% dự toán.
Tổng chi ngân sách địa phương 9 tháng ước đạt 9.667,3 tỷ đồng, bằng 60,5% dự toán, trong đó chi đầu tư phát triển 3.205,8 tỷ đồng, bằng 54,2% dự toán; chi sự nghiệp kinh tế 625,5 tỷ đồng, bằng 58,3% dự toán; chi sự nghiệp giáo dục đào tạo 2.790,0 tỷ đồng, bằng 72,2% dự toán; chi sự nghiệp y tế 405 tỷ đồng, bằng 63,0% dự toán; chi quản lý Nhà nước 1.256,9 tỷ đồng, bằng 78,1% dự toán.
2.2. Ngân hàng:
Đẩy mạnh triển khai chương trình kết nối Ngân hàng - Doanh nghiệp theo Công văn số 4315/NHNN-TD ngày 21/5/2024 của NHNNVN, NHNN tỉnh có văn bản chỉ đạo các NHTM trên địa bàn tích cực chủ động đẩy mạnh chương trình kết nối Ngân hàng - Doanh nghiệp. Thực hiện Thông tư 02/2023/TT-NHNN và Chỉ thị số 02/CT-NHNN ngày 23/5/2023 của NHNNVN về việc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng gặp khó khăn. Chương trình tín dụng đối với lĩnh vực lâm sản, thủy sản với quy mô hiện nay khoảng 30.000 tỷ đồng và mức lãi suất thấp hơn tối thiểu từ 1% - 2%/năm so với mức lãi suất cho vay bình quân (theo Công văn 5631/NHNN-TD ngày 14/7/2023 của NHNN Việt Nam).
Tổng nguồn vốn huy động đến cuối tháng 9 năm 2024 ước đạt 74,6 nghìn tỷ đồng, tăng 7,2% so với so với đầu năm; tổng dư nợ tín dụng ước đạt 80,1 nghìn tỷ đồng, tăng 3,0% so với đầu năm.
NHNN tỉnh tiếp tục giám sát chặt chẽ việc tuân thủ các quy định của NHNN VN về lãi suất, trong đó đã chỉ đạo các TCTD trên địa bàn thực hiện tiết giảm chi phí để giảm lãi suất cho vay, hỗ trợ nền kinh tế địa phương.
Lãi suất huy động bằng VND tại các TCTD trên địa bàn: đang áp dụng ở mức tối đa 0,5%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn hoặc có kỳ hạn dưới 1 tháng, kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng ở mức tối đa 4%/năm theo quy định của NHNN Việt Nam. Đối với kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng, dao động trong mức 4%-5,5%/năm. Đối với kỳ hạn từ 12 tháng trở lên dao động trong khoảng 5%/năm đến 6%/năm (bao gồm lãi suất online).
Lãi suất cho vay bằng VND: Lãi suất cho vay bằng VNĐ đối với các lĩnh vực ưu tiên tối đa 4,0%/năm đối với ngắn hạn. Lãi suất cho vay các lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường dao động trong khoảng 5-7%/năm đối với ngắn hạn; 6%-9%/năm đối với trung và dài hạn. Lãi suất huy động USD phổ biến bằng mức trần do NHNN quy định là 0,0%/năm đối với tiền gửi của tổ chức và cá nhân. Lãi suất cho vay USD bình quân ở mức 3-6%/năm.
3. Hoạt động xuất nhập khẩu
Hoạt động xuất nhập khẩu trên địa bàn trong 9 tháng đầu năm 2024 tiếp tục chuyển biến tích cực do sự phục hồi của thị trường thế giới, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất hàng hóa xuất khẩu đã có nhiều đơn hàng và thị trường xuất khẩu được mở rộng đi nhiều nước. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu ước đạt 1.675,3 triệu USD, tăng 30,0% so cùng kỳ, xuất siêu hàng hóa đạt 387,1 triệu USD.
3.1. Xuất khẩu
Kim ngạch xuất khẩu (KNXK) hàng hóa trong 9 tháng đầu năm 2024 ước đạt 907,8 triệu USD tăng 16,8% so với cùng kỳ, đạt 69,8% kế hoạch. Trong đó, khu vực doanh nghiệp 100% vốn trong nước ước đạt 539,0 triệu USD, tăng 10,7%; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 368,8 triệu USD, tăng 26,9%. Các nhóm hàng xuất khẩu chủ lực cụ thể :
- Nhóm hàng nông lâm, thuỷ sản ước đạt 38,8 triệu USD, giảm 17,3% so với cùng kỳ và chiếm tỷ trọng 4,3%.
- Nhóm hàng công nghiệp chế biến ước đạt 714,3 triệu USD, tăng 13,8% và chiếm tỷ trọng 78,7%, trong đó: xơ, sợi dệt các loại ước đạt 144,1 triệu USD, giảm 5,3%; hàng may mặc ước đạt 425,2 triệu USD, tăng 5,2%; gỗ và sản phẩm gỗ ước đạt 145,0 triệu USD, tăng gấp 2 lần cùng kỳ.
- Nhóm các hàng hóa khác như hương và bột hương, bia, rượu sa kê, hàng thủ công mỹ nghệ, bao bì xi măng… ước đạt 154,8 triệu USD, tăng 51,0% và chiếm tỷ trọng 17,0%.
Thị trường xuất khẩu: Trong 9 tháng đầu năm 2024, doanh nghiệp đã xuất khẩu đến hơn 50 quốc gia và vùng lãnh thổ như Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, ASEAN, các nước Châu Âu,…
3.2. Nhập khẩu
Dự ước kim ngạch nhập khẩu hàng hóa 9 tháng đầu năm 2024 ước đạt 767,5 triệu USD tăng 50,2% so với cùng kỳ, đạt 112,9% kế hoạch. Trong đó, khu vực doanh nghiệp 100% vốn trong nước ước đạt 473,7 triệu USD, tăng 45,8%; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 293,8 triệu USD, tăng 57,94%. Các mặt hàng nhập khẩu tiếp tục phục vụ cho hoạt động sản xuất, xuất khẩu của các doanh nghiệp, cụ thể:
- Nhóm hàng cần nhập khẩu ước đạt 614,2 triệu USD, tăng 44,3% so với cùng kỳ và chiếm tỷ trọng 80,0%, trong đó: nguyên phụ liệu dệt may 466,8 triệu USD, tăng 48,2%; máy móc thiết bị dụng cụ phụ tùng 146,3 triệu USD tăng 40,3%.
- Nhóm hàng hóa khác như thạch cao, thép, hóa chất, linh kiện điện tử, nguyên phụ liệu sản xuất bia... ước đạt 146,3 triệu USD, tăng 83,1% so với cùng kỳ.
4. Giá cả, lạm phát
- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
Nhu cầu tiêu dùng hàng ăn và dịch vụ ăn uống của người dân tăng, cùng với đó một số trường đại học trên địa bàn thực hiện tăng học phí năm học 2024-2025 là nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng của tỉnh Thừa Thiên Huế tháng 9/2024 tăng 0,17% so với tháng trước, tăng 1,96% so với tháng 12 năm 2023, tăng 2,85% so với cùng kỳ, bình quân 9 tháng đầu năm 2024 tăng 3,97% so với cùng kỳ.
So với tháng trước, CPI tháng 9/2024 tăng 0,17%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 7 nhóm hàng tăng giá gồm các nhóm mặt hàng như: giáo dục tăng 2,14%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,80%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,35%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,11%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,08%; hàng hoá và dịch vụ khác tăng 0,13%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,02%. Bên cạnh đó, có các nhóm hàng giảm giá so với tháng trước như: may mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,14%; giao thông giảm 3,25%. Các nhóm thuốc và dịch vụ y tế; bưu chính viễn thông bình ổn so với tháng trước.
Chỉ số giá tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ 9 tháng đầu năm 2024 so với cùng kỳ tăng 3,97%. Các nhóm hàng hóa dịch vụ có chỉ số giá bình quân 9 tháng đầu năm 2024 tăng so cùng kỳ năm trước gồm: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 5,04%; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 8,26%; giao thông tăng 5,09%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 5,41%. Các nhóm còn lại có chỉ số giá biến động nhẹ và ổn định so với cùng kỳ..
- Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ
Chỉ số giá vàng tháng 9/2024 tăng 2,18% so với tháng trước, tăng 28,01% so với tháng 12 năm trước và tăng 38,07% so với cùng kỳ. Bình quân 9 tháng đầu năm 2024 tăng 29,09% so với bình quân cùng kỳ.
Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 9/2024 giảm 1,79% so với tháng trước, tăng 1,61% so với tháng 12 năm trước và tăng 2,19% so với cùng kỳ. Bình quân 9 tháng đầu năm 2024 tăng 5,32% so với bình quân cùng kỳ.
5. Vốn đầu tư
Nhằm thực hiện thành công các chỉ tiêu đề ra trong năm, UBND tỉnh đã chỉ đạo các cấp, các ngành tập trung thực hiện các nhóm giải pháp, đẩy nhanh việc giải ngân vốn đầu tư công, hoàn thành các đề án, quy hoạch quan trọng. Trong 9 tháng đầu năm, tình hình đầu tư trên địa bàn tỉnh có nhiều khởi sắc, đầu tư trong khu vực doanh nghiệp, dân cư cũng như đầu tư nước ngoài tăng trưởng khá so với cùng kỳ.
