0234 3828125 | Tphue@nso.gov.vn

BÁO CÁO TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI THÁNG 12, QUÝ IV VÀ NĂM 2024

08/01/2025 07:53

Năm 2024 có ý nghĩa quan trọng, năm tăng tốc thực hiện các chỉ tiêu trong Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025, mọi nguồn lực được ưu tiên xây dựng và phát triển Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc Trung ương theo Nghị quyết số 54-NQ/TW. 

Trước nhiệm vụ cấp bách đặt ra, việc triển khai thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh năm 2024 diễn ra trong bối cảnh kinh tế toàn cầu được cải thiện, áp lực lạm phát giảm dần, điều kiện tài chính được nới lỏng, nguồn cung lao động gia tăng. Song với việc cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn diễn ra ngày càng gay gắt, xung đột quân sự leo thang ở một số quốc gia đã tác động đến hòa bình, ổn định trên thế giới, làm suy giảm đầu tư, sản xuất và tiêu dùng. Trong nước, các hoạt động kinh tế - xã hội phục hồi tích cực, kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát, các cân đối lớn được đảm bảo. Tuy nhiên, với nền kinh tế đang phụ thuộc lớn vào xuất khẩu và có độ mở lớn nên tiềm ẩn nhiều rủi ro, thách thức trước tình hình biến động của thị trường thế giới; thời tiết, khí hậu diễn biến bất thường đã gây thiệt hại lớn, tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư tại nhiều địa phương và cả nước. Trên địa bàn tỉnh, ngay từ đầu năm với sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo sâu sát, kịp thời của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo, điều hành, có trọng tâm, rà soát các “điểm nghẽn”, “rào cản” trong từng ngành, từng lĩnh vực để có giải pháp tháo gỡ kịp thời; đồng thời tập trung giải quyết các khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp; đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công; tích cực triển khai các hoạt động xúc tiến, thu hút đầu tư… Nhờ vậy, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh cơ bản ổn định và đạt được nhiều kết quả tích cực.

Thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2024; Nghị quyết số 25-NQ/TU của Tỉnh ủy, Nghị quyết số 34/2023/NQ-HĐND của HĐND tỉnh về nhiệm vụ và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2024; Quyết định số 01/QĐ-UBND của UBND tỉnh về việc triển khai thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2024. Kết quả đạt được trên các ngành, lĩnh vực năm 2024 như sau:  

1. Tăng trưởng kinh tế

Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh năm 2024 ước tăng 8,15% so với cùng kỳ, đây là mức tăng trưởng khá cao trong khu vực. Trong đó: khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,40%, đóng góp 0,35 điểm phần trăm vào tốc độ tăng chung của tàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,43%; đóng góp 3,36 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 7,89%, đóng góp 3,85 điểm phần trăm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 6,79%, 0,59 điểm phần trăm.

Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản: sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2024 gặp nhiều thuận lợi, giá vật tư phân bón ổn định, thời tiết ôn hòa, cây trồng phát triển tốt, năng suất hầu hết các loại cây trồng đều tăng, đàn vật nuôi duy trì tốc độ tái đàn, dịch bệnh không xảy ra, công tác tiêm phòng thú y, vệ sinh môi trường chăn nuôi được chú trọng. Trong đó, ngành nông nghiệp tăng 2,63% so với cùng kỳ, đóng góp 0,15 điểm phần trăm; ngành lâm nghiệp tăng 7,90%, đóng góp 0,09 điểm phần trăm; ngành thủy sản duy trì phát triển tăng 3,18%, đóng góp 0,11 điểm phần trăm.

Khu vực công nghiệp - xây dựng: ngành công nghiệp năm 2024 tăng 7,74%, đóng góp 1,90 điểm phần trăm. Riêng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng trưởng 9,33%, đóng góp 1,80 điểm phần trăm (cao hơn mức tăng trưởng 4,31% của năm 2023) tiếp tục là đầu tàu trong toàn ngành công nghiệp của tỉnh, đạt mức tăng trưởng này là nhờ năng lực tăng thêm của các ngành và một số sản phẩm chủ lực duy trì mức sản xuất khá như may mặc, dăm gỗ, sản xuất túi xách... Ngành công nghiệp cấp nước và thu gom rác thải tăng trưởng khá, do những dự án mang tính chất công ích, thân thiện môi trường được sử dụng công nghệ hiện đại đi vào hoạt động, góp phần quan trọng trong giải bài toán đầu ra việc xử lý rác thải hiệu quả và đảm bảo môi trường tại địa phương khi các bãi chôn lấp đã đầy và ô nhiễm; Ngành xây dựng tăng 19,02%, đóng góp 1,46 điểm phần trăm, hiện nay nhiều công trình lớn đang được thi công và đẩy nhanh tiến độ, đóng góp lớn vào mức tăng trưởng của khu vực công nghiệp - xây dựng cũng như toàn nền kinh tế của tỉnh.

Khu vực dịch vụ trong năm 2024 tiếp tục ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực, hoạt động xúc tiến du lịch được đẩy mạnh, nhiều sự kiện liên tục được tổ chức tạo không khí sôi động, tươi mới thu hút đông đảo du khách; thị trường hàng hóa trong tỉnh phong phú, lưu thông thông suốt, sức mua tăng đã đem lại nhiều kết quả quan trọng. Một số ngành dịch vụ trong năm có mức tăng trưởng khá: Ngành ăn uống và lưu trú tăng 12,51%, đóng góp 0,73 điểm phần trăm; ngành bán buôn bán lẻ tăng 9,56%, đóng góp 0,60 điểm phần trăm; vận tải tăng 9,22%, đóng góp 0,31 điểm phần trăm; nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 8,78%, đóng góp 0,07 điểm phần trăm.

Cơ cấu nền kinh tế tiếp tục có sự chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản, tăng tỷ trọng khu vực dịch vụ. Ước tính quy mô tổng sản phẩm trong tỉnh theo giá hiện hành năm 2024 đạt 80.966,5 tỷ đồng; trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 10,35%, khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 31,27%; khu vực dịch vụ chiếm 49,96%, thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm là 8,42%. Cơ cấu tương ứng của năm 2023 lần lượt: 10,69%; 31,39%; 49,26%; 8,66%. 

Chất lượng tăng trưởng kinh tế: năng suất lao động xã hội năm 2024 theo giá hiện hành của toàn nền kinh tế ước đạt 137,3 triệu đồng/lao động, tăng 13,5 triệu đồng/lao động so với năm 2023, trong đó năng suất lao động khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 89,3 triệu đồng/lao động; khu vực công nghiệp và xây dựng đạt 130,1 triệu đồng/lao động; khu vực dịch vụ đạt 134,3 triệu đồng/lao động. Tính theo giá so sánh 2010, năng suất lao động toàn nền kinh tế năm 2024 ước đạt 70,9 triệu đồng/lao động, tăng 5,2 triệu đồng/ lao động, tăng 7,8% so với năm 2023. Trong đó năng suất lao động khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 44,4 triệu đồng/lao động; khu vực công nghiệp và xây dựng đạt 70,8 triệu đồng/lao động; khu vực dịch vụ tăng đạt 67,4 triệu đồng/lao động.

2. Tài chính

Năm 2024, tổng thu ngân sách trên địa bàn vượt dự toán HĐND tỉnh giao và tăng cao so với cùng kỳ, nguyên nhân do nguồn thu thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng hàng nhập khẩu tăng mạnh, chủ yếu là từ khoản thu thuế xuất khẩu dăm gỗ tăng và phát sinh khoản thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng hàng linh kiện lắp ráp ô tô của Công ty cổ phần Kim Long Motor Huế.

Tổng thu ngân sách trên địa bàn năm 2024 ước đạt 12.880 tỷ đồng, bằng 109,2% dự toán HĐND tỉnh giao, tăng 13,3% so với cùng kỳ. Trong đó: Thu nội địa ước đạt 11.314 tỷ đồng, bằng 101,4% dự toán, tăng 6,8% so cùng kỳ; thu thuế từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 1.200 tỷ đồng, bằng 193,6% so với dự toán, tăng 76,7%. Trong thu nội địa: Thu doanh nghiệp Nhà nước ước đạt 430,0 tỷ đồng, bằng 93,7% so với dự toán, tăng 6,9% so cùng kỳ; thu doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 4.459 tỷ đồng, bằng 116,2% so với dự toán, tăng 2,1%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 1.700 tỷ đồng, bằng 105,7% so với dự toán, tăng 7,1%; thuế thu nhập cá nhân 590 tỷ đồng, bằng 118,0% so với dự toán, tăng 15,7%; thuế bảo vệ môi trường 375,0 tỷ đồng, bằng 101,4% so với dự toán, tăng 7,1%.

Tổng chi ngân sách địa phương năm 2024 ước đạt 15.784,8 tỷ đồng, bằng 98,8% dự toán, trong đó chi đầu tư phát triển 5.261,6 tỷ đồng, bằng 89,0% dự toán; chi thường xuyên 9.839,7 tỷ đồng, bằng 113,8% so với dự toán; trong đó: chi sự nghiệp kinh tế 1.085,3 tỷ đồng, bằng 101,2% so với dự toán; chi sự nghiệp giáo dục đào tạo 4.550,9 tỷ đồng, bằng 117,8% dự toán; chi sự nghiệp y tế 743,1 tỷ đồng, bằng 115,6% so với dự toán; chi quản lý Nhà nước 1.977,3 tỷ đồng, bằng 122,8% dự toán.