Tổng vốn đầu tư thực hiện theo giá hiện hành trên địa bàn quý III ước đạt 8.781,8 tỷ đồng, tăng 11,2% so với cùng kỳ. Tính chung tổng vốn đầu tư thực hiện theo giá hiện hành trên địa bàn 9 tháng đầu năm 2024 ước đạt 22.981,2 tỷ đồng, tăng 9,6% so với cùng kỳ. Trong đó: vốn ngân sách Nhà nước ước đạt 5.444,5 tỷ đồng, tăng 2,3% so với cùng kỳ; nguồn vốn tín dụng đầu tư theo kế hoạch nhà nước ước đạt 3,1 tỷ đồng, bằng 9,9% so với cùng kỳ; vốn vay từ các nguồn khác (của khu vực Nhà nước) 111,3 tỷ đồng, bằng 32,5%; vốn tự có của doanh nghiệp nhà nước 234,2 tỷ đồng, bằng 54,1%; vốn đầu tư của dân cư và tư nhân 13.626.4 tỷ đồng, tăng 16,0%,; vốn đầu tư nước ngoài 3.561,7 tỷ đồng, tăng 35,0%.
Nguồn vốn đầu tư NSNN tập trung đầu tư vào những dự án về giao thông, giáo dục, quản lý nhà nước và phòng chống thiên tai..., nguồn này hiện đang thực hiện các dự án chuyển tiếp như: Tuyến đường bộ ven biển đoạn qua tỉnh Thừa Thiên Huế và qua cầu Thuận An; Cầu đường bộ Nguyễn Hoàng vượt sông Hương; cầu vượt biển Thuận An; Hạ tầng đô thị tại Phú Vang, Phong Điền, Hương Thủy, đường Phạm Văn Đồng... Bên cạnh các dự án đang đẩy nhanh tiến độ thi công, một số dự án đã vướng giải phóng mặt bằng nhiều năm nhưng chưa được các chủ đầu tư phối hợp với địa phương để giải quyết dứt điểm dẫn đến chậm tiến độ như các dự án như: Đường Tố Hữu nối dài đi sân bay Phú Bài, Quảng trường Văn hóa Thể thao tỉnh Hạ tầng kỹ thuật khu đất CX7 thuộc khu A – đô thị mới An Vân Dương, Hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư TĐC2 - đô thị mới An Vân Dương, Hạ tầng kỹ thuật khu định cư Bàu Vá giai đoạn 4...
Nguồn vốn doanh nghiệp ngoài nhà nước đầu tư trên địa bàn tiếp tục triển khai các dự án chuyển tiếp như: Dự án Khu công nghiệp Gilimex; Hạ tầng khu CN và khu phi thuế quan Sài Gòn - Chân Mây; công trình cảng biển... 9 tháng đầu năm có 21 dự án doanh nghiệp trong nước đăng ký đầu tư với tổng số vốn 5.296,7 tỷ đồng và 4 dự án điều chỉnh tăng vốn. Trong tháng 8, công ty cổ phần Kim Long Motor Huế và công ty cổ phần YUCHAI (Trung Quốc) khởi công xây dựng Nhà máy sản xuất, chế tạo động cơ có tổng mức đầu tư 260 triệu USD (tương đương 6.200 tỷ VNĐ). Dự án dự kiến sẽ đóng góp tích cực cho sự phát triển ngành công nghiệp ô tô, tạo sức lan tỏa để thu hút lĩnh vực công nghiệp phụ trợ ô tô đầu tư vào địa bàn tỉnh, đây là động lực để vốn đầu tư ngoài nhà nước tăng trưởng nhanh trong những năm tiếp theo.
Nguồn vốn viện trợ nước ngoài ước đạt 500 tỷ đồng, đạt 51,3% so kế hoạch năm, giảm 1,96% so cùng kỳ. Nguồn vốn viện trợ nước ngoài chủ yếu thực hiện các dự án như: Chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình phát triển các đô thị loại II (các đô thị xanh) tỉnh Thừa Thiên Huế; dự án cải thiện môi trường nước. Nguồn vốn ODA chiếm tỷ trọng thấp trong tổng số, kế hoạch thực hiện dài năm nên trong quá trình thực hiện phải điều chỉnh, bổ sung nhiều lần ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện.
Nguồn vốn đâu tư tiếp nước ngoài 9 tháng đầu năm 2024 tăng cao, thực hiện các dự án chuyển tiếp như: Dự án Khu công nghiệp Gilimex; nhà máy Kanglongda Huế (giai đoạn 2); trung tâm thương mại Aeon Mall Huế; giai đoạn II của dự án Laguna Lăng Cô; khu phức hợp du lịch và dịch vụ Kim Long Lăng Cô; khu biệt thự du lịch sinh thái biển Lăng Cô Spa Resort... Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh có 12 dự án FDI đăng ký mới với tổng số vốn đăng ký 35,6 triệu USD; 01 dự án điều chỉnh tăng vốn từ 5 triệu USD lên hơn 8 triệu USD.
6. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp
Hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh trong 9 tháng đầu năm 2024 đã có nhiều tín hiệu tích cực khi đơn hàng từng bước phục hồi, giá cả nguyên vật liệu đầu vào ít biến động và lãi suất ngân hàng hạ nhiệt là những yếu tố thuận lợi để các doanh nghiệp chủ động thực hiện tốt kế hoạch sản xuất kinh doanh.
Đánh giá tổng quan về tình hình SXKD, có 83,61% số DN đánh giá SXKD quý III/2024 của họ khả quan hơn và giữ ổn định so với quý II/2024 (trong đó 29,51% khẳng định tốt lên và 54,10% khẳng định giữ ổn định); 16,39% số DN đánh giá là khó khăn hơn. Các DN nhận định SXKD của quý IV/2024 tốt hơn và giữ ổn định so với quý III/2024 chiếm 77,05% (trong đó 34,43% dự báo tốt lên và 42,62% dự báo giữ ổn định), có 22,95% số DN dự báo khó khăn hơn.
Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong quý III/2024, có 60,66% cho rằng nhu cầu của thị trường trong nước thấp đã ảnh hưởng đến hoạt động sxkd của DN, các nhân tố có mức ảnh hưởng tiếp theo đó là: Tính cạnh tranh của hàng trong nước cao (55,74%), Thiết bị công nghệ lạc hậu (47,54%), Nhu cầu thị trường quốc tế thấp (45,9%), Thiếu nguyên, nhiên, vật liệu (32,79%), Khó khăn về tài chính (31,15%), Lãi suất vay vốn cao (27,87%), Tính cạnh tranh của hàng nhập khẩu cao (19,67%), Không tuyển dụng được lao động theo yêu cầu (18,03%), Chính sách pháp luật của Nhà nước (18,03%)...
Tính đến thời điểm 26/9/2024 trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế có 600 doanh nghiệp thành lập mới. Trong đó: công ty cổ phần 45 DN; công ty TNHH hai thành viên trở lên 143 DN; công ty TNHH một thành viên 393; doanh nghiệp tư nhân 19 DN; với số vốn đăng ký đạt 2.559,7 tỷ đồng. Số doanh nghiệp hoạt động trở lại 336 DN, số doanh nghiệp đã giải thể 333 DN, số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động 787 DN.
7. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản 9 tháng đầu năm 2024 diễn ra trong điều kiện thời tiết thuận lợi, cây trồng phát triển tốt, ước tính năng suất lúa cả năm đạt 64,3 tạ/ha, tăng 2,7%; đàn vật nuôi duy trì tốc độ tái đàn, dịch bệnh không xảy ra, tổng đàn lợn ước tăng 0,9% so với cùng kỳ; sản lượng gỗ khai thác rừng trồng 9 tháng ước tăng 11,7%; sản lượng thủy sản ước tăng 3,1% so với cùng kỳ.
7.1. Nông nghiệp
* Cây hằng năm
Trong tháng 9/2024 sản xuất nông nghiệp tập trung chăm sóc cây lúa vụ mùa và cây hàng năm khác. Diện tích gieo cấy lúa vụ mùa chủ yếu là lúa nương rẫy của vùng núi cao huyện A Lưới, ước đạt 185 ha, giảm 0,3% so với vụ Mùa năm 2023. Cây hằng năm khác chủ yếu phát sinh diện tích gieo trồng rau các loại 332 ha, giảm 2,2%; cây họ đậu 43 ha, giảm 3,8% so với cùng kỳ.