3. Hoạt động xuất nhập khẩu

Hoạt động xuất nhập khẩu trên địa bàn trong năm 2024 có nhiều chuyển biến tích cực do sự phục hồi của thị trường thế giới, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất hàng hóa xuất khẩu đã có nhiều đơn hàng và thị trường xuất khẩu được mở rộng đi nhiều nước. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu ước đạt 2.310 triệu USD, tăng 39,9% so cùng kỳ, xuất siêu hàng hóa đạt 290 triệu USD.

3.1. Về xuất khẩu

Kim ngạch xuất khẩu (KNXK) hàng hóa năm 2024 ước đạt 1.300 triệu USD tăng 33,1% so với cùng kỳ, đạt 100% kế hoạch. Trong đó, khu vực doanh nghiệp 100% vốn trong nước ước đạt 776,5 triệu USD, tăng 27,2%; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 523,5 triệu USD, tăng 42,8% so với cùng kỳ. Các nhóm hàng xuất khẩu chủ lực cụ thể :

- Nhóm hàng nông, thuỷ sản: KNXK ước đạt 68,78 triệu USD, tăng 26,0% so với cùng kỳ và chiếm tỷ trọng 5,3%.

- Nhóm hàng công nghiệp chế biến: KNXK ước đạt 998,5 triệu USD, tăng 26,8% so với cùng kỳ và chiếm tỷ trọng 76,8%, trong đó: xơ, sợi dệt các loại ước đạt 217,5 triệu USD, tăng 11,0%; hàng may mặc ước đạt 585,1 triệu USD, tăng 14,8%; gỗ và sản phẩm gỗ ước đạt 196,0 triệu USD, tăng gấp 2,4 lần so với cùng kỳ.

- Nhóm các hàng hóa khác như hương và bột hương, bia, rượu sa kê, hàng thủ công mỹ nghệ, bao bì xi măng,…: KNXK ước đạt 232,7 triệu USD, tăng 72,9% và chiếm tỷ trọng 17,9%.

Thị trường xuất khẩu: trong năm 2024 doanh nghiệp đã xuất khẩu đến gần 60 quốc gia và vùng lãnh thổ như Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, ASEAN, các nước Châu Âu,… 

3.2. Về nhập khẩu

Dự ước kim ngạch nhập khẩu hàng hóa năm 2024 ước đạt 1.010 triệu USD tăng 49,7% so với năm 2023, đạt 144,3% kế hoạch năm 2024. Trong đó, khu vực doanh nghiệp 100% vốn trong nước ước đạt 632,6 triệu USD, tăng 67,4% so với cùng kỳ; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 377,8 triệu USD, tăng 61,5% so với cùng kỳ. Các mặt hàng nhập khẩu tiếp tục phục vụ cho hoạt động sản xuất, xuất khẩu của các doanh nghiệp, cụ thể:

- Nhóm hàng cần nhập khẩu: KNNK ước đạt 642,5 triệu USD, tăng 15,9% so với cùng kỳ và chiếm tỷ trọng 63,6%, trong đó: nguyên phụ liệu dệt may ước đạt 571,6 triệu USD, tăng 34,2%; máy móc thiết bị dụng cụ phụ tùng ước đạt 69,7 triệu USD, giảm 42,7%.

- Nhóm hàng hóa khác như thạch cao, thép, hóa chất, linh kiện điện tử, nguyên phụ liệu sản xuất bia,...: KNNK ước đạt 212,9 triệu USD, tăng 85,3% so với cùng kỳ.

4. Giá cả, lạm phát

- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)

Chỉ số giá tiêu dùng trên địa bàn tỉnh trong năm 2024 chịu ảnh hưởng của việc áp dụng mức giá dịch vụ y tế mới theo Quyết định số 3243/QĐ-BYT ngày 01 tháng 11 năm 2024 của Bộ Y tế; giá gạo xuất khẩu trong nước có xu hướng tăng tích cực. Chỉ số giá tiêu dùng chung toàn tỉnh bình quân năm 2024 tăng 3,72% so với cùng kỳ. 

Chỉ số giá tiêu dùng toàn tỉnh tháng 12/2024 tăng 0,35% so với tháng trước, tăng 2,97% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân CPI tăng so với tháng trước chủ yếu do nhu cầu tiêu dùng hàng ăn và dịch vụ ăn uống của người dân tăng, cùng với đó là việc áp dụng quyết định số 3243/QĐ-BYT ngày 01/11/2024 của Bộ Y tế. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 9 nhóm hàng tăng giá gồm các nhóm mặt hàng như: nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 3,10%; giao thông tăng 0,58%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,39%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,35%; hàng hoá và dịch vụ khác tăng 0,23%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,20%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,10%. Bên cạnh đó, có các nhóm hàng giảm giá so với tháng trước như: nhóm văn hoá, giải trí và du lịch giảm 0,01%, đồ uống và thuốc lá giảm 0,03%. Nhóm bưu chính viễn thông, giáo dục bình ổn so với tháng trước.

Các nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá bình quân năm 2024 tăng cao so bình quân năm 2023 gồm: nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 7,11% do áp dụng quyết định mới của Bộ Y tế; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,76% do giá gạo xuất khẩu trong nước có xu hướng tăng cao và nhu cầu của người dân tăng; nhóm giao thông tăng 3,52%; nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 3,08%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 5,65% chủ yếu do lệ phí công chứng, bảo hiểm y tế và dịch vụ khác tăng. Các nhóm còn lại không biến động lớn. Nhóm bưu chính viễn thông bình ổn và không làm ảnh hưởng đến CPI chung. 

- Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ 

Chỉ số giá vàng tháng 12/2024 giảm 0,67% so với tháng trước, tăng 36,45% so với tháng 12 năm trước. Bình quân năm 2024 tăng 32,17% so với bình quân năm trước. 

Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 12/2024 tăng 0,04% so với tháng trước, tăng 4,37% so với tháng 12 năm trước. Bình quân năm 2024 tăng 4,83% so với bình quân năm trước.

5. Vốn đầu tư 

Với mục tiêu thực hiện thành công Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI và Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2021-2025. Trong năm 2024, UBND tỉnh đã chỉ đạo các cấp, các ngành tập trung thực hiện các nhóm giải pháp, đẩy nhanh việc giải ngân vốn đầu tư công, hoàn thành các đề án, quy hoạch quan trọng, triển khai thực hiện các quy hoạch mà Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Ước năm 2024 nguồn vốn đầu tư thực hiện theo giá hiện hành trên địa bàn tăng 9,9 % so với cùng kỳ.

Nguồn vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn trong quý IV ước đạt 8.797 tỷ đồng, tăng 7,1% so cùng kỳ, đưa tổng vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn theo giá hiện hành năm 2024 ước đạt 32.057 tỷ đồng, đạt 94,0% kế hoạch, tăng 9,9% so với cùng kỳ. Trong đó, vốn do Trung ương quản lý là 1.318 tỷ đồng chiếm 4,1% tổng vốn, giảm 8,5% so cùng kỳ; nguồn vốn do địa phương quản lý là 30.739 tỷ đồng chiếm 95,9%, bằng 115,4% kế hoạch, tăng 10,8% so với cùng kỳ.

Vốn ngân sách nhà nước thực hiện quý IV ước đạt 2.993 tỷ đồng, tăng 3,0%, đưa vốn ngân sách nhà nước năm 2024 ước đạt 8.420 tỷ đồng chiếm 26,3% tổng nguồn vốn, tăng 4,6% so với cùng kỳ. Nguồn vốn đầu tư NSNN năm 2024 chủ yếu tập trung vào các dự án chuyển tiếp như: tuyến đường bộ ven biển đoạn qua tỉnh Thừa Thiên Huế, cầu vượt biển Thuận An; cầu đường bộ Nguyễn Hoàng vượt sông Hương; hạ tầng đô thị tại Phú Vang, Phong Điền, Hương Thủy; đường Phạm Văn Đồng; trụ sở cơ quan nhà nước, đảm bảo an ninh quốc phòng, y tế, giáo dục và chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững. Bên cạnh các dự án đang đẩy nhanh tiến độ thi công, một số dự án vướng giải phóng mặt bằng nhiều năm nhưng chưa được chủ đầu tư phối hợp với địa phương giải quyết dứt điểm để đưa vào thi công dự án như: đường Tố Hữu nối dài đi sân bay Phú Bài; đường vành đai 3. các dự án bảo tồn, tu bổ và phát huy giá trị tổng thể di tích lăng vua Minh Mạng (phần còn lại); bảo quản, tu bổ, phục hồi và tôn tạo tổng thể di tích Thái Miếu giai đoạn 1 - đợt 1; bảo tồn tu bổ và phát huy giá trị tổng thể di tích lăng vua Thiệu Trị giai đoạn 3; dự án bảo tồn, tu bổ và tôn tạo hệ thống kinh thành Huế - hợp phần tu bổ, tôn tạo di tích tiến độ lập thiết kế, chuẩn bị triển khai dự án còn chậm.

Vốn ngoài nhà nước thực hiện quý IV ước đạt 5.189 tỷ đồng, tăng 20,2%, đưa tổng nguồn vốn nguồn này năm 2024 ước đạt 19.141 tỷ đồng, chiếm 59,8% tổng nguồn vốn, tăng 19,2%. Trong đó, vốn của tổ chức, doanh nghiệp ngoài Nhà nước ước đạt 11.170 tỷ đồng, tăng 33%; vốn đầu tư của dân cư ước đạt 7.971 tỷ đồng, tăng 6,3% so với cùng kỳ. Nguồn vốn doanh nghiệp đầu tư trên địa bàn tiếp tục triển khai các dự án lớn như: dự án chế tạo động cơ Kim Long Huế có tổng mức đầu tư 6.200 tỷ đồng, thuộc Khu Công nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô Kim Long Motor Huế; dự án Khu công nghiệp Gilimex; hạ tầng khu công nghiệp và khu phi thuế quan Sài Gòn - Chân Mây; công trình cảng biển. Một số dự án lớn chậm tiến độ như: dự án tổ hợp khu dịch vụ thương mại và du lịch Phạm Văn Đồng; nhà máy sản xuất kính siêu trắng Đạt Phương của công ty Cổ phần Kính Đạt Phương. Trong năm 2024 có 24 dự án đăng ký mới với tổng số vốn 5.288 tỷ đồng.

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài quý IV ước đạt 543 tỷ đồng, giảm 34,1%, đưa tổng số vốn năm 2024 đạt 4.132 tỷ đồng, chiếm 12,9%, tăng 19,3% so với cùng kỳ. Nguồn vốn này tập trung chủ yếu vào lĩnh vực thương mại và sản xuất công nghiệp. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh có 16 dự án FDI đăng ký mới với tổng số vốn đăng ký 40,85 triệu USD; 01 dự án điều chỉnh tăng vốn từ 5 triệu USD lên hơn 8 triệu USD.

6. Sản xuất nông lâm nghiệp và thủy sản 

Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2024 duy trì ổn định, thời tiết năm nay khá thuận lợi cho cây trồng, vật nuôi phát triển, ước tính năng suất lúa cả năm đạt 64,7 tạ/ha, tăng 3,4%; công tác phòng chống dịch bệnh trên đàn vật nuôi được chú trọng, đàn lợn dự ước tăng 1,9% so với cùng kỳ, đàn gia cầm tăng 2,0%; sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng ước tăng 2,8%; thịt gia cầm hơi xuất chuồng tăng 3,4% so với cùng kỳ; trồng rừng trong năm đạt kết quả khá, sản lượng gỗ khai thác rừng trồng tăng 11,5%; sản lượng thủy sản nuôi trồng và đánh bắt tăng 3,1% so với cùng kỳ.

6.1. Nông nghiệp

- Cây hằng năm

Trong tháng 12, sản xuất nông nghiệp tập trung gieo trồng cây hàng năm vụ Đông, chủ yếu là rau màu và hoa các loại phục vụ Tết Nguyên đán: ngô ước đạt 3 ha, tăng 3,3%; khoai lang 51 ha, tăng 4,9%; rau các loại 61 ha, tăng 4,3% so với cùng kỳ. Hiện nay, các địa phương khẩn trương chỉ đạo người dân tu sửa kênh mương thủy lợi; thực hiện khâu làm đất, vệ sinh đồng ruộng, diệt ốc bươu vàng; rà soát nhu cầu đăng ký giống với các đơn vị cung cấp để chuẩn bị cho vụ Đông Xuân năm 2025.

Năm 2024, sản xuất nông nghiệp trên địa bàn gặp nhiều thuận lợi, giá vật tư phân bón ổn định, thời tiết ôn hòa. Sản xuất vụ Đông Xuân, đầu vụ diễn ra một số đợt mưa bất thường nhưng người dân đã chủ động tiêu úng đồng ruộng và gieo sạ lại kịp lịch thời vụ nên không gây thiệt hại cho cây lúa. Trong vụ, thời tiết nắng ấm, cây lúa đang sinh trưởng và phát triển tốt. Đến cuối vụ xảy ra hai đợt mưa lớn vào ngày 28/4 và 4/5 đã làm diện tích lúa chưa kịp thu hoạch bị đổ ngã tại một số địa phương, nhưng do lúa đã chuẩn bị thu hoạch nên không ảnh hưởng đến năng suất. Các loại bệnh trên cây lúa như đạo ôn lá, dòi đục nõn, cỏ dại… xuất hiện rãi rác; số diện tích bị ốc bươu vàng và chuột phá hại mật độ và tỷ lệ gây hại thấp. Sang vụ Hè Thu, nhờ chủ động nguồn nước tưới nên không xảy ra tình trạng khô hạn, cây lúa sinh trưởng tốt, sâu bệnh chỉ xuất hiện rải rác ở mật độ thấp.

Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm cả năm 2024 ước đạt 68.824 ha, giảm 0,02% so với cùng kỳ. Trong đó, diện tích gieo cấy lúa là 53.436 ha, bằng cùng kỳ, bao gồm diện tích gieo cấy lúa vụ Đông Xuân đạt 27.918 ha, giảm 0,4%; diện tích gieo cấy cây lúa vụ Hè Thu đạt 25.333 ha, tăng 0,4%; diện tích gieo cấy lúa vụ Mùa đạt 185 ha, giảm 0,3% so với cùng kỳ.

Cơ cấu giống lúa có những chuyển biến tích cực, trong vụ Đông Xuân giống lúa Khang dân được thay thế dần bởi các loại giống mới có chất lượng cao như ĐT100 (KH1), TH5, HN6, J02, HG244, HG12… nhằm tạo ra sản phẩm thơm ngon, bán được giá và rút ngắn tối đa thời gian sinh trưởng, hạn chế nguy cơ sâu bệnh gây hại và thiên tai; vụ Hè Thu: chủ yếu nhóm giống lúa ngắn ngày và cực ngắn, chủ lực là: Khang dân, TH5, HT1, HN6, PC6, HG244 chiếm tỷ lệ trên 95%. Các giống lúa thuộc nhóm chất lượng cao chiếm khoảng 44,8% diện tích cả năm. Tỷ lệ giống xác nhận khoảng 94%.

Sản xuất trồng trọt ứng dụng công nghệ cao, VietGAP, hữu cơ tiếp tục phát triển với hơn 62.000 m2 (66 nhà màng, nhà lưới); 11.360 ha sản xuất theo VietGAP (rau 318,7 ha, lúa 10.433 ha, lạc 17,8 ha, cây ăn quả 592 ha), tăng 23,7% và có 1.548 ha đã được cấp giấy chứng nhận. Sản xuất hữu cơ 318 ha (26,8 ha rau, 263 ha lúa, 28 ha lạc), tăng 14,4%, trong đó có 74,8 ha đã được cấp giấy chứng nhận. Các doanh nghiệp, HTX sản xuất nông nghiệp đã chủ động tiếp tục triển khai mô hình hợp tác, liên kết tổ chức sản xuất, tiêu thụ lúa theo cánh đồng lớn với diện tích khoảng 10.034 ha (tăng 1.300 ha so năm 2023). Trong đó, cánh đồng mẫu có liên kết 3.639 ha; cánh đồng mẫu chưa có sự liên kết 6.395 ha. 

Ước tính năng suất lúa cả năm 2024 đạt 64,7 tạ/ha, tăng 3,4% so với cùng kỳ. Trong đó: vụ Đông Xuân năng suất đạt 67,4 tạ/ha, tăng 2,1%; năng suất lúa vụ Hè Thu đạt 62,1 tạ/ha, tăng 4,8%; năng suất lúa vụ Mùa đạt 18 tạ/ha, tăng 1,9%. Sản lượng lúa cả năm 2024 ước đạt 345.865 tấn, tăng 3,3% so với cùng kỳ. Trong đó: sản lượng lúa vụ Đông Xuân 188.152 tấn, tăng 1,8%, sản lượng lúa vụ Hè Thu 157.381 tấn, tăng 5,3%; sản lượng lúa vụ Mùa ước đạt 333 tấn, tăng 1,6%.

Diện tích gieo trồng cây hằng năm khác năm 2024 ước đạt 15.388 ha, giảm 0,08% so với cùng kỳ. Trong đó diện tích gieo trồng một số cây hàng năm khác giảm như: ngô 1.490 ha, 0,2%; lạc đạt 2.292 ha, giảm 3,3%; rau các loại 4.489 ha, giảm 1,9%; đậu các loại đạt 930 ha, giảm 2,6%; khoai lang đạt 627 ha, giảm 0,3%. Bên cạnh đó, một số cây trồng có diện tích tăng như: sắn đạt 3.794 ha, tăng 2,1%; mía đạt 137 ha, tăng 3,5% so với cùng kỳ.