Năm 2024, sản xuất nông nghiệp trên địa bàn gặp nhiều thuận lợi, giá vật tư phân bón ổn định, thời tiết ôn hòa. Sản xuất vụ đông xuân, đầu vụ diễn ra một số đợt mưa bất thường nhưng người dân đã chủ động tiêu úng đồng ruộng và gieo sạ lại kịp lịch thời vụ nên không gây thiệt hại cho cây lúa. Trong vụ, thời tiết nắng ấm, cây lúa đang sinh trưởng và phát triển tốt. đến cuối vụ xảy ra hai đợt mưa lớn vào ngày 28/4 và 4/5 đã làm diện tích lúa chưa kịp thu hoạch bị đổ ngã tại một số huyện, nhưng do lúa đã chuẩn bị thu hoạch nên không ảnh hưởng đến năng suất. Một số bệnh trên cây lúa như đạo ôn lá, giòi đục nõn, cỏ dại…chỉ xuất hiện rãi rác một số nơi, một số thì bị ốc bươu vàng và chuột phá hoại mật độ và tỷ lệ gây hại thấp. Sang vụ hè thu, nhờ chủ động nguồn nước tưới nên không xảy ra tình trạng khô hạn, cây lúa sinh trưởng tốt, sâu bệnh chỉ xuất hiện rải rác ở mật độ thấp. Năm nay, các địa phương đưa các giống mới như: ĐT100 (KH1), TH5, HN6, J02, HG244, HG21… vào gieo cấy nhằm tạo ra sản phẩm chất lượng và rút ngắn tối đa thời gian sinh trưởng, hạn chế nguy cơ sâu bệnh gây hại và thiên tai. Các giống lúa mới này không chỉ đạt năng suất cao, mà còn tạo ra sản phẩm chất lượng, thơm ngon, bán được giá.
Tính đến thời điểm báo cáo, diện tích gieo cấy lúa toàn tỉnh ước đạt 53.436 ha, tương ứng so với cùng kỳ. Trong đó: diện tích gieo cấy lúa vụ đông xuân đạt 27.918 ha, giảm 0,4%; diện tích gieo cấy lúa vụ hè thu đạt 25.333 ha, tăng 0,4%; diện tích gieo cấy lúa vụ mùa ước đạt 185 ha, giảm 0,3% so với cùng kỳ. Ước tính năng suất lúa năm 2024 đạt 64,3 tạ/ha, tăng 2,7% so với cùng kỳ. Trong đó: Năng suất lúa vụ đông xuân đạt 67,4 ta/ha, tăng 2,1%; Năng suất lúa vụ hè thu ước đạt 61,4 tạ/ha, tăng 3,5% so với cùng kỳ.
Cây hằng năm khác, nhiều loại cây diện tích có xu hướng giảm. Diện tích gieo trồng một số cây hằng năm chủ yếu tính đến cuối tháng 9 năm 2024 như sau: Ngô ước đạt 1.373 ha, giảm 0,9%; Khoai lang ước đạt 589 ha, giảm 4,7%; Lạc ước đạt 2.243 ha, giảm 4,7%; Rau các loại ước đạt 4.446 ha, giảm 2,2%; Đậu các loại ước đạt 918 ha, giảm 3,9% so với cùng kỳ. Từ đầu năm đến nay thời tiết tương đối thuận lợi, đối tượng sinh vật gây hại xuất hiện rãi rác với mật độ thấp, công tác phòng trừ sâu bệnh kịp thời nên năng suất hầu hết các loại cây trồng đều tăng so với cùng kỳ: ngô đạt 41,2 tạ/ha, tăng 2%; khoai lang 57,5 tạ/ha, tăng 2,1%; lạc 22,3 tạ /ha, tăng 5,6%.
* Cây lâu năm
Tổng diện tích cây lâu năm 9 tháng đầu năm 2024 ước đạt 9.264 ha, giảm 3,2% so với cùng kỳ. Diện tích giảm chủ yếu là cây cao su. Diện tích cây cao su ước đạt 5.134 ha,, chiếm 55,4% tổng diện tích cây lâu năm toàn tỉnh, giảm 7,6%. Diện tích hiện có cây lâu năm ăn quả 3.497 ha, tăng 2,7% so cùng kỳ. Trong đó: cây chuối 797 ha, tăng 4,4%; cây ổi 132 ha, tăng 5,6%; cam 361 ha, tăng 0,3%; bưởi bòng thanh trà 1.389 ha, tăng 3,1%; xoài 80 ha, giảm 0,6%; mít 80 ha, tăng 9,6%; dứa 141 ha, giảm 1,4% so với cùng kỳ.
Sản lượng thu hoạch một số cây lâu năm chủ yếu ước tính 9 tháng đầu năm 2024: xoài ước đạt 285 tấn, giảm 2,4%; chuối 11.900 tấn, tăng 1,7%; dứa 1.010 tấn, giảm 1,0%; mít 530 tấn, tăng 9,3%; ổi 270 tấn, tăng 5,9%; cam 1.625 tấn, tăng 0,3%; bưởi, thanh trà 3.620 tấn, tăng 4,6%; mủ cao su 5.770 tấn, giảm 3% so với cùng kỳ.
* Chăn nuôi
Chăn nuôi trâu bò gặp nhiều thách thức, dịch bệnh, an toàn thực phẩm, năng suất, giá thành, nguồn thức ăn, nhập lậu và cạnh tranh từ thị trường quốc tế. Bên cạnh đó, đô thị hóa ngày càng phát triển làm cho đồng cỏ chăn nuôi ngày càng thu hẹp, chăn nuôi tại các khu dân cư bị hạn chế nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Thời điểm 30/9/2024 tổng đàn trâu toàn tỉnh ước có 15.242 con, giảm 0,5%; đàn bò 29.064 con, tăng 2,8% so với cùng kỳ.
Chăn nuôi lợn tiếp tục phát triển theo hướng công nghiệp, trang trại, chăn nuôi công nghệ cao, VietGAP, hữu cơ, an toàn sinh học, an toàn dịch bệnh. Một số cơ sở chăn nuôi công nghệ cao duy trì liên doanh liên kết với các doanh nghiệp trong các khâu cung ứng giống, thức ăn, bao tiêu sản phẩm, bước đầu hình thành chuỗi giá trị, nâng cao hiệu quả trong chăn nuôi. Trong thời gian này người dân bắt đầu tái đàn để phục vụ dịp Tết Nguyên đán sắp tới, tổng đàn lợn thời điểm 30/9/2024 có155.645 con, tăng 0,9% so với cùng kỳ.
Đàn gia cầm 9 tháng đầu năm 2024 phát triển ổn định, công tác tiêm phòng thú y, vệ sinh môi trường chăn nuôi được chú trọng, ý thức phòng bệnh cho đàn gia cầm của các cơ sở chăn nuôi ngày càng được nâng cao. Hộ chăn nuôi gia cầm truyền thống chuyển dịch theo hướng chuyên nghiệp hóa, chăn nuôi hữu cơ, giảm quy mô sản xuất ở những hộ nhỏ lẻ và phát triển các doanh nghiệp chăn nuôi quy mô lớn có quy trình khép kín với giá thành sản xuất thấp hơn. Xây dựng các vùng chăn nuôi tập trung xa khu dân cư, thuận lợi cho xử lý môi trường và phòng tránh dịch bệnh. Tổng đàn gia cầm thời điểm 30/9/2024 có 4.988 nghìn con, tăng 2,2%; trong đó đàn gà 3.680 nghìn con, tăng 2,6% so với cùng kỳ.
Sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng 9 tháng đầu năm 2024 ước đạt 686 tấn, giảm 1,3%; sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng là 936 tấn, tăng 2,6%; sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng là 11.975 tấn, tăng 2,6%; sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng ước đạt 12.935 tấn, tăng 3,7%; sản lượng trứng gia cầm ước đạt 38.971 nghìn quả, tăng 2,6% so với cùng kỳ.
Công tác tiêm phòng các loại vắc xin cho gia súc, gia cầm; vắc xin cúm gia cầm trên các đàn vịt chạy đồng; tiêm phòng vắc xin viêm da nổi cục trên trâu, bò được thực hiện thường xuyên. Tiến độ tiêm phòng toàn tỉnh đến nay đã tiêm được 27.926 liều THT trâu bò (90%, tăng 1%), 31.091 liều tam liên (72%, tăng 2%), 4.700 liều E.coli (52%, tăng 5%), 278.200 liều CGC (70%, tăng 4%), 210.700 liều DTV (53%), 217.475 liều vắc xin Newcastle (72%), 7.790 liều THT gia cầm (52%, tăng 3%), 20.300 liều Đậu gà (39%, tăng 4%), 52.950 liều Gumboro (35%); LMLM lợn trang trại: 2.135 liều, 9.536 liều VDNC.
7.2. Lâm nghiệp
Sản lượng gỗ khai thác trong tháng 9 năm 2024 ước đạt 23.320 m3 gỗ, tăng 11,8%, toàn bộ gỗ được khai thác từ rừng trồng, sản lượng khai thác tăng khá do xuất khẩu dăm gỗ tăng nên bà con tranh thủ khai thác; sản lượng củi khai thác 8.285 ste, giảm 3,7% so với cùng kỳ. Lũy kế sản lượng gỗ khai thác 9 tháng năm 2024 ước đạt 536.740 m3, tăng 11,7%; sản lượng củi khai thác 74.380 ste, giảm 1,9% so với cùng kỳ.
Diện tích trồng rừng mới tập trung tập tháng 9 ước đạt 490 ha, tăng 3,8% so với cùng kỳ. Lũy kế 9 tháng đầu năm 2024 diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 4.770 ha, tăng 4,1% so với cùng kỳ.
Trong tháng 9 đã xảy ra 1 vụ phá rừng để làm nương rẫy, với diện tích 0,05 ha. Lũy kế 9 tháng đầu năm 2024, số vụ phá rừng là 18 vụ, tăng 7 vụ; diện tích rừng bị phá là 61,9 ha, giảm 4,3 ha so với cùng kỳ.
7.3. Thủy sản
* Tình hình nuôi trồng thủy sản
Diện tích nuôi trồng thủy sản tháng 9 năm 2024 ước đạt 897 ha, tăng 1,0% so với cùng kỳ, bao gồm nuôi nước lợ 562 ha, tăng 2,2%; nuôi nước ngọt 335 ha, 0,9%. Trong diện tích nuôi nước lợ chia ra nuôi cá 240 ha, tăng 3,0%; nuôi tôm 225 ha, tăng 1,8%; diện tích nuôi các loại thủy sản khác 97 ha, tăng 1,0% so với cùng kỳ. Lũy kế tổng diện tích nuôi trồng thủy sản 9 tháng đầu năm 2024 ước đạt 6.506 ha, tăng 1,3% so với cùng kỳ; bao gồm nuôi nước ngọt 1.810 ha, giảm 0,7%, diện tích nuôi nước lợ 4.696 ha, tăng 2,1%; trong diện tích nuôi nước lợ chia ra nuôi cá 1.689 ha, tăng 2,0%; nuôi tôm 2.013 ha, tăng 2,6%; nuôi các loại thủy sản khác 987 ha, tăng 1,2% so với cùng kỳ; ươm, nuôi giống thủy sản 7 ha, bằng cùng kỳ.
Sản xuất giống thủy sản trong tháng 9 ước đạt 9,6 triệu con, tăng 2,1% so với cùng kỳ, trong đó tôm sú giống 1,3 triệu con, bằng cùng kỳ; cá giống các loại 8,3 triệu con, tăng 2,5% so với cùng kỳ, chủ yếu cung cấp giống cho các cơ sở nuôi trên địa bàn tỉnh. Lũy kế sản xuất giống thủy sản, 9 tháng năm 2024 sản xuất giống trên địa bàn tỉnh ước đạt 183,3 triệu con, tăng 1,7%; trong đó tôm sú giống 101,3 triệu con, tăng 1,5%; cá giống các loại 80 triệu con, tăng 1,9% so với cùng kỳ.
Nuôi lồng bè ở các địa phương phát triển nhờ hiệu quả kinh tế mang lại khá, do tận dụng mặt nước vùng đầm phá, sông ngòi, hồ thủy điện và một phần nguồn thức ăn tự chế của người nuôi. Tính chung 9 tháng đầu năm 2024 số hộ nuôi lồng, bè 3.842 hộ, tăng 0,6%; số lồng, bè thả nuôi 8.457 lồng, tăng 1,8%; thể tích lồng, bè nuôi 184.752 m3, tăng 2,1% so với cùng kỳ.
Sản lượng thu hoạch tháng 9 năm 2024 ước đạt 2.120 tấn, tăng 4,7% so với cùng kỳ; chia ra sản lượng cá các loại 1.570 tấn, tăng 5%; tôm các loại 446 tấn, 4,2%,; thủy sản khác 104 tấn, tăng 2,0%. Lũy kế sản lượng thu hoạch 9 tháng đầu năm 2024 ước đạt 16.740 tấn, tăng 4,9% so cùng kỳ. Chia ra sản lượng cá các loại 9.620 tấn, tăng 5,2%; tôm các loại 6.061 tấn, tăng 4,8%; thủy sản khác 1.059 tấn, tăng 2,8% so với cùng kỳ.
Đến thời điểm này các ngành chức năng phối hợp với các địa phương tổ chức tuyên truyền, hướng dẫn người dân bảo vệ thủy sản mùa mưa lũ, khẩn trương thu tỉa các loại thủy sản đạt kích cỡ lớn, đến kỳ thu hoạch ở vùng đầm phá và thu hoạch toàn bộ đối với những diện tích thả nuôi dễ bị ngập lụt nhằm hạn chế thiệt hại do bão, lũ gây ra.
* Khai thác thủy sản
Sản lượng khai thác thủy sản tháng 9 năm 2024 ước đạt 3.771 tấn, tăng 2,6% so với cùng kỳ, trong đó khai thác biển 3.390 tấn, tăng 3%; khai thác nội địa 381 tấn, giảm 0,8%. Lũy kế sản lượng khai thác thủy sản 9 tháng năm 2024 ước đạt 36.355 tấn, tăng 2,3%, trong đó khai thác biển đạt 33.475 tấn, chiếm tỷ trọng 92,1% tổng số, tăng 2,6%; khai thác nội địa 2.880 tấn, chiếm tỷ trọng 7,9%, giảm 0,7% so với cùng kỳ.
Tính chung sản lượng thủy sản nuôi trồng và khai thác 9 tháng đầu năm 2024 ước đạt 53.095 tấn, tăng 3,1% so với cùng kỳ.
8. Sản xuất công nghiệp
Tình hình sản xuất công nghiệp tiếp tục khởi sắc và tăng dần qua từng tháng. Một số ngành công nghiệp chủ lực phát huy tốt năng lực sản xuất: sản xuất đồ uống, sản xuất sợi, may mặc, chế biến gỗ. Các dự án mới đi vào hoạt động đã đóng góp lớn cho tăng trưởng chung của ngành công nghiệp: dự án nhà máy sản xuất ô tô Kim Long Motor, dự án sản xuất găng tay Kanglongda. Dự ước chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 9/2024 tăng 2,9% so với tháng trước và tăng 13,9% so với tháng cùng kỳ.
Tính chung 9 tháng đầu năm 2024 chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 4,8% so với cùng kỳ, trong đó: ngành Công nghiệp khai khoáng tăng 3,4%; ngành Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,9%; ngành cấp nước và thu gom rác thải tăng 9,1%; ngành sản xuất và PP điện, khí đốt giảm 4,8%.
Các ngành công nghiệp cấp 4 trong 9 tháng đầu năm 2024 có chỉ số sản xuất ước tăng khá so với cùng kỳ như: sản xuất các loại bánh từ bột (+33,3%) Sản xuất bia và mạch nha ủ men bia (+3,5%); sản xuất sợi (+1,7%); may trang phục (+6,6%); cưa, xẻ, bào gỗ và bảo quản gỗ (+11,1%); sản xuất xe có động cơ có chỉ số tăng hơn 17,2 lần so với cùng kỳ,...
Bên cạnh những dấu hiệu tích cực của các ngành sản xuất, hiện nay một số ngành sản xuất công nghiệp đang có mức tăng trưởng suy giảm. Hiện tượng El Nino xuất hiện vào nửa cuối mùa hè năm 2023 vẫn duy trì đến hết mùa khô năm 2024 đã làm cho các nhà máy thủy điện trên địa bàn tỉnh thiếu nước để hoạt động, do vậy ngành sản xuất điện có chỉ số giảm (-4,8%). Một số nhà máy gặp khó khăn về thị trường tiêu thụ trong nước cũng như quốc tế, đơn hàng xuất khẩu giảm, lượng hàng tồn kho tại doanh nghiệp tăng cao, chi phí sản xuất tăng; áp lực từ yêu cầu của thị trường và đối tác về phát triển bền vững, chuyển đổi xanh ngày càng gia tăng đã phải chịu sự cạnh tranh gay gắt; đơn hàng sản xuất bị cắt giảm như: sản xuất chế biến, bảo quản thuỷ sản và các sản phẩm từ thuỷ sản (-14,0%); in ấn (-7,4%); sản xuất vật liệu xây dựng từ đất sét (-3,5%); sản xuất xi măng, vôi, thạch cao giảm 5,3%; sản xuất giường tủ, bàn ghế (-20,6%)…
Các sản phẩm công nghiệp ước 9 tháng đầu năm 2024 tăng so với cùng kỳ như sau: đá xây dựng khác 766 nghìn m3 (+10,9%); bánh làm từ bột khác bảo quản được 2.545 tấn (+33,3%); bia 262 triệu lít (+2,2%); sợi 88,4 nghìn tấn (+1,7%); quần áo lót 283,3 triệu cái (+6,6%); vỏ bào, dăm gỗ 575 nghìn tấn (+11,1%); ô tô 688 chiếc (+12 lần),...
Các sản phẩm công nghiệp ước giảm so với cùng kỳ: tôm đông lạnh 3.858 tấn (-14,0%); dịch vụ sản xuất va ly, túi xách và các loại tương tự, yên đệm 2.306 triệu đồng (-16,1%); sản phẩm in 548 triệu trang (-7,4%); gạch men 10,4 triệu m2 (-3,5%); xi măng 1.199,8 nghìn tấn (-6,9%); clanhke xi măng 1.280 nghìn tấn (-8,4%); ghế có khung bằng kim loại 89 nghìn chiếc (-6,4%), điện sản xuất 1.188,6 triệu KW (-9,4%)...