Năm nay, thời tiết thuận lợi, đối tượng sinh vật gây hại xuất hiện rải rác, công tác phòng trừ sâu bệnh kịp thời nên năng suất và sản lượng hầu hết các loại cây trồng đều tăng so với cùng kỳ. Năng suất một số cây trồng tăng như: ngô đạt 41 tạ/ha, tăng 1,7%; khoai lang 58,5 tạ/ha, tăng 4,0%; lạc 22,3 tạ/ha, tăng 6,3%; rau các loại đạt 108,8 tạ/ha, tăng 6,9%; sắn 230 tạ/ha, tăng 6,8%. Sản lượng thu hoạch một số cây trồng: ngô đạt 6.111tấn, tăng 1,5%; khoai lang 3.671 tấn, tăng 3,7%; lạc 5.117 tấn, tăng 2,8%; sắn 87.275 tấn, tăng 9,1 % so với cùng kỳ.

- Cây lâu năm: 

Tổng diện tích cây lâu năm năm 2024 ước đạt 9.324 ha, tăng 0,04% so với cùng kỳ. Bao gồm, diện tích hiện có cây ăn quả ước đạt 3.642 ha, tăng 3,9% so cùng kỳ; cây lấy quả chứa dầu 103 ha, tăng 2,8%; cây hồ tiêu 170 ha, giảm 1,4%; cây cao su 4.961 ha, giảm 3,4%; cây chè 86 ha, bằng với cùng kỳ; cây gia vị, cây dược liệu lâu năm 70 ha, bằng với cùng kỳ; cây lâu năm khác 292 ha tăng 16,1% so với cùng kỳ. Năm nay diện tích cây ăn quả hiện có tăng khá, diện tích tăng chủ yếu tập trung một số lọa cây sau: chuối 823 ha, tăng 3,3%; cây ổi 171 ha, tăng 8,4%; cam 370 ha, tăng 2,5%; bưởi bòng thanh trà hiện có 1.437 ha, tăng 3,4%; mít 85 ha, tăng 6,4%; dứa 206 ha, tăng 0,9% so với cùng kỳ. 

Sản lượng thu hoạch một số cây lâu năm chủ yếu năm 2024 ước đạt: chuối 14.300 tấn, tăng 1,7%; dứa 2.044 tấn, tăng 0,7%; mít 787 tấn, tăng 2,3%; cam 2.010 tấn, tăng 3,7%; chè hái lá đạt 506,6 tấn, tăng 1,0%; dừa 1.862 tấn, tăng 10,7%; mủ cao su ước đạt 6.900 tấn, giảm 2,8% so với cùng kỳ. 

- Chăn nuôi

Đàn trâu tiếp tục giảm do đô thị hóa ngày càng phát triển làm cho đồng cỏ chăn nuôi ngày càng thu hẹp, chăn nuôi tại các khu dân cư bị hạn chế nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Đàn bò có xu hướng tăng do trên địa bàn tỉnh hiện đang tăng cường thực hiện các giải pháp phát triển chăn nuôi bò bền vững. Thời điểm 31/12/2024, đàn trâu toàn tỉnh ước có 14.973 con, giảm 1,2%; Đàn bò 30.748 con, tăng 2,2% so với cùng kỳ.

Chăn nuôi lợn tiếp tục phát triển theo hướng chăn nuôi công nghệ cao, VietGAP, hữu cơ, an toàn sinh học, an toàn dịch bệnh; chăn nuôi tập trung theo hướng công nghiệp, trang trại được chú trọng; chất lượng con giống, kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng ngày càng được nâng cao. Hiện nay dịch bệnh đã xuất hiện ở một số tỉnh lận cận nên tâm lý người nuôi bị ảnh hưởng và chưa mạnh dạn đầu tư để tái đàn. Thời điểm 31/12/2024, tổng đàn lợn toàn tỉnh ước có 149.430 con, tăng 1,9%.

Dịch bệnh trên gia cầm được kiểm soát tốt, mô hình chăn nuôi gia cầm theo hướng hiện đại, đảm bảo vệ sinh môi trường, tăng năng suất, hạn chế dịch bệnh, gắn với liên kết tiêu thụ đã tạo ra sản phẩm thịt gia cầm chất lượng, đảm bảo an toàn thực phẩm. Thời điểm 31/12/2024, tổng đàn gia cầm ước có 5.082,5 nghìn con, tăng 2,0% so với cùng kỳ. Trong đó đàn gà 3.569,1 nghìn con, tăng 2,1% so với cùng kỳ.

Sản lượng thịt xuất chuồng năm 2024 ước đạt 34.266 tấn, tăng 2,8% so với cùng kỳ. Trong đó: thịt trâu 927 tấn, giảm 1,2%; thịt bò 1.214 tấn, tăng 2,4%; thịt lợn 15.525,5 tấn, tăng 2,5%; thịt gia cầm 16.599 tấn, tăng 3,4% so với cùng kỳ.

6.2. Lâm nghiệp

Diện tích trồng rừng tập trung tháng 12 năm 2024 ước đạt 1.220 ha, tăng 3,8% so với cùng kỳ. Lũy kế diện tích rừng trồng mới tập trung năm 2024 ước đạt 7.310 ha, tăng 4,0%, trong đó rừng sản xuất 7.020 ha, chiếm 96,0%, tăng 3,9%; rừng phòng hộ 280 ha, tăng 1,8% so với cùng kỳ. Các địa phương thực hiện trồng mới rừng chủ yếu trên diện tích rừng đã khai thác. 

Năm 2024 diện tích rừng trồng được chăm sóc ước đạt 19.810 ha, tăng 3,5% so với cùng kỳ. Diện tích rừng được khoanh nuôi xúc tiến tái sinh 210 ha, tăng 24,3% so cùng kỳ, chủ yếu khoanh nuôi tái sinh rừng phòng hộ. Diện tích rừng được giao khoán bảo vệ 142.000 ha, tăng 0,7% so với cùng kỳ. Số cây lâm nghiệp trồng phân tán 1.700 nghìn cây, giảm 3,2% so với cùng kỳ. 

Các địa phương tiếp tục thực hiện chương trình về giao rừng cho người dân bảo vệ, đồng thời tạo động lực khuyến khích nhân dân tích cực tham gia bảo vệ và phát triển rừng, bảo đảm nguồn thu nhập từ rừng trở thành nguồn thu chính của người lao động.

Sản lượng gỗ khai thác rừng trồng trong tháng 12 năm 2024 ước đạt 37.360 m3, tăng 1,9% so với cùng kỳ; sản lượng củi khai thác 15.620 ste, giảm 10,1%. Lũy kế sản lượng gỗ khai thác năm 2024 ước đạt 662.100 m3, tăng 11,5% so với cùng kỳ, trong đó toàn bộ là khai thác gỗ từ rừng trồng, gỗ nhóm 7 chiếm 99,0%; sản lượng củi khai thác 100.800 ste, giảm 3,5%.

Trong tháng không xảy ra tình trạng phá rừng làm nương rẫy. Tính đến hết năm 2024, trên địa bàn có 25 vụ phá rừng làm nương rẫy, giảm 9 vụ; diện tích rừng bị phá 2,6 ha, giảm 4,1 ha so với cùng kỳ.

6.3. Thủy sản

Tình hình nuôi trồng thủy sản: diện tích nuôi trồng thủy sản tháng 12/2024 ước đạt 473 ha, tăng 1,9% so với cùng kỳ. Chia ra nuôi nước lợ 447 ha, tăng 2,3%; nuôi nước ngọt 26 ha, giảm 3,7%. Trong đó nuôi cá 52 ha, bằng với cùng kỳ; nuôi tôm 421 ha, tăng 2,2%. Lũy kế diện tích nuôi trồng thủy sản năm 2024 ước đạt 8.032 ha, tăng 1,3% so cùng kỳ. Diện tích nuôi nước lợ 6.104 ha, tăng 2,0% so cùng kỳ; diện tích nuôi nước ngọt 1.928 ha, giảm 0,9%. Trong đó nuôi cá 3.404 ha, tăng 0,2%; nuôi tôm 3613 ha, tăng 2,3%; thủy sản khác 1.015 ha, tăng 1,5%. Theo phương thức nuôi: nuôi thâm canh và bán thâm canh 4.252 ha, tăng 1,6%; nuôi quảng canh và quảng canh cải tiến 3.780 ha, tăng 1,0%.

Nuôi thủy sản lồng, bè: số hộ nuôi lồng, bè 3.842 hộ, tăng 0,6% so với cùng kỳ; số lồng, bè thả nuôi 8.457 lồng, tăng 1,8%; thể tích lồng, bè nuôi 184.752 m3, tăng 2,1%. Hiện nay nuôi lồng bè ở các địa phương phát triển nhờ hiệu quả kinh tế mang lại khá, do tận dụng mặt nước vùng đầm phá, sông ngòi, hồ thủy điện và một phần nguồn thức ăn tự chế của người nuôi.

Sản xuất giống trên địa bàn tỉnh trong tháng 12/2024 ước đạt 11,2 triệu con, tăng 4,7% so với cùng kỳ, trong đó tôm sú giống 9,7 triệu con, tăng 4,3%; cá giống các loại 1,5 triệu con, tăng 7,1%. Lũy kế sản xuất giống thủy sản trên địa bàn tỉnh năm 2024 ước đạt 209 triệu con, tăng 2,0% so với cùng kỳ; trong đó tôm sú giống 111,7 triệu con, tăng 1,8%; cá giống các loại 92,3 triệu con, tăng 2,2%; cua, ếch giống 3 triệu con bằng so cùng kỳ.