Chỉ số sử dụng lao động ước 9 tháng đầu năm 2024 tăng 7,3% so với cùng kỳ. Trong đó một số ngành có chỉ số sử dụng lao động tăng như: sản xuất đồ uống (+33,3%); sản xuất da và các sản phẩm có liên quan (+11,7%); sản xuất xe có động cơ (+11 lần); sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic (+3,7 lần); công nghiệp chế biến, chế tạo khác (+4,0%). Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số sử dụng lao động giảm: sản xuất chế biến thực phẩm (-5,3%); sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất (-41,9%); sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học (-8,8%)...
9. Thương mại, dịch vụ
Trong 9 tháng đầu năm 2024, hoạt động bán lẻ, dịch vụ, du lịch trên địa bàn đạt được kết quả tích cực, với lễ hội Mùa Xuân “Xuân cố đô” trải dài 3 tháng đầu năm, đến dịp nghỉ lễ 30/4, 1/5 dài ngày, cùng với lễ hội mùa Thu “Huế vào thu” bắt đầu từ tháng 7, nhiều chương trình, hoạt động đáng chú ý diễn ra, thu hút một lượng lớn khách du lịch trong nước và quốc tế đến tham quan, du lịch tại Huế. Đáng chú ý trong tháng 9, nhiều sự kiện, hoạt động đặc sắc được tổ chức để chào mừng dịp lễ Quốc khánh 2/9 kéo dài 4 ngày. Bên cạnh đó Trung tâm Thương mại AEON MALL Huế khai trương ngày 16/9 đã đón hàng nghìn khách hàng đến vui chơi, mua sắm.
Kết quả hoạt động thương mại, dịch vụ và vận tải trên địa bàn tỉnh tháng 9 và 9 tháng năm 2024 ước đạt như sau:
9.1. Bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Trong tháng 9, các hoạt động chào mừng Lễ 2/9, sự kiện khai trương AEON MALL Huế và hội chợ thương mại Festival Huế, đã kéo theo nhu cầu vui chơi, mua sắm tăng lên. Trong tháng này, học sinh bước vào năm học mới nên nhu cầu mua sắm văn phòng phẩm, áo quần và đồ dùng tăng lên. Nhờ vậy, 9 tháng đầu năm hoạt động thương mại, dịch vụ tiếp tục tăng trưởng khá. Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 9 tháng đạt 42.409,5 tỷ đồng, tăng 14,6% so với cùng kỳ.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 9/2024 ước đạt 5.097,6 tỷ đồng, tăng 1,3% so với tháng trước và tăng 18,5% so với cùng kỳ. Chia theo ngành kinh tế, doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 9/2024 ước đạt 3.514,0 tỷ đồng, chiếm 68,9%, tăng 1,6% so với tháng trước và tăng 13,9% so với cùng kỳ. Doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống ước đạt 1.077,3 tỷ đồng, chiếm 21,1%, giảm 1,1% so với tháng trước và tăng 29,7% so với cùng kỳ; hoạt động du lịch lữ hành đạt 34,6 tỷ đồng, chiếm 0,7%, giảm 1,3% và tăng 7,1%; doanh thu dịch vụ khác đạt 471,7 tỷ đồng, chiếm 9,3%, tăng 4,4% và tăng 32,5%. Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng quý III năm 2024 đạt 15.064,3 tỷ đồng, tăng 17,2% so với cùng kỳ, chia ra: tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 10.404,8 tỷ đồng, tăng 12,8% so với cùng kỳ; dịch vụ lưu trú và ăn uống đạt 3.234,6 tỷ đồng, tăng 28,2%; hoạt động du lịch lữ hành đạt 104,9 tỷ đồng, tăng 5,9%; dịch vụ khác đạt 1.320,1 tỷ đồng, tăng 31,2%.
Tính chung 9 tháng tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 42.409,5 tỷ đồng, tăng 14,6% so với cùng kỳ, chia ra: tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 30.235,0 tỷ đồng, chiếm 71,3% tổng số và tăng 12,3% so với cùng kỳ; dịch vụ lưu trú và ăn uống đạt 8.480,3 tỷ đồng, chiếm 20,0% và tăng 19,4%; hoạt động du lịch lữ hành đạt 254,9 tỷ đồng, chiếm 0,6% và tăng 23,1%; dịch vụ khác đạt 3.439,2 tỷ đồng, chiếm 8,1% và tăng 24,2%.
9.2. Vận tải hành khách và hàng hóa
Tháng 9, nhu cầu vận tải nguyên, vật liệu tăng lên nhằm đẩy nhanh tiến độ xây dựng công trình dự án kịp hoàn thành trước mùa mưa bão, góp phần thúc đẩy doanh thu vận tải hàng hóa đạt kết quả cao. Ngoài ra, sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch đã kéo theo vận tải hành khách tăng trưởng tốt. Những yếu tố trên đã ảnh hưởng tích cực đến kết quả hoạt động vận tải tháng 9, quý III và 9 tháng đầu năm 2024 tỉnh Thừa Thiên Huế.
Dự ước hành khách vận chuyển tháng 9 năm 2024 đạt 3.168,1 nghìn hành khách, tăng 2,1% so với tháng trước và tăng 16,0% so với cùng kỳ; hành khách luân chuyển đạt 154,5 triệu hành khách.km, tăng 2,1% so với tháng trước và tăng 13,3% so với cùng kỳ.
Dự ước vận tải hành khách quý III/2024 đạt 9.377,9 nghìn hành khách và 457,6 triệu lượt khách.km, tương ứng tăng 16,4% và tăng 12,9% so với cùng kỳ. Tính chung 9 tháng đầu năm 2024, vận tải hành khách ước đạt 27.228,6 nghìn hành khách, tăng 16,8% so với cùng kỳ và luân chuyển ước đạt 1.338,2 triệu lượt khách.km, tăng 12,3%.
Dự ước hàng hóa vận chuyển tháng 9 năm 2024 ước đạt 1.996,9 nghìn tấn, tăng 1,2% so với tháng trước và tăng 14,1% so với cùng kỳ; hàng hóa luân chuyển đạt 165,2 triệu tấn.km, tăng 1,4% so với tháng trước và tăng 13,1% so với cùng kỳ.
Dự ước vận tải hàng hóa quý III/2024 đạt 5.906,2 nghìn tấn, tăng 14,8% và 488,1 triệu tấn.km, tăng 13,0% so với cùng kỳ. Tính chung 9 tháng đầu năm 2024, vận tải hàng hóa ước đạt 17.054,9 nghìn tấn, tăng 14,6% so với cùng kỳ và luân chuyển ước đạt 1.406,4 triệu tấn.km, tăng 11,7% so với cùng kỳ.
Dự ước doanh thu vận tải và bốc xếp tháng 9 năm 2024 đạt 461,1 tỷ đồng, tăng 1,2% so với tháng trước và tăng 14,2% so với cùng kỳ. Doanh thu vận tải, bốc xếp quý III/2024 ước đạt 1.368,1 tỷ đồng, tăng 14,9% so với cùng kỳ. Tính chung 9 tháng đầu năm 2024, doanh thu vận tải và bốc xếp ước đạt 3.960,4 tỷ đồng, tăng 15,4% so với cùng kỳ.
Trong đó: đường bộ đạt 3.638,5 tỷ đồng, tăng 16,3%; đường sông đạt 3,6 tỷ đồng, tăng 19,1%. Chia theo loại hình dịch vụ: vận tải hành khách ước đạt 831,6 tỷ đồng, tăng 15,3%; vận tải hàng hóa ước đạt 2.810,5 tỷ đồng, tăng 14,0%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 295,0 tỷ đồng, tăng 32,1%; bưu chính chuyển phát đạt 23,3 tỷ đồng, tăng 6,4% so với cùng kỳ.
9.3. Lượt khách các cơ sở lưu trú phục vụ và du lịch lữ hành
Tháng 9, là tháng diễn ra dịp nghỉ lễ Quốc khánh 2/9 với nhiều hoạt động chào mừng nổi bật như: Lễ dâng hoa tại Bảo tàng Hồ Chí Minh; Giải Đua ghe truyền thống lần thứ 35 trên sông Hương;… đã thu hút nhiều sự quan tâm của du khách trong và ngoài nước, nên lượt khách lưu trú và lữ hành tăng cao so cùng kỳ.
Dự ước lượt khách do cơ sở lưu trú phục vụ tháng 9/2024 đạt 197 nghìn lượt khách, giảm 1,6% so với tháng trước và tăng 31,3% so với cùng kỳ. Trong đó, lượt khách ngủ qua đêm 157,2 nghìn lượt khách, giảm 2,0% so với tháng trước và tăng 33,9% so với cùng kỳ; lượt khách trong ngày 39,7 nghìn lượt khách, tăng 0,2% so với tháng trước và tăng 21,6% so với cùng kỳ. Dự ước lượt khách do cơ sở lưu trú phục vụ quý III năm 2024 đạt 600,6 nghìn lượt khách, tăng 15,8% so với quý trước và tăng 22,2% so với cùng kỳ. Trong đó, lượt khách ngủ qua 481,7 nghìn lượt khách, tăng 16,0% so với quý trước và tăng 22,8% so với cùng kỳ; lượt khách trong ngày 101,2 nghìn lượt khách, tăng 20,4% so với quý trước và giảm 2,0% so với cùng kỳ.
Tính chung lượt khách do cơ sở lưu trú phục vụ 9 tháng đầu năm 2024 ước đạt 1.581,9 nghìn lượt, tăng 21,3% so với cùng kỳ. Trong đó, lượt khách ngủ qua đêm 1.265,8 nghìn lượt, tăng 22,5% so cùng kỳ. Trong lượt khách ngủ qua đêm, khách quốc tế 469,5 nghìn lượt, tăng 28,5%; khách trong nước 769,3 nghìn lượt, tăng 18,9% so với cùng kỳ. Lượt khách trong ngày 9 tháng đầu năm 2024 đạt 316,1 nghìn lượt, tăng 16,6% so với cùng kỳ.
Ngày khách dự ước tháng 9/2024 đạt 262,9 nghìn ngày, giảm 2,9% so với tháng trước và tăng 32,5% so với cùng kỳ. Ngày khách do các cơ sở lưu trú phục vụ quý III năm 2024 ước đạt 812 nghìn ngày, tăng 15,7 % so với quý trước và tăng 21,2% so với cùng kỳ. Đưa ngày khách dự ước 9 tháng đầu năm ước đạt 2.147,9 nghìn ngày, tăng 20,8% so với cùng kỳ. Trong đó: Ngày khách quốc tế 881,8 nghìn ngày, tăng 28,9%; ngày khách trong nước 1.266,1 nghìn ngày, tăng 15,8%.
Lượt khách phục vụ của các cơ sở lữ hành thực hiện tháng 9/2024 ước đạt 21 nghìn lượt, giảm 3,6% với tháng trước và tăng 12,3% so với cùng kỳ. Lượt khách phục vụ quý III năm 2024 ước đạt 68 nghìn lượt, tăng 22,1% với quý trước và tăng 7,2% so với cùng kỳ. Đưa lượt khách 9 tháng đầu năm ước đạt 160,2 nghìn lượt, tăng 19,7% so với cùng kỳ.
Ngày khách theo tour tháng 9/2024 ước đạt 45,2 nghìn ngày, giảm 2,6% so với tháng trước và tăng 14,1% so với cùng kỳ. Ngày khách theo tour ước quý III năm 2024 ước đạt 138,7 nghìn ngày, tăng 16,0% so với quý trước và tăng 11,5% so với cùng kỳ. Đưa ngày khách theo tour 9 tháng đầu năm ước đạt 327,5 nghìn ngày khách, tăng 18,6% so với cùng kỳ.
9.4. Bưu chính viễn thông
Tính đến cuối tháng 9 năm 2024, số thuê bao điện thoại trên địa bàn tỉnh ước đạt 1.177.865 tăng 10,5% so cùng kỳ năm trước, đạt mật độ 100,97 thuê bao/100 dân; trong đó điện thoại cố định 24.765 thuê bao, tăng 55,2%; điện thoại di động 1.153.100 thuê bao, tăng 9,9%; Internet các loại (bao gồm cố định và di động) 1.196.010 thuê bao, tăng 28,2%, đạt mật độ 102,52 thuê bao internet/100 dân.
10. Các vấn đề xã hội
10.1. Giải quyết việc làm
Chín tháng đầu năm, nền kinh tế tỉnh đạt mức tăng trưởng khá, do hoạt động sản xuất kinh doanh các ngành kinh tế phát triển, nhiều doanh nghiệp lớn mới đi vào hoạt động, giải quyết việc làm cho người lao động: công ty cổ phần Kim Long motor Huế, giải quyết gần 1.800 lao động, dự kiến đến cuối năm hơn 2.500 lao động; công ty TNHH Kanglongda đi vào hoạt động sản xuất đầu năm, giải quyết việc làm 1.500 lao động, dự kiến đến cuối năm 2024 hơn 2.500 lao động; trung tâm thương mại Aeon Mall Huế đi vào hoạt động từ tháng 9/2024, giải quyết việc làm cho 600 lao động.
Trong quý III/2024, tỉnh chỉ đạo các ngành chức năng tổ chức tháng giao dịch việc làm với chủ đề "Tháng Chín mùa thu tuyển dụng", theo đó đẩy mạnh công tác kết nối cung cầu lao động trên địa bàn. Nhờ vậy, thu hút 33 đơn vị tham gia tuyển dụng với 7.420 vị trí việc làm trong, ngoài tỉnh và lao động làm việc nước ngoài. Trong đó, có 18 đơn vị tuyển sinh tuyển dụng trong nước làm việc tại các khu công nghiệp, đơn vị kinh doanh dịch vụ; 13 đơn vị tuyển dụng lao động ngoài nước tuyển lao động đi làm việc Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và 2 đơn vị tuyển sinh. Các đơn vị tuyển dụng lớn, như: Scavi Huế tuyển dụng 2.067 vị trí ngành may mặc, HBI 707 vị trí; tuyển dụng làm việc ngoài nước như: Daystar cần tuyển 484 người, Suleco 300 người, Vivaxan 424 người,...
10.2. Đời sống dân cư
Nền kinh tế của tỉnh trong 9 tháng đầu năm đạt được những kết quả khả quan trên nhiều lĩnh vực, sản xuất kinh doanh, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 7,34% so cùng kỳ. Theo đó đời sống của đại bộ phân dân cư được tăng lên, tổng hợp kết quả khảo sát mức sống dân cư kỳ 3 năm 2024, thu nhập bình quân đầu người của tỉnh tăng hơn 11% so với cùng kỳ. Khu vực nông thôn, sản xuất nông nghiệp gặp thuận lợi, năm nay thời tiết nắng ráo nên năng suất, sản lượng một số cây trồng chủ yếu tăng, dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm không xảy ra. Vụ lúa đông xuân và hè thu năm nay được mùa, được giá, bên cạnh đó giá phân bón giảm nên trồng lúa năm nay đạt hiệu quả cao, đây là động lực lớn cho người nông dân, góp phần nâng cao đời sống của người dân ở khu vực nông nghiệp nông thôn. Bên cạnh đó, thời điểm 01/7/2024 những người hưởng lương từ ngân sách nhà nước được tăng lương, đối với người đang làm việc tăng 30% mức lương cơ bản và điều chỉnh tăng thêm 15% trên mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng. Nhờ vậy, đời sống của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và người hưởng lương hưu từng bước cải thiện.
10.3. Chính sách - xã hội
Công tác chăm lo cho gia đình chính sách và người có công, người cao tuổi, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, hộ gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được quan tâm thực hiện kịp thời, hiệu quả.
Trong quý III/2024 đã hỗ trợ người có công và thân nhân của người có công cách mạng số tiền 90,8 tỷ đồng, so với quý II/2024 giảm 1,05 tỷ đồng, giảm 1,2%; so quý III/2023 tăng 15,1 tỷ đồng, tăng 19,9%. Lũy kế 9 tháng đầu năm 2024 là 294,6 tỷ đồng, tăng 51,5 tỷ đồng, tăng 21,2% so cùng kỳ.
Hỗ trợ cho các đối tượng bảo trợ xã hội quy định tại các chương 2, 3, 4 và 5 của Nghị định 20/2021/NĐ-CP quý III/2024 là 114,4 tỷ đồng, tăng 21,1 tỷ đồng so với quý trước, tương ứng tăng 22,7%; tăng 21,4 tỷ đồng so với cùng kỳ, tăng 23%. Lũy kế 9 tháng đầu năm 2024 là 326,4 tỷ đồng, tăng 32,1 tỷ đồng, tăng 10,9% so với cùng kỳ.
Hỗ trợ cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn, hộ chính sách xã hội không trùng với các đối tượng tại Nghị định 20/2021/NĐ-CP quý III/2024 là 5,9 tỷ đồng, giảm 4,2 tỷ đồng, giảm 41,5% so với quý trước; giảm 2,9 tỷ đồng, giảm 33% so với cùng kỳ. Lũy kế 9 tháng đầu năm 2024 là 34,1 tỷ đồng, giảm 2,2 tỷ đồng, giảm 6,1% so với cùng kỳ.
Cấp phát miễn phí thẻ bảo hiểm y tế tại địa phương quý III/2024 là 347.255 thẻ, tăng 672 thẻ, tăng 0,2% so với quý trước.