Sản lượng thu hoạch tháng 12/2024 ước đạt 1.435 tấn, tăng 2,0% so với cùng kỳ. Chia ra sản lượng cá 325 tấn, tăng 5,5%; tôm các loại 1.110 tấn, tăng 1,0%. Lũy kế sản lượng thu hoạch năm 2024 ước đạt 21.000 tấn, tăng 4,7% so với cùng kỳ. Chia ra, cá các loại 11.877 tấn, tăng 5,2%; tôm các loại 7.900 tấn, tăng 4,2%; thủy sản khác 1.223 tấn, tăng 2,9% so với cùng kỳ. 

Tình hình khai thác thủy sản: sản lượng khai thác thủy sản tháng 12/2024 ước đạt 1.650 tấn, tăng 3,3% so với cùng kỳ; trong đó khai thác biển 1.429 tấn, tăng 4,6%, khai thác nội địa 221 tấn, tăng 0,5% so với cùng kỳ. Lũy kế lượng thủy sản khai thác năm 2024 ước đạt 43.000 tấn, tăng 2,4% so với cùng kỳ. Trong đó khai thác biển ước đạt 39.155 tấn, tăng 2,7%; khai thác nội địa 3.845 tấn, giảm 0,6%. 

 Tính chung sản lượng thủy sản nuôi trồng và khai thác năm 2024 ước đạt 64.000 tấn, tăng 3,1% so với cùng kỳ.

*Chương trình xây dựng nông thôn mới

Toàn tỉnh hiện có 80/94 xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới, đạt tỷ lệ 85,1%, trong đó có quyết định công nhận đạt chuẩn 72/94 xã, đang thẩm định hồ sơ 04 xã, 04 xã đang hoàn thiện hồ sơ. Có 12 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, trong đó có quyết định công nhận đạt chuẩn 05 xã, hiện đang thẩm định 02 xã, 05 xã đang làm hồ sơ. Số tiêu chí bình quân toàn tỉnh đạt 18,3 tiêu chí/xã, tăng 0,47 tiêu chí/xã so với đầu năm. 

Nhằm thúc đẩy chương trình, UBND tỉnh đã ban hành kế hoạch triển khai các chuyên đề xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh, trong đó nổi bật là chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP). Đến cuối tháng 12/2024, toàn tỉnh đã có 100 sản phẩm OCOP, bao gồm 01 sản phẩm OCOP 5 sao, đạt tỉ lệ 1%; 18 sản phẩm OCOP 4 sao, chiếm tỉ lệ 18%; và 81 sản phẩm OCOP 3 sao, tỉ lệ 81%. Có 4 sản phẩm du lịch nông thôn được công nhận sản phẩm OCOP 3 sao (Khu du lịch cộng đồng Anor tại A Lưới, Du lịch sinh thái gắn với tài nguyên bản địa tại huyện Nam Đông, Du lịch sinh thái Suối Tiên tại huyện Phú Lộc, Dịch vụ du lịch công đồng Ngư Mỹ Thạnh). Năm 2024, lần đầu tiên tỉnh Thừa Thiên Huế có 01 sản phẩm được công nhận đạt chuẩn OCOP 5 sao: “Bún bò Huế, gia vị hoàn chỉnh”, đây là một trong 46 sản phẩm 5 sao của cả nước, là một trong số 10 địa phương có sản phẩm OCOP 5 sao trên toàn quốc.

7. Sản xuất công nghiệp

Dưới sự chỉ đạo quyết liệt của các cấp, các ngành trong việc triển khai các dự án công nghiệp trọng điểm, sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh có những dấu hiệu tích cực, các dự án mới đi vào hoạt động đã có đóng góp lớn cho tăng trưởng chung của ngành công nghiệp: dự án sản xuất ô tô Kim Long motor, dự án sản xuất găng tay Kanglongda. Bên cạnh đó, một số ngành công nghiệp chủ lực tiếp tục duy trì năng lực sản xuất: may mặc, chế biến gỗ. Nhờ vậy chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 12/2024 tăng 16,9% so với cùng kỳ, tính chung năm 2024 tăng 6,5% so với cùng kỳ.

Tháng 12 năm 2024, chỉ số sản xuất công nghiệp ước tính tăng 0,5% so tháng trước và tăng 16,9% so với cùng kỳ. Chia ra: khai khoáng tăng 9,5% so tháng trước và giảm 0,5% so với cùng kỳ; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,6% so tháng trước và tăng 23,2% so với cùng kỳ; sản xuất và phân phối điện, khí đốt giảm 4,6% so tháng trước và giảm 2,8% so với cùng kỳ; cung cấp nước và xử lý rác thải giảm 4,5% so tháng trước và tăng 11,7% so với cùng kỳ.

Chỉ số sản xuất công nghiệp quý IV ước tăng 13,9% so với cùng kỳ. Chia ra: khai khoáng giảm 6,3%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 14,5%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt giảm 2,0%; cung cấp nước và xử lý rác thải tăng 10,1%. Tính chung năm 2024 chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 6,5% so với cùng kỳ. Trong đó: khai khoáng tăng 1,7%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,9%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt giảm 2,8%; cấp nước và thu gom rác thải tăng 10,0%.

Các ngành công nghiệp cấp 4 có chỉ số sản xuất ước tăng khá so với cùng kỳnhư: sản xuất các loại bánh từ bột (+20,57%); may trang phục (5,42%); sản xuất vali, túi sách và các loại tương tự, sản xuất yên đệm (+35,09%); cưa, xẻ, bào gỗ và bảo quản gỗ (+14,56%); sản xuất sản phẩm từ plastic (+5,45%); sản xuất xe có động cơ có chỉ số tăng hơn 30,2 lần so với cùng kỳ; thu gom rác thải không độc hại (+46,81%)...

Bên cạnh những dấu hiệu tích cực của một số ngành sản xuất, hiện nay một số ngành sản xuất công nghiệp cấp 4 vẫn đang gặp nhiều khó khăn nên có chỉ số sản xuất công nghiệp giảm so với cùng kỳ: chế biến, bảo quản thuỷ sản và các sản phẩm từ thuỷ sản (-20,5%); sản xuất bia và mạch nha ủ men (-1,3%); in ấn (-5,5%); sản xuất giường tủ, bàn ghế (-15,3%); sản xuất xi măng, vôi, thạch cao (-7,9%); sản xuất và phân phối điện (-2,8%)…

Các sản phẩm công nghiệp ước năm 2024 tăng so với cùng kỳ như sau: đá xây dựng khác 1.019 nghìn m3 (+12,4%); bánh làm từ bột khác bảo quản được 3.916 tấn (+20,6%); túi xách 6,4 triệu cái (+42,8%); quần áo lót 365 triệu cái (+5,4%); giày, dép có đế hoặc mũ bằng da 122 đôi (+22,5%); vỏ bào, dăm gỗ 723 nghìn tấn (+14,6%); ô tô 1.836 chiếc (+22,8 lần)...

Các sản phẩm công nghiệp ước giảm so với cùng kỳ: tôm đông lạnh 4.827 tấn (-20,5%); dịch vụ sản xuất va ly, túi xách và các loại tương tự yên đệm 2.931 triệu đồng (-17,8%); sản phẩm in 796 triệu trang (-5,9%); gạch men 14,7 triệu m2 (-1,0%); xi măng 1.462 nghìn tấn (-10,5%); clanhke xi măng 1.631 nghìn tấn (-8,6%); ghế có khung bằng kim loại 117 nghìn chiếc (-3,3%); điện sản xuất 2.016 triệu KW (-5,0%)...

Chỉ số sử dụng lao động năm 2024 ước tăng 8,6% so với cùng kỳ. Trong đó một số ngành có chỉ số sử dụng lao động tăng như: sản xuất da và các sản phẩm có liên quan (+11,7%); sản xuất xe có động cơ (+7,9 lần); sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic (+2,7 lần); công nghiệp chế biến, chế tạo khác (+3,9%). Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số sử dụng lao động giảm đó là: sản xuất chế biến thực phẩm (-4,7%); sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất (-40,1%); sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (-5,7%); sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học (-8,6)...

8. Thương mại, dịch vụ

Tình hình thương mại dịch vụ năm 2024 trên địa bàn tỉnh tăng trưởng khá, sản phẩm hàng hóa và dịch vụ đa dạng đã đáp ứng được nhu cầu mua sắm của người dân. Trong năm, trên địa bàn tỉnh nhiều Lễ hội về văn hóa, thể thao và du lịch liên tiếp diễn ra: Lễ hội Mùa Xuân ‘‘Xuân cố đô” trải dài suốt 3 tháng đầu năm, bao gồm các lễ hội cung đình, lễ hội truyền thống, lễ hội dân gian đặc thù; dịp nghỉ lễ 30/4, 1/5 dài ngày và tháng 6 với điểm nhấn là Tuần lễ Festival nghệ thuật Quốc tế Huế 2024 (từ 7/6 – 12/6) với chủ đề "Di sản văn hóa với hội nhập và phát triển”; từ tháng 7 đến tháng 9 diễn ra Lễ hội mùa Thu “Huế vào thu” với Chương trình Tết Trung thu với Hội đèn lồng Huế 2024 cho du khách trải nghiệm tết Trung thu truyền thống, giới thiệu những nét đẹp trong văn hóa chơi Trung Thu của người Việt; các chương trình trong kỳ nghỉ lễ Quốc khánh 2/9; Lễ hội mùa Đông (tháng 10-12);... Ngoài ra, trong dịp lễ giải phóng Thừa Thiên Huế 26/3/2024 chuyến tàu du lịch nối Huế - Đà Nẵng mang tên "Kết nối di sản miền Trung" được khai trương giúp du khách trải nghiệm các chương trình văn nghệ, văn hóa và ẩm thực kết hợp với tham quan cung đường qua đèo Hải Vân. Những năng lực tăng thêm mới trong năm như: Trung tâm thương mại Aeon Mall, Lăng cô Bay Retreat,.. đã góp phần đẩy mạnh hoạt động thương mại, dịch vụ trên địa bàn tỉnh. 