10.4. Giáo dục
Tổng kết năm học 2023-2024, ngành giáo dục đạt được một số kết quả nổi bật sau: kỳ thi đánh giá năng lực học sinh dự tuyển vào trường THCS Nguyễn Tri Phương có 1.575 học sinh dự tuyển tại 3 hội đồng thi gồm 67 phòng thi, chọn ra 360 chỉ tiêu của trường; kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10, toàn tỉnh có 16.183 học sinh đăng ký thi tuyển với 13.826 chỉ tiêu vào lớp 10. Số thí sinh thi vào trường THPT chuyên Quốc Học là 2.411 em cạnh tranh 450 chỉ tiêu; trong đó có 102 thí sinh ngoại tỉnh; kỳ thi học sinh giỏi THPT quốc gia năm học 2023-2024, có 93 học sinh dự thi quốc gia và đạt được 74 giải (03 giải nhất, 20 giải nhì, 22 giải ba và 29 giải khuyến khích); kỳ thi tốt nghiệp THPT, toàn tỉnh Thừa Thiên Huế có 99,7% thí sinh dự thi trong tổng số 12.846 thí sinh đăng kí. Kỳ thi diễn ra an toàn tất cả các khâu và chất lượng. Kết quả điểm thi tăng nhẹ đều các môn, trong đó, không có môn nào có điểm trung bình dưới 5,0 điểm.
Tổ chức tốt ngày hội toàn dân đưa trẻ đến trường. Trong sáng ngày 05/9/2024, hơn 291 ngàn trẻ em mầm non, học sinh phổ thông và học viên giáo dục thường xuyên trên toàn tỉnh khai giảng năm học mới. Các cơ sở giáo dục tổ chức lễ khai giảng theo hướng gọn nhẹ, lấy học sinh làm trung tâm, ngày khai trường diễn ra trong không khí vui tươi, phấn khởi, tạo khí thế và động lực để thầy và trò bước vào năm học mới, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm học.
Năm học 2024-2025, toàn ngành giáo dục tiếp tục thực hiện hiệu quả chương trình giáo dục mới, các trường trong tỉnh đã hoàn thành biên chế lớp học các lớp đầu cấp; thực hiện tốt công tác vận động học sinh đến lớp. Tập trung triển khai hiệu quả chương trình giáo dục phổ thông đối với các lớp, đặc biệt với các lớp cuối cấp lớp 5, 9, 12; tăng cường đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá tích cực theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh.
Năm 2024, có hơn 74 nghìn nguyện vọng đăng ký vào Đại học Huế, tăng 30% so với cùng kỳ. Đến giữa tháng 9/2024 tỷ lệ nhập học trong toàn Đại học Huế đạt 90%; có 4 đơn vị trong Đại học Huế số lượng thí sinh nhập học đạt 100% so với chỉ tiêu; có 6 đơn vị tỷ lệ nhập học đạt từ 80 - 95%.
10.5. Tình hình y tế, dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm
Tháng 8/2024, trên địa bàn có 244 ca sốt xuất huyết, tăng 203 ca so cùng kỳ; có 10 ca mắc tay chân miệng, giảm 78 ca so với cùng kỳ; 1 ca liên cầu lợn, tăng 1 ca so cùng kỳ; không có ca mắc sốt rét, viêm gan siêu trùng, viêm não vi rút, thương hàn, liên cầu lợn bằng cùng kỳ. Tám tháng đầu năm, trên địa bàn có 1.048 ca sốt xuất huyết, tăng 845 ca so cùng kỳ, có 1 ca tử vong tăng 1 ca so với cùng kỳ; có 82 ca mắc tay chân miệng, giảm 18 ca so với cùng kỳ; không có ca mắc sốt rét, viêm gan siêu trùng, viêm não vi rút, thương hàn, bằng cùng kỳ.
Tháng 8/2024, toàn tỉnh đã phát hiện 10 ca nhiễm mới HIV, giảm 1 ca so cùng kỳ; có 3 ca chuyển qua AIDS, tăng 1 ca so cùng kỳ; không có ca tử vong, bằng cùng kỳ. Tám tháng đầu năm, toàn tỉnh có 63 ca nhiễm mới HIV, giảm 14 ca so cùng kỳ; có 19 ca chuyển qua AIDS, tăng 11 ca so cùng kỳ; có 3 ca tử vong, tăng 1 ca so cùng kỳ. Trên địa bàn tỉnh có 548 bệnh nhân đang được quản lý và điều trị tại các cơ sở y tế, trong đó có 556 bệnh nhân điều trị ARV.
Tháng 8/2024, trên địa bàn không xảy ra ngộ độc thực phẩm, bằng cùng kỳ. Tám tháng đầu năm, trên địa bàn xảy ra 4 vụ ngộ độc thực phẩm, tăng 2 vụ so cùng kỳ; làm 39 người bị ngộ độc, tăng 6 người so với cùng kỳ, không có người tử vong.
10.6. Hoạt động văn hóa, thể thao
Trong 9 tháng đầu năm 2024, các ngành, các cấp tổ chức nhiều giải thể, thu hút đông đảo mọi người hưởng ứng tích cực tham gia. Góp phần quảng bá hình ảnh, con người, các giá trị lịch sử, văn hóa, tiềm năng du lịch địa phương, đẩy mạnh cuộc vận động toàn dân “Rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”, thúc đẩy phong trào rèn luyện thể dục, thể thao phát triển.
Nhân dịp kỷ niệm 79 năm Ngày Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9, miễn phí vé tham quan quần thể di tích Cố đô Huế cho du khách là người Việt Nam. Đồng thời tổ chức nhiều sự kiện văn hóa, thể thao hấp dẫn, đem đến cho du khách những trải nghiệm khó quên. Nổi bật trong đó là chương trình "Hue Jogging - cùng chạy vì cộng đồng" lần thứ 5 năm 2024 với chủ đề “Huế luôn luôn mới” thu hút hơn 5.000 nghìn người tham gia; giải đua ghe truyền thống trên sông Hương, tập hợp nhiều đội đua của các địa phương trong toàn tỉnh tham gia.
Sở Văn hóa và Thể dục thể thao tỉnh phối hợp với Liên đoàn đá cầu Việt Nam tổ chức Giải vô địch đá cầu châu Á và vô địch đá cầu trẻ châu Á năm 2024, quy tụ gần 240 vận động viên, huấn luyện viên của 9 đoàn tham dự. Kết quả đội tuyển đá cầu Việt Nam đã bảo vệ thành công ngôi Nhất toàn đoàn với 8 HCV và 6 HCB, trong đó vận động viên đá cầu Thừa Thiên Huế lập nên kỳ tích tại giải đấu lớn khi đạt 4 tấm HCV trong tổng số 8 HCV.
10.7. Tai nạn giao thông, trật tự, an toàn xã hội
Theo báo cáo của Ban ATGT tỉnh, từ 15/8/2024 đến 14/9/2024, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 15 vụ tai nạn giao thông (đều là tai nạn giao thông đường bộ), giảm 31 vụ so với cùng kỳ; làm chết 5 người, giảm 4 người và làm bị thương 14 người, giảm 24 người so với cùng kỳ. Chín tháng đầu năm, trên địa bàn tỉnh xảy ra 217 vụ tai nạn giao thông, gồm 215 vụ tai nạn đường bộ, 2 vụ tai nạn đường sắt; tăng 46 vụ so với cùng kỳ; làm chết 93 người, tăng 4 người và làm bị thương 160 người, tăng 35 người so với cùng kỳ.
*Tình hình trật tự an toàn giao thông 04 ngày của kỳ nghỉ lễ 02/9/2024 (Từ 31/8/2024 đến 03/9/2024)
Tai nạn giao thông đường bộ xảy ra 7 vụ, chết 1 người, bị thương 6 người. So với Lễ Quốc khánh 02/9/2024 giảm 8 vụ (-53,3%), giảm 1 người chết (-50%), giảm 6 người bị thương (-50 %). Không xảy ra tai nạn giao thông đường sắt, đường thuỷ.
10.8. Tình hình cháy nổ và bảo vệ môi trường
Từ ngày 15/8/2024 đến ngày 14/9/2024 trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế không xảy ra cháy, bằng tháng trước và bằng cùng kỳ. Chín tháng đầu năm, trên địa bàn tỉnh xảy ra 14 vụ cháy, giảm 10 vụ so cùng kỳ; không có thiệt hại về người; giá trị thiệt hại 1,015 tỷ đồng.
Từ ngày 15/8/2024 đến ngày 14/9/2024 trên địa bàn tỉnh đã phát hiện 6 vụ vi phạm môi trường, giảm 10 vụ so với cùng kỳ, giảm 9 vụ so với tháng trước. Trong đó thành phố Huế 4 vụ, huyện Phú Lộc 1 vụ, huyện Quảng Điền 1 vụ. Các hình thức vi phạm môi trường trong tháng gồm: 2 vụ chậm ký quỹ cải tạo phục hồi môi trường, 2 vụ vi phạm về ô nhiễm tiếng ồn, 1 vụ xả thải gây ô nhiễm môi trường, 1 khai thác cát trái phép. Trong tháng các ngành chức năng đã tiến hành xử lý 5 vụ với số tiền xử phạt 70,2 triệu đồng. Chín tháng đầu năm, trên địa bàn tỉnh xảy ra 171 vụ vi phạm môi trường, tăng 20 vụ so với cùng kỳ; tiến hành xử lý 154 vụ với tổng số tiền phạt 1088,1 triệu đồng.
10.9. Thiệt hại do thiên tai
Từ 19/8/2024 đến 18/9/2024, trên địa bàn tỉnh không xảy ra thiên tai, bằng tháng trước và bằng cùng kỳ. Chín tháng đầu năm trên địa bàn tỉnh xảy ra 5 vụ thiên tai, tăng 1 vụ so với cùng kỳ; giá trị thiệt hại ước khoảng 3,1 tỷ đồng, chính quyền các cấp đã hỗ trợ 18 triệu đồng.
Tóm lại: Tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh trong 9 tháng đầu năm 2024 đạt được một số kết quả tích cực, môi trường đầu tư, kinh doanh tiếp tục được cải thiện, phát triển kinh tế có nhiều điểm sáng: sản xuất nông nghiệp cơ bản hoàn thành tiến độ, công tác phòng chống dịch bệnh trên đàn vật nuôi được quan tâm, sản lượng thủy sản đánh bắt tăng khá; ngành công nghiệp có những chuyển biến tích cực, các sản phẩm công nghiệp chế biến chế tạo chủ lực đang dần phục hồi, những năng lực mới đã dần phát huy đem lại giá trị tăng thêm cho nền kinh tế; thị trường hàng hóa đảm bảo cho nhu cầu mua sắm của người nhân, giá các mặt hàng thiết yếu được bình ổn, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trong 9 tháng đầu năm tăng khá; hoạt động vận tải sôi động; kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh so cùng kỳ; hoạt động xúc tiến, thu hút đầu tư được đẩy mạnh, đã tổ chức thành công nhiều Hội nghị xúc tiến, kêu gọi nhà đầu tư đến khảo sát, tìm hiểu môi trường đầu tư tại tỉnh; đăng ký thành lập doanh nghiệp, thu hút đầu tư tăng cao so với cùng kỳ. Lĩnh vực xã hội có nhiều chuyển biến tích cực, các hoạt động văn hóa, lễ hội diễn ra sôi nổi thu hút lượng lớn khách du lịch; công tác an sinh, phúc lợi xã hội được các cấp, các ngành thực hiện kịp thời; tổ chức thăm, tặng quà cho các đối tượng chính sách, người nghèo; công tác kiểm tra, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, khám chữa bệnh cho nhân dân thực hiện tốt.
Bên cạnh những thuận lợi và kết quả đạt được, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ phát triển kế hoạch kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh 9 tháng đầu năm vẫn còn những tồn tại, hạn chế: tốc độ tăng trưởng các khu vực kinh tế đạt khá nhưng chưa đạt mục tiêu đề ra. Một số sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo chủ lực của tỉnh còn nhiều khó khăn do nhu cầu tiêu thụ giảm; hoạt động sản xuất kinh doanh của một bộ phận doanh nghiệp còn gặp khó khăn; số lượng doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động còn cao; một số dự án đầu tư tiếp tục ngưng trệ, chậm triển khai hoặc dừng đầu tư. Công tác bồi thường, hỗ trợ tái định cư, thời gian bàn giao mặt bằng chậm đối với một số công trình, dự án còn chậm; thời tiết diễn biến khó lường, tình hình mưa bão có chiều hướng phức tạp ảnh hưởng đến sản xuất, sinh hoạt của người dân.
Mục tiêu tăng trưởng của tỉnh cả năm 2024 đạt 8,5%-9,5% đặt ra trong Nghị quyết số 34/2023/NQ-HĐND của HĐND tỉnh về nhiệm vụ và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2024 thì tốc độ tăng trưởng trong quý 4 của năm phải đạt 11,9% trở lên. Để thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu nhiệm vụ và kế hoạch đã đề ra, trong thời gian còn lại của năm các cấp, các ngành cần tập trung một số nội dung sau:
Thứ nhất, tiếp tục tập trung thực hiện đồng bộ, quyết liệt Nghị quyết của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, HĐND tỉnh và Quyết định của UBND tỉnh về nhiệm vụ, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2024. Khắc phục các khó khăn, hạn chế, tập trung chỉ đạo đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh các ngành, phấn đấu tốc độ tăng GRDP cả năm 2024 đạt kết quả tốt nhất. Triển khai có hiệu quả các nguồn lực được huy động để xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ngày càng đồng bộ, hoàn thành các tiêu chí đề ra tại Nghị Quyết 54-NQ/TW của Bộ Chính Trị, đưa Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc Trung ương.
Thứ hai, theo dõi, bám sát diễn biến thời tiết để chủ động phòng chống thiên tai, lũ lụt; tăng cường công tác đảm bảo an toàn công trình đê điều, thủy lợi, thủy điện trong mùa mưa bão; đôn đốc các địa phương thực hiện tốt phương án phòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn; rà soát các khu vực có nguy cơ sạt lở, lũ ống, lũ quét, chủ động sơ tán, di dời sớm người dân đến nơi an toàn; thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn, giảm thiệt hại đối với lồng bè nuôi trồng thủy, hải sản và đàn vật nuôi.
Thứ ba, triển khai hiểu quả Đề án phát triển công nghiệp chuồng trại và xử lý chất thải chăn nuôi đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh, phát triển mô hình chăn nuôi hữu cơ, tuần hoàn, nâng cao hiệu quả kinh tế sinh thái chăn nuôi, tuyên truyền, đẩy mạnh phát triển các mô hình chăn nuôi an toàn sinh học, nuôi hữu cơ, tuần hoàn tại các địa phương nhằm mang lại chuỗi giá trị kinh tế cao trong chăn nuôi, giảm phát thải khí nhà kính; tăng cường công tác giám sát, phòng chống dịch bệnh trên gia súc, gia cầm; công tác, kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật và kiểm tra vệ sinh thú y; đẩy mạnh cơ cấu lại nghề khai thác hải sản; khuyến khích phát triển khai thác hải sản vùng khơi theo hướng hiện đại gắn với chống khai thác IUU.
Thứ tư, tháo gỡ các khó khăn, hỗ trợ các nhà đầu tư, doanh nghiệp và hộ kinh doanh trong quá trình sản xuất, kinh doanh, giảm số lượng doanh nghiệp tạm ngừng, giải thể; tập trung rà soát, kiểm tra các dự án đầu tư ngoài ngân sách nhà nước, bảo đảm việc triển khai thực hiện có hiệu quả, thực hiện dừng hoạt động dự án nếu đủ điều kiện theo quy định; đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án giao thông trọng điểm, sớm hoàn thành đưa vào sử dụng nhằm hoàn thiện hệ thống giao thông phục vụ phát triển kinh tế xã hội: dự án Đường Nguyễn Hoàng và cầu Vượt sông Hương; tuyến đường bộ ven biển và cầu qua cửa Thuận An; đê chắn sóng cảng Chân Mây - giai đoạn 2; đường cứu hộ cứu nạn thị trấn Phong Điền - Điền Lộc; chỉnh trang đường Phạm Văn Đồng, dự án bờ kè và đường đi bộ dọc sông Như Ý...
Thứ năm, tăng cường sản xuất các mặt hàng xuất khẩu, mở rộng thị trường tiêu thụ; đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại, nhất là các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh, hỗ trợ phát triển thương hiệu sản phẩm, xúc tiến thương mại quảng bá sản phẩm. Thực hiện tốt sự liên kết giữa sản xuất, chế biến, tiêu thụ, giữa các thành phần kinh tế và nông dân; thường xuyên thực hiện công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, chống hàng giả, hàng kém chất lượng, hàng hóa xâm phạm sở hữu trí tuệ, sở hữu công nghiệp; kiểm tra việc niêm yết giá và bán hàng theo giá niêm yết, nhất là các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu tại các chợ, trung tâm thương mại, cửa hàng tư nhân; xử lý kiên quyết những trường hợp kinh doanh hàng hóa không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, không có nguồn gốc xuất xứ, đầu cơ tăng giá để thu lợi bất chính.
Thứ sáu, tiếp tục đẩy mạnh các biện pháp tăng thu ngân sách, nhất là thu thuế sản xuất, thu tiền sử dụng đất, các khoản thu khác; tạo nguồn thu mới; tổ chức thu đúng, thu đủ cho ngân sách nhà ước để bổ sung vào đầu tư phát triển các công trình trọng điểm; tăng cường công tác quản lý thu và chống thất thu ngân sách nhà nước.
Thứ bảy, thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ giải pháp đảm bảo an sinh xã hội, nhất là các đối tượng chính sách. Quan tâm chăm sóc người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em; hỗ trợ đào tạo nghề cho người nghèo, gắn kết chặt chẽ giáo dục nghề nghiệp với tạo việc làm, hỗ trợ sinh kế góp phần tăng thu nhập cho người dân; tăng cường kết nối, cung ứng nhân lực cho doanh nghiệp, giải quyết việc làm. Chú trọng công tác quản lý, kiểm tra bảo đảm an toàn lao động cho người lao động; tiếp tục thực hiện tốt công tác tuyên truyền, tổ chức các hoạt động văn hóa, các ngày lễ, kỷ niệm, sự kiện của tỉnh./.
CỤC THỐNG KÊ TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Tin khác