Kết quả hoạt động thương mại, dịch vụ và vận tải trên địa bàn tỉnh tháng 12 và năm 2024 ước đạt như sau:

8.1. Bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Hoạt động bán lẻ, dịch vụ, du lịch trên địa bàn trong năm 2024 phục hồi tích cực. Các chương trình kích cầu tiêu dùng, khuyến mãi diễn ra sôi động, mạng lưới kinh doanh đa nền tảng phát triển giúp tiếp cận được nhiều khách hàng và tăng doanh thu.

Nhằm chuẩn bị cho các sự kiện lớn vào cuối năm 2024 và Tết Nguyên đán sắp đến, tỉnh đã đề ra nhiều giải pháp nhằm cân đối cung cầu, bình ổn thị trường; tăng cường công tác bảo đảm an ninh, trật tự, bảo vệ tuyệt đối an toàn các sự kiện chính trị, lễ hội lớn sắp đến. Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 12/2024 đạt 5.226,8 tỷ đồng, tăng 3,3% so với tháng trước và tăng 17,8% so với cùng kỳ. Xét theo ngành hàng, doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 12/2024 ước đạt 3.607,8 tỷ đồng, chiếm 69,0% trong tổng số, tăng 2,9% so với tháng trước và tăng 12,7% so với cùng kỳ. Doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống tháng 12/2024 đạt 1.067,8 tỷ đồng, chiếm 20,4% trong tổng số, tương ứng tăng 4,0% và tăng 30,1%; doanh thu dịch vụ du lịch lữ hành là 33,5 tỷ đồng, chiếm 0,6%, tăng 4,4% và tăng 38,1%; doanh thu dịch vụ khác là 517,6 tỷ đồng, chiếm 9,9%, tăng 4,3% và tăng 31,5%. 

Dự ước tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng quý IV/2024 đạt 15.247,9 tỷ đồng, tăng 18,0% so với cùng kỳ, trong đó, doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 10.553,8 tỷ đồng, tăng 13,0%; dịch vụ lưu trú và ăn uống đạt 3.093,4 tỷ đồng, tăng 31,1%; doanh thu dịch vụ du lịch lữ hành là 96,1 tỷ đồng, tăng 27,7%; dịch vụ khác đạt 1.504,6 tỷ đồng, tăng 31,2%. Đưa tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2024 ước đạt 57.569,2 tỷ đồng, tăng 15,3% so với năm trước. Trong đó: bán lẻ hàng hóa đạt 40.753,6 tỷ đồng, chiếm 70,8% tổng số và tăng 12,4%; dịch vụ lưu trú và ăn uống 11.504,1 tỷ đồng, chiếm 20,0% và tăng 21,5%; du lịch lữ hành 348,9 tỷ đồng, chiếm 0,6% và tăng 23,6%; dịch vụ khác 4.962,6 tỷ đồng, chiếm 8,6% và tăng 26,7%.

8.2. Vận tải hành khách và hàng hóa

Năm 2024, hoạt động vận tải tăng khá do nhu cầu đi lại vui chơi, du lịch, nghỉ ngơi của người dân và khách du lịch tăng, đặc biệt là những ngày cuối tuần, dịp lễ, tết, tuần lễ Festival Huế 2024; vận tải hàng hóa đạt kết quả tích cực do tỉnh tập trung nguồn lực nhằm xây dựng tỉnh trở thành đô thị trực thuộc Trung ương nên nhiều dự án được đầu tư, nhờ vậy nhu cầu vận tải nguyên, vật liệu, thiết bị phục vụ tăng mạnh.

Tháng 12/2024, trời mưa lạnh nên nhu cầu sử dụng các phương tiện công cộng của người dân tăng, đồng thời tháng này là dịp lễ Giáng sinh, Tết Dương lịch 2025 và là tháng giáp tết Nguyên đán, hoạt động vận tải dự báo sẽ hết sức sôi động, là thời điểm “vàng” của hoạt động vận tải trong việc vận chuyển, cung ứng hàng hóa ra thị trường. Dự ước hành khách vận chuyển tháng 12 năm 2024 ước đạt 3,3 triệu hành khách, tăng 2,9% so với tháng trước và tăng 15,6% so với cùng kỳ; hành khách luân chuyển đạt 157,9 triệu hành khách.km, tăng 3,0% so với tháng trước và tăng 12,7% so với cùng kỳ. 

Dự ước vận tải hành khách quý IV/2024 đạt 9,6 triệu hành khách, tăng 14,9% và 464,1 triệu hành khách.km, tăng 11,6% so với cùng kỳ. Đưa hành khách vận chuyển cả năm 2024 ước đạt 36,9 triệu khách, tăng 16,5% và 1.805,3 triệu hành khách.km, tăng 12,3% so với cùng kỳ, bao gồm: vận tải hành khách đường bộ ước đạt 36,0 triệu hành khách, tăng 16,4% và 1.801,6 triệu hành khách.km, tăng 12,3%; đường sông đạt 0,8 triệu hành khách, tăng 19,9% và 3,7 triệu hành khách.km, tăng 19,8%.

Dự ước hàng hóa vận chuyển tháng 12/2024 ước đạt 2,0 triệu tấn, tăng 4,4% so với tháng trước và tăng 9,6% so với cùng kỳ; hàng hóa luân chuyển đạt 169,4 triệu tấn.km, tăng 4,1% so với tháng trước và tăng 11,2% so với cùng kỳ. Dự ước vận tải hàng hóa quý IV/2024 đạt 5,9 triệu tấn, tăng 9,1% và 495,5 triệu tấn.km, tăng 10,7% so với cùng kỳ. Đưa hàng hóa vận chuyển năm 2024 ước đạt 23 triệu tấn, tăng 13,2% và 1.903,8 triệu tấn.km, tăng 11,5% so với cùng kỳ.

Dự ước doanh thu vận tải, bốc xếp tháng 12/2024 đạt 479,6 tỷ đồng, tăng 4,5% so với tháng trước và tăng 14,4% so với cùng kỳ. Doanh thu vận tải, bốc xếp quý IV/2024 ước đạt 1.398,6 tỷ đồng, tăng 12,7% so với cùng kỳ. Đưa doanh thu vận tải, bốc xếp cả năm 2024 ước đạt 5.366,7 tỷ đồng, tăng 14,9% so với cùng kỳ. Chia theo loại hình dịch vụ vận tải: Vận tải hành khách đạt 1.125,1 tỷ đồng, tăng 14,9%; vận tải hàng hóa đạt 3.808,5 tỷ đồng, tăng 13,0%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 401,3 tỷ đồng, tăng 36,7%; bưu chính chuyển phát 31,8 tỷ đồng, tăng 11,3%. Trong đó doanh thu vận tải gồm: Đường bộ đạt 4.928,6 tỷ đồng, tăng 13,4%; đường sông đạt 5 tỷ đồng, tăng 20,8%.

8.3. Lượt khách các cơ sở lưu trú phục vụ và du lịch lữ hành 

Trong năm 2024 ngành du lịch địa phương đã tổ chức nhiều hoạt động trong chương trình Festival bốn mùa Huế 2024, chủ đề “Di sản Văn hóa với hội nhập và phát triển” với nhiều chương trình lễ hội đặc sắc, hấp dẫn đã thu hút du khách trong và ngoài nước đến tham quan, du lịch và trải nghiệm tại Cố Đô Huế, qua đó kích cầu phát triển ngành du lịch của địa phương.

Tháng 12/2024 diễn ra nhiều hoạt động sôi nổi như Giáng sinh, chương trình Countdown đón năm mới 2025, đặc biệt là sự kiện đón nhận Huế trở thành thành phố trực thuộc Trung ương với nhiều chương trình văn hóa, văn nghệ diễn ra thu hút nhiều lượt khách du lịch đến Huế. Dự ước lượt khách do cơ sở lưu trú phục vụ tháng 12/2024 đạt 199,5 nghìn lượt khách, tăng 6,3% so với tháng trước và tăng 21,3% so với cùng kỳ. Trong đó, lượt khách ngủ qua đêm tháng 12/2024 ước đạt 165,7 nghìn lượt khách, tăng 6,1% so với tháng trước và tăng 26,1% so với cùng kỳ; lượt khách trong ngày đạt 33,9 nghìn lượt khách, tăng 7,4% so với tháng trước và tăng 2,5% so với cùng kỳ. Dự ước lượt khách do cơ sở lưu trú phục vụ quý IV/2024 đạt 543,3 nghìn lượt khách, giảm 2,9% so với quý trước và tăng 20,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, lượt khách ngủ qua đêm quý IV/2024 ước đạt 446,3 nghìn lượt khách, giảm 0,2% so với quý trước và tăng 25,0% so với cùng kỳ; lượt khách trong ngày đạt 97 nghìn lượt khách, giảm 13,5% so với quý trước và tăng 4,7% so với cùng kỳ.

Tính chung năm 2024, lượt khách do các cơ sở lưu trú phục vụ ước đạt 2.083,9 nghìn lượt, tăng 18,8% so với cùng kỳ. Trong đó, lượt khách ngủ qua đêm cả năm 2024 ước đạt 1.677,6 nghìn lượt, tăng 20,7% so cùng kỳ. Trong lượt khách ngủ qua đêm, khách quốc tế 666,5 nghìn lượt, tăng 19,9%; khách trong nước 1.011,1 nghìn lượt, tăng 19,8% so với cùng kỳ. Lượt khách trong ngày cả năm 2024 đạt 406,3 nghìn lượt, tăng 11,7% so với cùng kỳ.

Ngày khách dự ước tháng 12/2024 đạt 281 nghìn ngày, tăng 6,5% so với tháng trước và tăng 26,1% so với cùng kỳ. Trong đó: Ngày khách quốc tế đạt 125,2 nghìn ngày, tăng 10,3% so với tháng trước và tăng 13,3% so với cùng kỳ; ngày khách trong nước đạt 155,8 nghìn ngày, tăng 3,7% so với tháng trước và tăng 38,8 % so với cùng kỳ. Ngày khách dự ước quý IV/2024 là 756,6 nghìn ngày, giảm 0,7% so với quý trước và tăng 23,0% so với cùng kỳ; trong đó ngày khách quốc tế ước đạt 323,9 nghìn ngày, tăng 33,1% so với tháng trước và tăng 7,7% so với cùng kỳ. Tính chung năm 2024, ngày khách lưu trú ước đạt 2.848,6 nghìn ngày, tăng 18,7% so với cùng kỳ. Trong đó: Ngày khách quốc tế đạt 1.181,1 nghìn ngày, tăng 19,9%; ngày khách trong nước đạt 1.667,5 nghìn ngày, tăng 17,8%.

Lượt khách phục vụ của các cơ sở lữ hành thực hiện tháng 12/2024 ước đạt 17,1 nghìn lượt, tăng 4,8% với tháng trước và tăng 46,7% so với cùng kỳ. Lượt khách du lịch quý IV/2024 ước đạt 48,2 nghìn lượt khách, tăng 35,4% so với cùng kỳ. Tính chung năm 2024 lượt khách phục vụ của các cơ sở lữ hành ước đạt 203,1 nghìn lượt, tăng 19,8% so với cùng kỳ. 

Ngày khách theo tour ước thực hiện tháng 12/2024 là 37,7 nghìn ngày, tăng 5,2% so với tháng trước và tăng 30,9% so với cùng kỳ. Ngày khách theo tour quý IV/2024 ước đạt 108,6 nghìn ngày khách, tăng 22,1%. Tính chung ngày khách theo tour cả năm 2024 ước đạt 429,5 nghìn ngày khách, tăng 16,7%.

9. Các vấn đề xã hội

9.1. Giải quyết việc làm

Ước tính năm 2024, giải quyết việc làm cho 17.398 người lao động, đạt 102,0% so với kế hoạch; trong đó có 2.362 người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, đạt 115,2% so với kế hoạch. Đến nay, đã hỗ trợ kinh phí đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đối với 417 lao động với tổng số tiền 1,7 tỷ đồng.

Chính sách giải quyết chế độ bảo hiểm thất nghiệp tiếp tục được quan tâm kịp thời, số người nộp hồ sơ 11 tháng đầu năm 2024 là 9.223 người, giảm 8% so với cùng kỳ năm 2023 (10.022 người). Số người có quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp 9.117 người, giảm 7% (9.797 người); số tiền chi trả 164,6 tỷ đồng, giảm 2% (168,19 tỷ đồng) so với cùng kỳ năm 2023. Số người được hỗ trợ học nghề 1.088 người, tăng 33,2% so với cùng kỳ năm 2023 (817 người); số tiền chi trả 5,29 tỷ đồng.

9.2. Đời sống dân cư

Năm 2024, kinh tế tỉnh đạt mức tăng trưởng khá, hoạt động sản xuất kinh doanh các ngành kinh tế phát triển, nhiều doanh nghiệp lớn mới đi vào hoạt động đã giải quyết được nhiều việc làm cho người lao động, tăng thu nhập cho người lao động. Bên cạnh đó, thời điểm 01/7/2024 những người hưởng lương từ ngân sách nhà nước được tăng lương, tăng 30% mức lương cơ bản đối với người đang làm việc, điều chỉnh tăng thêm 15% trên mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng. Nhờ vậy đời sống của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, người hưởng lương hưu từng bước cải thiện. 

Tổng hợp kết quả khảo sát mức sống dân cư các kỳ của năm 2024, thu nhập bình quân đầu người của tỉnh tăng khoảng 11% so cùng kỳ. Đặc điểm nổi bật của năm nay là không có thiên tai lớn xảy ra trên địa bàn tỉnh nên sản xuất kinh doanh của hầu hết các ngành nghề diễn ra trong điều kiện thời tiết thuận lợi. Nhờ vậy khu vực nông thôn, sản xuất nông nghiệp gặp điều kiện thuận lợi nên năng suất, sản lượng một số cây trồng chủ yếu tăng so với năm trước, không xảy ra dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm. Vụ lúa đông xuân và hè thu năm nay được mùa, được giá, bên cạnh đó giá phân bón giảm nên trồng lúa năm nay đạt hiệu quả cao, là động lực lớn cho người nông dân, góp phần nâng cao đời sống của người dân ở khu vực nông nghiệp nông thôn. 

9.3. Chính sách - xã hội 

Chính sách người có công: Chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng được thực hiện kịp thời và đầy đủ; các hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa”, “Uống nước nhớ nguồn” được quan tâm; phối hợp, tham mưu, hướng dẫn, tổ chức công tác thăm hỏi, tặng quà người có công nhân dịp Tết Nguyên đán Giáp Thìn 2024. Có 62.264 suất quà của các cấp được trao tặng đến người có công và gia đình người có công với tổng kinh phí hơn 18,3 tỷ đồng. 

Bảo trợ xã hội: Công tác bảo trợ xã hội được chính quyền địa phương và các ngành quan tâm thực hiện. Hỗ trợ cho người có công và thân nhân của người có công với cách mạng lũy kế năm 2024 là 383,7 tỷ đồng, tăng 20,4% so năm 2024. Hỗ trợ cho các đối tượng bảo trợ xã hội theo Nghị định 20/2021/NĐ-CP trong năm 2024 là 456,2 tỷ đồng, tăng 16,8%. Hỗ trợ cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn, hộ chính sách xã hội khác trong năm 2024 là 37,6 tỷ đồng, tăng 1,7%. Cấp phát miễn phí thẻ bảo hiểm y tế tại địa phương quý IV/2024 là 335.041 thẻ, tăng 1% so với quý IV/2023.

Công tác giảm nghèo: Thực hiện kế hoạch số 03/KH-UBND ngày 03/01/2024 của UBND tỉnh về công tác giảm nghèo bền vững năm 2024; năm 2024, tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh giảm còn 1,76% về đích sớm trước 01 năm so với mục tiêu giảm nghèo của Nghị quyết số 11-NQ-TU ngày 03/11/2021 của Tỉnh ủy về giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025 trên địa bàn tỉnh là “phấn đấu đến cuối năm 2025, tỷ lệ hộ nghèo bình quân toàn tỉnh giảm còn 2,0%-2,2%”. Các chính sách giảm nghèo và an sinh xã hội đã bao phủ hầu hết các lĩnh vực đời sống của người nghèo, đạt được những kết quả tích cực trong thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững, cải thiện các chỉ số thiếu hụt về các dịch vụ xã hội cơ bản, góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo qua các năm. 

9.4. Giáo dục và đào tạo

Năm học 2024-2025, toàn ngành giáo dục tiếp tục thực hiện hiệu quả chương trình giáo dục mới, các trường trong tỉnh đã hoàn thành biên chế lớp học các lớp đầu cấp; thực hiện tốt công tác vận động học sinh đến lớp. Tập trung triển khai hiệu quả chương trình giáo dục phổ thông đối với các lớp, đặc biệt với các lớp cuối cấp lớp 5, 9, 12; tăng cường đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá tích cực theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh.

* Giáo dục phổ thông: Năm học 2024-2025, toàn tỉnh có 16.183 học sinh đăng ký thi tuyển vào lớp 10, trong đó có 2.411 học sinh thi vào trường THPT chuyên Quốc Học. Số thí sinh đăng ký vào lớp 6 trường THCS Nguyễn Tri Phương là 1.575 em, chỉ tiêu tuyển sinh của trường là 360 em. Thời gian thi tuyển vào lớp 10 từ ngày 02/6 đến 04/6/2024, thi vào trường THCS Nguyễn Tri Phương vào ngày 03/6/2024. Kỳ thi năm nay cơ bản giữ ổn định như năm 2023.

Kỳ thi học sinh giỏi THPT quốc gia có 74 giải/93 học sinh dự thi, gồm 3 giải Nhất, 20 giải Nhì, 22 giải Ba và 29 giải Khuyến khích. Trong đó, có 07 học sinh được chọn vào đội dự tuyển thi quốc tế; 01 học sinh đoạt Huy chương Bạc Olympic Sinh học Quốc tế lần thứ 35 (IBO 2024). Sự kiện nổi bật tháng 10/2024 là học sinh Võ Quang Phú Đức, đại diện của Trường THPT chuyên Quốc Học Huế xuất sắc giành vòng nguyệt quế tại cuộc thi Đường lên đỉnh Olympia năm thứ 24. 

Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2024 diễn ra từ ngày 26-28/6/2024. Toàn tỉnh có 12.846 thí sinh đăng ký dự thi (trong đó thí sinh tự do 601); hội đồng thi gồm có 37 điểm thi với 567 phòng thi; điều động 2.302 cán bộ, giáo viên, nhân viên làm công tác coi thi. Kỳ thi diễn ra nghiêm túc, an toàn và đúng quy chế. 

* Giáo dục nghề nghiệp: Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh đã tuyển sinh 15.803 người (đạt 92,96% so với chỉ tiêu kế hoạch năm), trong đó, trình độ cao đẳng, trung cấp (4.207 người), sơ cấp và các chương trình đào tạo nghề khác (11.796 người). Số học sinh đã tốt nghiệp 10.018 người (cao đẳng, trung cấp: 2.258 người; sơ cấp và các chương trình đào tạo nghề khác 7.760 người). 

Năm học 2024-2025, Đại học Huế có 13.352 sinh viên nhập học theo nguyện vọng, tăng 1.998 sinh viên, tăng 15,6% so với năm học trước; phần lớn số lượng sinh viên của các trường đại học và khoa thuộc Đại học Huế tăng so với năm học trước.

9.5. Hoạt động văn hóa, thể thao

Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”; tiếp tục xây dựng đời sống văn hóa vùng sâu, vùng xa, vùng ven biển, đầm phá, vùng miền núi và đồng bào dân tộc thiểu số. Đến nay, trên địa bàn toàn tỉnh có 1.103 khu dân cư, trong đó đã công nhận đạt chuẩn văn hóa 964, đạt tỷ lệ 87,4%. Có 285.561/298.423 gia đình được công nhận đạt chuẩn, đạt tỷ lệ 95,7% (so với tổng số gia đình đăng ký xây dựng gia đình văn hoá). 

Năm 2024, các vận động viên thể thao của tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia thi đấu các giải thể thao quốc gia, quốc tế đạt 582 huy chương các loại: 157 HCV, 152 HCB, 273 HCĐ trong đó có 35 huy chương quốc tế (14HCV, 11HCB, 10 HCĐ).

Tổ chức và phối hợp tổ chức các giải thể thao: Giải vô địch đá cầu cá nhân toàn quốc; giải vô địch cung thủ xuất sắc quốc gia; giải bơi, lặn vô địch quốc gia (bể 25m); giải đua xe đạp toàn quốc tranh Cúp Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ 36 năm 2024 "Non sông liền một dải - Niềm tin chiến thắng"; giải vô địch cầu lông đồng đội nam nữ hỗn hợp quốc gia; giải chạy VnExpress Marathon Huế 2024; giải bóng đá hạng nhất quốc gia mùa giải 2023 - 2024; giải cầu lông các cây vợt thiếu niên, trẻ xuất sắc quốc gia; giải vô địch đá cầu Châu Á và vô địch đá cầu trẻ Châu Á lần thứ 2; Vòng loại Bảng C - giải bóng đá vô địch U15 quốc gia năm 2024; giải vô địch bóng rổ 5x5 U20 quốc gia; các môn thể thao trong ngày hội văn hóa, thể thao và du lịch các dân tộc miền núi tỉnh Thừa Thiên Huế XV.

9.6. Tình hình cháy nổ và bảo vệ môi trường

Trong tháng 12/2024 trên địa bàn tỉnh xảy ra 2 vụ cháy nhà dân, thiệt hại ước tính khoảng 85 triệu đồng, không có thiệt hại về người; tăng 1 vụ so với cùng kỳ, tăng 1 vụ so với tháng trước. Tính chung năm 2024 trên địa bàn tỉnh xảy ra 18 vụ cháy, giảm 10 vụ so với cùng kỳ; không có thiệt hại về người, thiệt hại khoảng 1,63 tỷ đồng.

Trong tháng 12/2024 trên địa bàn tỉnh phát hiện 9 vụ vi phạm môi trường, tăng 2 vụ so với cùng kỳ, bằng tháng trước. Trong đó thành phố Huế 4 vụ, huyện Phú Lộc 3 vụ, huyện Phong Điền 1, huyện Quảng Điền 1 vụ. Các hình thức vi phạm môi trường trong tháng gồm: 1 vụ xả nước thải vượt quy chuẩn kỹ thuật; 3 vụ sử dụng công cụ kích điện khai thác thủy sản; 4 vụ không chấp hành về bảo vệ môi trường, an toàn thực phẩm tại cơ sở kinh doanh; 1 vụ khai thác cát trái phép. Các ngành chức năng đã tiến hành xử lý 8 vụ với số tiền xử phạt 616,4 triệu đồng. Tính chung năm 2024, trên địa bàn tỉnh xảy ra 201 vụ vi phạm môi trường, giảm 35 vụ so với cùng kỳ; tiến hành xử lý 178 vụ với tổng số tiền phạt 1.783,2 triệu đồng.

Khái quát lại: Triển khai thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2024 bên cạnh những thuận lợi, địa phương phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức đan xen. Trước bối cảnh đó, lãnh đạo tỉnh đã tập trung chỉ đạo quyết liệt đề ra nhiều giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, đẩy nhanh mọi hoạt động sản xuất kinh doanh… Nhờ vậy tốc độ tăng trưởng kinh tế quý sau cao hơn quý trước, kinh tế nông nghiệp và nông thôn duy trì ổn định; một số sản phẩm công nghiệp chế biến chế tạo phục hồi, năng lực sản xuất mới phát huy hiệu quả đóng góp lớn cho tăng trưởng; thương mại, dịch vụ, du lịch tiếp tục phát triển, các chỉ tiêu về tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng, tổng lượt khách và doanh thu du lịch, doanh thu vận tải tăng khá; nhiều sự kiện, hoạt động quan trọng được tổ chức để quảng bá, xúc tiến đầu tư; hội nghị đối thoại với doanh nghiệp thường xuyên diễn ra để nắm bắt tình hình sản xuất, kinh doanh và kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp nhằm duy trì và từng bước phát triển sản xuất kinh doanh; văn hóa xã hội chuyển biến tích cực, chất lượng giáo dục, y tế được nâng cao; các chính sách an sinh xã hội, giảm nghèo được quan tâm.

Bên cạnh những thuận lợi và kết quả đạt được, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ phát triển kế hoạch kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh năm 2024 còn những tồn tại, hạn chế: kinh tế tăng trưởng khá nhưng chưa đạt mục tiêu đề ra; sản xuất nông nghiệp công nghệ cao triển khai còn chậm, quá trình canh tác còn phụ thuộc nhiều vào điều kiện thiên nhiên, chưa đáp ứng trong quá trình sản xuất; một số sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo chủ lực của tỉnh còn nhiều khó khăn do nhu cầu tiêu thụ giảm.

Dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế của tỉnh trong năm 2025 đạt 8,5%-9,5%, đây là mục tiêu tăng trưởng khá cao được đặt ra, trong khi ngành nông nghiệp ít có sự chuyển biến lớn, cơ bản ổn định lương thực trên địa bàn. Ngành công nghiệp tuy còn dư địa nhưng chủ yếu ở ngành sản xuất ô tô và sản xuất men frit, trong khi các ngành chủ lực ít có năng lực bổ sung mới và đã phát huy hết công suất của nhà máy, ngoài ra một số doanh nghiệp chủ chốt có tỷ trọng đóng góp lớn dự báo tiếp tục khó khăn như: sản xuất Bia, sản xuất xi măng...; Bên cạnh đó, ngành du lịch dịch vụ khó đạt mức tăng trưởng cao như thời kỳ hậu Covid, khả năng thu hút khách nước ngoài còn hạn chế, lượng khách du lịch nội địa đang ở mức cao. Do vậy để hoàn thành mục tiêu đặt ra, đòi hỏi sự nỗ lực, tập trung của các cấp, các ngành và địa phương phấn đấu khắc phục những tồn tại, hạn chế, đồng thời có các giải pháp kịp thời trong điều hành kinh tế xã hội ngay từ đầu năm, thường xuyên theo dõi diễn biến tình hình kinh tế thế giới và trong nước, bám sát kịch bản tăng trưởng để có những định hướng phù hợp đẩy mạnh sản xuất kinh doanh.